Những thương hiệu đắt giá nhất thế giới - Pdf 60

Những thương hiệu đắt giá nhất thế giới
Coca-Cola là thương hiệu đắt giá nhất thế giới năm 2009, với trị giá lên tới 68,7 tỷ USD, tăng 3% so với năm ngoái.
Đây là kết quả trong xếp hạng những thương hiệu có giá trị cao nhất thế giới do hãng tư vấn Interbrand thực hiện.
Theo Interbrand, giá trị tính toán được của các thương hiệu trong bảng xếp hạng chính là giá trị hiện tại thuần (net
present value - NPV) của lợi nhuận mà các thương hiệu đó được kỳ vọng sẽ đem về trong tương lai.
Sự phát triển mạnh mẽ của Coca-Cola trong suốt thời gian suy thoái này được Interbrand đánh giá cao và xem là yếu tố
quan trọng nhất đưa thương hiệu này vượt lên các thương hiệu khác trong bảng xếp hạng. Riêng trong năm 2008, Coca-
Cola đã giới thiệu 700 sản phẩm mới trên phạm vi toàn cầu.
“Coca-Cola không ngừng tập trung vào công tác marketing và đóng gói. Họ thực sự biết phải chăm sóc thương hiệu của
mình như thế nào”, ông Jez Frampton, Giám đốc điều hành (CEO) của Interbrand, nhận xét.
Trong suốt 9 năm qua, Coca-Cola luôn đứng đầu bảng xếp hạng 100 thương hiệu giá trị nhất thế giới do Interbrand thực
hiện. Năm nay, các vị trí còn lại trong top 10 của xếp hạng là IBM, Microsoft, GE, Nokia, McDonald's, Google,
Toyota, Intel và Disney.
Để lọt vào bảng xếp hạng này, một thương hiệu phải công khai các dữ liệu tài chính hiện có và phải đạt ít nhất 1/3 tổng
doanh thu từ các thị trường bên ngoài quốc gia xuất xứ của thương hiệu đó. Bởi vậy, một số thương hiệu lớn, chẳng hạn
như Wal-mart đã không lọt vào danh sách của Interbrand vì tỷ lệ doanh thu ở thị trường bên ngoài không đạt mức 1/3.
Theo Interbrand, suy thoái đã dẫn tới những thay đổi đáng kể trong bảng xếp hạng các thương hiệu có giá trị nhất thế
giới. Chẳng hạn, giá trị thương hiệu của Google năm nay đã tăng 25% so với năm ngoái, lên mức 32 tỷ USD.
“Google đã liên tục thăng hạng trong bảng xếp hạng của chúng tôi trong 3-4 năm qua”, Giám đốc điều hành (CEO)
Frampton của Interbrand nhận xét. Báo cáo của Interbrand đánh giá cao sự đa dạng trong lĩnh vực kinh doanh của
Google, với các mô hình quảng cáo mới, phần mềm điện thoại di động Android…
Một hãng công nghệ nữa cần nhắc tới trong xếp hạng của Interbrand là Amazon. Trong xếp hạng năm nay, hãng bán lẻ
trực tuyến này đã nhảy lên vị trí thứ 15, từ vị trí thứ 43 trong xếp hạng năm ngoái, một phần nhờ tình trạng khó khăn
của ngành bán lẻ phi trực tuyến trong thời gian suy thoái.
Tụt dốc thảm hại nhất trong xếp hạng của Interbrand là Ngân hàng UBS của Thụy Sỹ. Năm 2008, ngân hàng này lỗ tới
17 tỷ USD và mới đây, thiếu chút nữa thì bị các nhà chức trách Mỹ cho ra hầu tòa vì giúp các khách hàng giàu có trốn
thuế.
Theo Interbrand, giá trị thương hiệu của UBS năm nay đã giảm 50% so với năm ngoái, còn có 4,4 tỷ USD, đẩy UBS rơi
31 bậc, xuống vị trí thứ 72 trong bảng xếp hạng.
Một “đại gia” ngân hàng nữa là Citigroup cũng gặp khó. Định chế tài chính này đã chứng kiến giá trị thương hiệu của
họ sụt 49% trong xếp hạng của Interbrand, còn có 10,3 tỷ USD.

quốc hội năm 1990. Khi đảng của Angela Merkel sát nhập với Đảng liên minh dân chủ cơ đốc (Christlich
Demokratische Union Deutschlands - CDU). Ngay sau đó bà trở thành người phát ngôn cho cuộc bầu cử tự do đầu tiên
của CHDC Đức. Từ năm 1991 đến 1994 Merkel là bộ trưởng Phụ nữ và Thanh niên sau đó giữ cương vị bộ trưởng Môi
trường, bảo vệ thiên nhiên và hạt nhân. Năm 1998 bà trở thành Tổng thư ký đảng CDU sau đó trở thành chủ tịch đảng
(Vorsitzende) từ năm 2000. Hai năm sau Merkel trở thành chủ tịch của liên minh giữa Đảng dân chủ cơ đốc (CDU) với
Đảng Liên minh xã hội cơ đốc tại vùng Bayern (Christlich-Soziale Union in Bayern - CSU). Cuộc bầu cử năm 2005 đã
đưa bà trở thành thủ tướng của CHLB Đức [2].
Thành tích khoa học
Merkel cùng đồng nghiệp đã công bố hàng chục công trình nghiên cứu khoa học trên các tạp chí thuộc các lĩnh vực hóa
học, lý hóa, hóa lý. Hướng nghiên cứu chính của Merkel là ảnh hưởng của mối tương quan không gian đến phản ứng
hóa học của hệ khí và liên kết carbon-hydro trong gốc methyl. Đặc biệt vào năm 1998, khi đã giữ cương vị cao trong hệ
thống chính trị, bà đã có bài viết trên tạp chí Science nổi tiếng với nhan đề "Vai trò của khoa học trong phát triển bền
vững" - The Role of Science in Sustainable Development.
Năm 2007 bà được Đại học Hebrew (Jerusalem) trao bằng tiến sỹ danh dự. Năm tiếp theo (tháng 6 và tháng 11/2008)
hai đại học Leipzig (Đức) và Wrocław (Ba Lan) lần lượt trao bằng tiến sỹ danh dự cho bà.
Angela Merkel: Khoa học trong phát triển bền vững
Mở đầu bài viết trên Science, Angela Merkel đề cập đến những thách thức của loài người trong tương lai gần do bùng
nổ dân số, tăng nhu cầu năng lượng đặc biệt tại các nước công nghiệp mới nổi ở Châu Á và Mỹ la Tinh. Tăng trưởng về
kinh tế và nhu cầu cao về năng lượng tạo áp lực ngày càng lớn lên môi trường. Các vấn đề do con người tạo ra và phải
đối mặt như biến đổi khí hậu, phá hủy tầng ôzôn, mất rừng che phủ. Song hành với biến đổi theo chiều hướng xấu của
môi trường là sự sút giảm về điều kiện xã hội ở các nước đang phát triển.

Thủ tướng Merkel thăm Green Land ngày 16 tháng 8 năm 2007. Nguồn: www.greẹnlandcom
Ước tính hơn một tỷ người sống trong điều kiện nghèo khổ, thiếu hoặc không có lương thực và nước sạch, không được
tiếp cận với giáo dục và các vấn đề chính trị. Thị trường tài chính và nền kinh tế toàn cầu ngày càng khiến các nền kinh
tế liên kết và phụ thuộc lẫn nhau và có thể gọi là "làng toàn cầu: global village".
Mục tiêu của thế kỷ 21 là phát triển bền vững: phát triển đi đôi với bảo vệ môi trường; sử dụng tài nguyên thiên nhiên
không được vượt quá khả năng tái tạo; lượng chất thải không thể lớn hơn tốc độ đồng hóa của tự nhiên.
Để đạt được mục tiêu này các nước phát triển phải nhận lấy trách nhiệm đặc biệt, không chỉ vì những tác động họ tạo ta
trong quá khứ mà còn do những công nghệ hiện tại cùng nguồn tài chính có thể được huy động. Sản xuất và tiêu dùng

Chính sách khoa học
Chính phủ dưới thời Merkel luôn tăng nguồn tài chính giành cho nghiên cứu mặc dù chịu ảnh hưởng của khủng hoảng
tài chính. Ước tính 10 tỷ EURO được chi cho khoa học trong năm 2009 chiếm khoảng 2,5% tổng sản phẩm quốc nội,
đưa Đức đến vị trí thứ 9 trên thế giới về đầu tư cho khoa học công nghệ.

Chi phí cho khoa học ở Đức từ năm 2005 đến 2009 (đơn vị tỷ EURO. Nguồn Naturenews
Tháng 6 vừa qua khoản ngân sách tới 18 tỷ EURO được duyệt nhằm mục đích tăng năng lực nghiên cứu của các trường
trong hệ thống đại học thuộc 16 bang.
Công nghệ sinh học, công nghệ môi trường, nghiên cứu năng lượng và y học được đầu tư thêm 14 tỷ EURO từ chưong
trình công nghệ cao bắt đâu từ năm 2006. Nhờ sự ủng hộ rộng rãi của xã hội, Đức trở thành nước dẫn đầu thế giới về
công nghệ xanh với các tua bin sử dụng sức gió và năng lượng mặt trời. Tháng 8/2009 một kế hoạch đưa 1 triệu
phưong tiện dùng năng lượng điện vào năm 2020 được thông qua. Để thực hiện kế hoạch này, gói ngân sách 500 triệu
EURO được chi cho các nghiên cứu chế tại pin và các trạm "sạc" trong hệ thống phục vụ giao thông...
Khoa học trong cuộc bầu cử 2009 tại Đức
Trên thực tế những thay đổi trong chính sách khoa học được đưa ra bởi đảng dân chủ tự do (Freie Demokratische
Partei: FDP). Nếu đảng dân chủ tự do thay thế vị trí của đảng dân chủ xã hội (Sozialdemokratische Partei Deutschlands:
SPD) trong liên minh với đảng dân chủ cơ đốc sẽ dẫn đến những thã đổi lớn trong chính sách nghiên cứu của liên bang
do những khác nhau của các đảng về quan điểm trong nghiên cứu tế bào gốc và sinh vật biến đổi gene.
Kế hoạch liên minh của bà Merkel nhận được 50% ý kiến đồng tình trong cuộc thăm dò trước bầu cử trong khi trong
khi đảng dân chủ xã hội đối lập với ứng cử viên thủ tướng (ông Frank-Walter Steinmeier, hiện giữ chức bộ trưởng
ngoại giao) chỉ nhận được 20% (con số thấp kỷ lục trong lịch sử).
Hầu hết các "công dân làm khoa học" đều cho rằng bà Merkel sẽ duy trì chính sách cho khoa học nếu tái đắc cử. Ông
Matthias Kleiner, chủ tịch Hiệp hội nghiên cứu liên bang (Deutschen Forschungsgemeinschaft: DFG) cho rằng "thật hài
lòng khi các nhà chính trị tin tưởng đặt niềm tin vào khoa học" và "đó cũng là trách nhiệm buộc các nhà khoa học phải
làm việc tận tâm để đáp ứng niềm tin và kỳ vọng của xã hội."[4].
Nếu đảng dân chủ tự do liên minh với đảng của bà Merkel họ sẽ dùng ảnh hưởng để hạn chế áp lực hiện tại từ xã hội
với các lĩnh vực nghiên cứu như tế bào gốc từ phôi và sinh vật biến đổi gene. Đảng này cũng cho rằng tình hình kinh tế
sẽ không cho phép tăng ngân sách lớn cho khoa học và công nghệ nhưng bù lại sẽ là những chính sách cởi mở trong
phát triển nghiên cứu.
Nếu liên minh thành công theo dự đoán, vị trí bộ trưởng khoa học sẽ thuộc về đảng dân chủ tự do FDP và nguồn tài

phiếu của Hathaway tăng 6% giá trị. Trong đợt tranh cử của Tổng thống Mỹ vừa rồi, ông Barack Obama nhận được
nhiều lời khuyên giá trị và hỗ trợ về tài chính từ Warren Buffett. Ảnh: AP
5. Vagit Alekperov - Tập đoàn Lukoil
Alekperov từng là công nhân tại nhà máy dầu mỏ Caspian Sea, và bây giờ trở thành Chủ tịch của tập đoàn Lukoil, công
ty năng lượng hàng đầu ở Nga. Dự trữ dầu của tập đoàn này đứng thứ hai thế giới chỉ sau ExxonMobil. Ông là bạn của
Thủ tướng Nga Vladimir Putin, người đã từng đề nghị điện Kremlin miễn thuế cho các công ty dầu lửa. Ảnh: AP
6. Carlos Slim Helu - Tập đoàn viễn thông America Movil
Là con trai của một di dân Libăng, Calos Slim Helu trở thành người giàu thứ hai thế giới trong năm 2008. Công ty
Telmex của ông thống trị tới 90% mạng lưới điện thoại tại Mexico. Mạng di động America Movil có tới 173 triệu thuê
bao tại các nước Mỹ Latin. Carlos Slim Helu vừa là một fan của môn bóng bầu dục, vừa là người sưu tập tác phẩm
nghệ thuật, đồng thời cũng là nhà đầu tư đa tài trong các lĩnh vực xây dựng, bán lẻ, ngân hàng, đường sắt, khai thác mỏ
và truyền thông. Ông còn có 6,9% cổ phần trong tờ báo The New York Times. Ảnh: AP
7. Mukesh Ambani - Công ty hóa dầu Reliance Industries
Cai quản nhà máy hóa dầu khổng lổ Reliance Industries, công ty lớn nhất trên sàn chứng khoán Ấn Độ, Ambani sản
xuất ra dầu, gaz, và cả sản phẩm dệt. Ông từng tự bỏ tiền túi ra đầu tư xây dựng một tòa nhà 27 tầng tại Mumbai trị giá
2 tỷ USD. Cũng với người anh trai Anil, ông được thừa hưởng gia sản từ cha mình là nhà tài phiệt Dhirubhai Ambani.
Tuy nhiên hai anh em không hòa hợp với nhau lắm nên mẹ của họ đã đứng ra phân chia tài sản thừa kế vào năm 2005.
Ảnh: AP
8. Anh em Charles và David Koch - Tập đoàn Koch Industries
Hai anh em đã biến công ty lọc dầu của gia đình trở thành tập đoàn tư nhân lớn thứ hai nước Mỹ. Koch Industries có cố
phẩn tại rất nhiều lĩnh vực: đường ống dẫn dầu, lọc dầu, phân bón, vật liệu, trồng rừng, sản phẩm tiêu dùng, công nghệ
hóa học. Năm 2008 doanh thu của Koch Industries là 110 tỷ USD. Hai anh em nhà Kock mỗi người nắm 42% cổ phần
trong tập đoàn Kock, có trong tay 80.000 nhân viên, hoạt động tại 60 quốc gia trên thế giới. Năm 2007. David Kock
tặng 100 triệu USD cho việc nghiên cứu chữa bệnh ung thư. Năm 2008 ông tiếp tục hiến tặng 100 triệu USD cho
Lincoln Center tại New York. Ảnh: AP
9. Bill Gates - Quỹ Bill & Melinda Gates, Tập đoàn Microsoft


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status