Nghiên cứu thành phần loài mối (insecta isoptera) và đề xuất biện pháp phòng trừ loài gây hại chính cho di tích cố đô huế, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 60

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------

Lê Quang Thịnh

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI MỐI (INSECTA:
ISOPTERA) VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ LOÀI GÂY HẠI
CHÍNH CHO DI TÍCH CỐ ĐÔ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Hà Nội – 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------

Lê Quang Thịnh

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI MỐI (INSECTA:
ISOPTERA) VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ LOÀI GÂY HẠI
CHÍNH CHO DI TÍCH CỐ ĐÔ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Chuyên ngành: Động vật học
Mã số: 60 42 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

Lê Quang Thịnh


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƢƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU ............................. 4
1.1. Tình hình nghiên cứu mối trên thế giới ................................................. 4
1.2. Tình hình nghiên cứu mối ở Việt Nam ................................................. 11
1.3. Tình hình nghiên cứu mối ở Thừa Thiên Huế .................................... 19
CHƢƠNG II. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ................................................................................................ 22
2.1. Địa điểm nghiên cứu .............................................................................. 22
2.2. Vị trí địa lý, địa hình và đặc điểm tự nhiên khu di tích Cố đô Huế .. 23
2.2.1. Vị trí địa lý ......................................................................................... 24
2.2.2. Đặc điểm địa hình .............................................................................. 24
2.2.3. Khí hậu ............................................................................................... 25
2.2.4. Tiềm năng du lịch .............................................................................. 25
2.3. Thời gian nghiên cứu ............................................................................. 27
2.4. Nội dung nghiên cứu .............................................................................. 27
2.5. Phƣơng pháp nghiên cứu....................................................................... 27
2.5.1. Phương pháp khảo sát, điều tra, thu thập, xử lý và bảo quản mẫu vật
...................................................................................................................... 27
2.5.2. Phương pháp phân tích, định loại mẫu vật ........................................ 30


2.5.3. Phương pháp đánh giá mức độ gây hại của mối và xác định loài gây
hại chính ....................................................................................................... 30
2.5.4. Một số phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học của
mối Coptotermes .......................................................................................... 32

công trình di tích thuộc khu di tích Cố đô Huế ........................................ 68
3.4.2. Biện pháp đề xuất phòng trừ mối Coptotermes gestroi cho các công
trình di tích trong khu di tích Cố đô Huế ..................................................... 72
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 79
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang

Bảng 2.1

Các tiêu chí đánh giá dùng để xác định điểm số gây hại

31

của mối cho công trình di tích
Bảng 3.1

Thành phần loài mối trong khu di tích Cố đô Huế

35

Bảng 3.2

Cấu trúc thành phần các họ mối trong khu di tích Cố đô Huế

37



50

sinh cảnh công trình kiến trúc trong khu di tích Cố đô Huế
Bảng 3.8

Điểm số mức độ gây hại của các loài mối tại các điểm

52

nghiên cứu trong khu di tích Cố đô Huế
Bảng 3.9

Tỉ lệ % mối thợ, mối lính và mối non trong đàn mối

60

Coptotermes gestroi kiếm ăn
Bảng 3.10

Tỷ lệ % cá thể mối Coptotermes gestroi có thức ăn được
đánh dấu trong ruột trong tổng số 200 cá thể sau những
khoảng thời gian thí nghiệm khác nhau

62


DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang



Hình 3.1

Tỉ lệ % số lượng của 3 họ mối thu được trong khu di tích Cố đô

38

Huế
Hình 3.2

Tỉ lệ % số loài của các giống mối bắt gắp trong khu di tích Cố

38

đô Huế
Hình 3.3

Số lượng loài mối thu được tại các điểm nghiên cứu

42

Hình 3.4

Giao động của tỉ lệ % số lượng loài trong các họ mối tại các điểm

43

nghiên cứu
Hình 3.5




Hình 3.10

Tổ phụ rỗng của mối Coptotermes gestroi trong lăng Tự Đức

58

Hình 3.11

Một phần tổ mối Coptotermes gestroi thu được trong khu vực

59

Đại Nội
Hình 3.12

Giao động của tỉ lệ % các đẳng cấp ở đàn mối Coptotermes

61

gestroi kiếm ăn
Hình 3.13

Biến thiên tỷ lệ % cá thể mối Coptotermes gestroi có thức ăn

63

được đánh dấu trong ruột theo thời gian thí nghiệm
Hình 3.14

75

Hình 3.19

Một số hình ảnh sử dụng trạm nhử mối bằng plastic đặt dưới

75

đất xung quanh công trình
Hình 3.20

Hình ảnh trạm nhử mối bằng plastic đặt áp chân tường, xung

75

quanh công trình
Hình 3.21

Hình ảnh sử dụng trạm nhử mối bằng plastic đặt góc tường
công trình

75


MỞ ĐẦU

Mối là côn trùng xã hội, có sự phân hóa hình thái và chức năng giữa các
nhóm cá thể trong quần tộc. Trong một quần tộc mối có các đẳng cấp khác
nhau: mối vua, mối chúa, mối cánh, mối thợ, mối lính, mối non … Với khả
năng phân giải các sản phẩm có nguồn gốc từ xenlulose và là nguồn thức ăn

hoá do triều Nguyễn xây dựng trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ 19 đến
nửa đầu thế kỷ 20 trên địa bàn kinh đô Huế xưa; nay thuộc phạm vi thành
phố Huế và một vài vùng phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế. Phần lớn các di
tích thuộc sự quản lý của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và
được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới vào ngày 11 tháng
12 năm 1993. Hiện tại, Cố đô Huế đã được Thủ tướng Chính phủ đưa vào
danh sách xếp hạng 23 di tích Quốc gia đặc biệt. Quần thể di tích Cố đô Huế
được phân chia thành các cụm công trình bao gồm các cụm công trình ngoài
Kinh thành Huế và các cụm công trình trong Kinh thành Huế. Trong Kinh
thành Huế bao gồm Đại Nội và Thành Nội.
Các di tích trong khu di tích Cố đô Huế được cấu thành từ rất nhiều cấu
kiện bằng gỗ và các vật liệu có nguồn gốc xenlulose nên thường xuyên bị mối
xâm nhập gây hại. Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về thành
phần loài mối trong khu di tích Cố đô Huế. Tuy nhiên, những nghiên cứu này
còn nhiều hạn chế như chưa điều tra đầy đủ thành phần loài trong các công
trình thuộc khu di tích Cố đô Huế, chưa xác định được loài gây hại chính
cũng như chưa đánh giá được mức độ gây hại của chúng đối với các công
trình trong khu di tích Cố đô Huế…

2


Với nhận thức đó, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu
thành phần loài mối (Insecta: Isoptera) và đề xuất biện pháp phòng trừ loài
gây hại chính cho di tích Cố đô Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế” với nội dung chủ
yếu điều tra, khảo sát thành phần loài mối tại khu di tích Cố đô Huế, xác định
các loài mối gây hại chính và lựa chọn biện pháp phù hợp, có hiệu quả để
phòng trừ các loài mối gây hại chính cho khu di tích Cố đô Huế.
Vì điều kiện thời gian và khả năng hạn chế nên chắc chắn luận văn còn
nhiều điểm khiếm khuyết, rất mong nhận được sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến


4


số loài mối được phát hiện trên toàn thế giới là 2.858 loài, thuộc 286 giống
[57].
Trong gần 3.000 loài mối được phát hiện thì các loài mối thuộc giống
Coptotermes trong phân họ Coptotermitinae và các giống Macrotermes,
Odontotermes và Hypotermes trong phân họ Macrotermitinae là các taxon
quan trọng, có ý nghĩa kinh tế lớn trong đời sống.
Các danh mục thành phần loài của bộ Cánh đều hoặc của một họ mối
cho từng khu vực cũng lần lượt được công bố, phần lớn các công trình này
đều kèm theo khoá định loại riêng và mô tả cho từng loài. Ahmad (1958) [47]
đã nghiên cứu và phát hiện 397 loài thuộc 48 giống 4 họ trong khu hệ mối
Đông Phương; Năm 1965, tác giả nghiên cứu khu hệ mối ở Thái Lan và đã
phát hiện có 74 loài, 28 giống và 3 họ [48]. Tuy nhiên, đến 2004, Yupaporn
Sornnuwat đã tổng hợp các nghiên cứu về thành phần loài mối ở Thái Lan và
công bố có 199 loài [83].
Krishna (1965) [64] công bố thành phần loài mối tại Burma gồm 103
loài. Sen-Sarma (1974) [77] đã mô tả và ghi chú về phân bố địa lý của 20 loài
mối ở Pradesh, Ấn Độ. Thapa (1981) [82] đã tiến hành nghiên cứu mối ở
Malaysia. Những nghiên cứu mối ở khu vực Đông Phương về sau tập trung
vào các vấn đề phân loại học, địa động vật học cũng như vai trò đối với kinh
tế của từng họ hoặc phân họ, cụ thể như Thakur (1979, 1980) [80, 81] , tiến
hành nghiên cứu về mối gây hại cho cây rừng và các vườn ươm ở Ấn Độ.
Những nghiên cứu về phân loại cũng được tiến hành ở Bắc Kinh,
Thượng Hải và Quảng Châu. Gần đây nhất, Huang Fu Sheng và cs. (2000) đã
công bố thành phần loài mối ở Trung Quốc gồm có 476 loài, 44 giống và 4
họ, tất cả các loài đều có mô tả và có khóa định loại tới loài [62].


6


ruột sau, cấu tạo của hệ thống ống Malpighi để phân loại đến giống và lập cây
chủng loại phát sinh của chúng. Tài liệu này là công cụ hữu ích để giải quyết
một số trường hợp các mẫu phân loại có đặc điểm hình thái ngoài phân biệt
không rõ ràng. Belyaeva (2006) [53] sử dụng hình thái cấu tạo cơ quan sinh
dục ngoài của mối cái để phân biệt các loài thuộc họ Kalotermitidae,
Hodotermitidae và Termitidae. Schefffrahn và Nan-Yao Su (2011) [76] đưa ra
một số đặc điểm hình thái đặc trưng của mối lính và mối cánh để phân biệt 2
loài mối Coptotermes formosanus và Coptotermes gestroi.
Phương pháp phân loại dựa trên hình thái ngoài không đòi hỏi nhiều
trang thiết bị phức tạp và có thể được áp dụng rộng rãi. Tuy nhiên, trên thực
tế có thể có những loài mối đa hình thái, trong đó các cá thể mối cùng một
loài có nhiều dạng khác nhau nhưng các cá thể mối cánh vẫn có thể giao phối
với nhau do có sự tương đồng nhất định về nguồn gốc gen.
Cùng với sự phát triển của sinh học phân tử khi bước sang thế kỷ 21, có
nhiều tác giả đã sử dụng kỹ thuật ADN để xác định mức độ tương đồng về
gen giữa các cá thể có biến dị hình thái để xác định tương đồng loài. Mặt
khác, kỹ thuật này cũng cho phép phân loại một cách chính xác những loài có
hình thái giống nhau. Nghiên cứu của Alliens Szalanski và cs. (2004) đã sử
dụng ADN ti thể làm chỉ thị phân tử để phân loại và xây dựng cây phả hệ của
giống mối Heterotermes ở miền đông Ấn Độ. Chow - Yang Lee và cs. (2005)
[56] đã thẩm tra lại độ tin cậy của phân loại hình thái về các mẫu mối ở
Malaysia bằng cách phân tích phát sinh loài qua chuỗi gen Cytochrome
oxidase II (COII).
Aldrich và cs. (2007) [49] sử dụng phổ xạ sóng cận hồng ngoại (near
infrared) trên lớp hydrocarbon biểu bì để phân tích 4 loài thuộc giống
Zootermopsis và cho rằng phương pháp này có thể định loại nhanh chóng các


8


Coptotermes gestroi. Kết quả nghiên cứu của tác giả chứng minh rằng vùng nhiệt
đới và cận nhiệt đới là môi trường sống phù hợp hơn với loài Coptotermes gestroi.
Những kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái học đạt được
là cơ sở quan trọng để các nhà nghiên cứu đưa ra các biện pháp phòng trừ phù
hợp cho từng loài. Các nghiên cứu về phương pháp phòng trừ mối chủ yếu tập
trung theo một vài hướng sau: (i) hướng nghiên cứu sử dụng các phương pháp
vật lý; (ii) hướng nghiên cứu phòng trừ mối bằng biện pháp sinh học và (iii)
hướng nghiên cứu sử dụng hóa chất diệt mối, trong đó biện pháp sử dụng bả
diệt mối được quan tâm hơn cả bởi những ưu điểm vượt trội so với các biện
pháp khác.
Ở hướng nghiên cứu phòng trừ mối bằng cách sử dụng các phương pháp
vật lý đã có một loạt công bố được cấp bằng sáng chế. Theo Ragon (2007)
[68], các nghiên cứu chủ yếu sử dụng các biện pháp và thiết bị điện, điện từ
để bảo vệ các công trình tự nhiên hay công trình nhân tạo khỏi sự phá hại của
các đàn mối qua việc kiểm soát số lượng và hoạt động của chúng như phát
kiến số 5473386 của Liu; số 5442876 của Pederson và số 5210719 của
Lawrence. Theo Reo David (2003) [69], ứng dụng năng lượng sóng siêu âm
cũng đã được nghiên cứu trong xử lý mối như phát kiến số 5.575.106 của
Martin và cs.;

số 5.896.696 của Stockes và cs. và số 6.837.001 của

Amburgey và cs..
Phòng trừ mối bằng biện pháp sinh học là một hướng nghiên cứu mang
nhiều ý nghĩa và đang thu hút được rất nhiều nhà khoa học quan tâm trong
những năm gần đây, khi mà vấn đề về an toàn môi trường đang được đặt lên
hàng đầu. Trong hướng nghiên cứu này, lại được chia ra thành các nhánh như:

bảo vệ môi trường, biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM) sử dụng bả được
10


quan tâm đặc biệt. Biện pháp này dựa trên nguyên tắc duy trì mật độ của các
quần tộc mối ở dưới ngưỡng cho phép cho một khu vực kiểm soát.
Năm 2004, Nan-Yao Su thuộc trường Đại học Florida, Hòa Kỳ đã xây
dựng một chiếc lược quản lý mối Coptotermes cho cả bang New-Orlands,
Hoa Kỳ [79]. Kết quả cho thấy, mật độ mối Coptotermes trong đô thị giảm rõ
rệt và giành được rất nhiều sự đánh giá cao của các nhà quản lý do tiết giảm
kinh phí xử lý, công sức cũng như sự hư hại của các cấu kiện gỗ trong các
công trình. Trong chiến lược này, công tác kiểm soát mối Coptotermes gây
hại được theo dõi định kỳ qua các hệ thống trạm nhử có gắn thiết bị theo dõi.
Do vậy, mối Coptotermes gây hại bị xử lý kịp thời trước khi chúng gây ra bất
kỳ một tổn thất đáng kể nào. Cũng với chiến lược quản lý dịch hại như vậy,
Nan-Yao Su và cs. (2004) [79] đã áp dụng thành công ở Lauderhill, Florida,
Hoa Kỳ. Forschler và Jenkins (2000) [59] đã ứng dụng quy trình quản lý dịch
hại cho cả một vùng nông thôn ở Bắc Mỹ và tác giả đã kết luận rằng, sự thành
công của dự án chủ yếu là các nhờ ứng dụng các hệ thống trạm bả.
1.2. Tình hình nghiên cứu mối ở Việt Nam
Nghiên cứu về phân loại, khu hệ và đa dạng về mối ở Việt Nam được
Bathellier (1927) [52] là người công bố đầu tiên. Ông đã mô tả hình thái của
19 loài mối ở Đông Dương, trong đó có 18 loài có mặt ở Việt Nam.
Trong những năm đầu thế kỷ 20, các nghiên cứu mối tại Việt Nam chỉ
được tiến hành rất hạn chế bởi một số tác giả nước ngoài như: Bathellier
(1933); Caresch (1937); Alloward (1947), chủ yếu giới thiệu các bài thuốc
diệt mối, cách phòng trị mối cho cây trồng và công trình kiến trúc (dẫn theo
Nguyễn Đức Khảm và Vũ Văn Tuyển, 1985) [11].
Sau 1954, ở miền Bắc Việt Nam, đáng chú ý là công trình nghiên cứu
của Nguyễn Đức Khảm. Ông đã tiến hành nghiên cứu về khu hệ và đặc điểm

12


vùng nói trên, nêu rõ các loài gây hại chính và cấu trúc khoang tổ của chúng.
Đồng thời tác giả đã công bố thành phần mối ở môi trường xung quanh đập
của các vùng nghiên cứu.
Nguyễn Quốc Huy (2010) [8] nghiên cứu thành phần loài mối ở Tây
Nguyên. Tác giả đã xác định được 95 loài thuộc 26 giống của 8 phân họ trong
3 họ mối: Kalotermitidae, Rhinotermitidae và Termitidae. Trong danh sách 95
loài có 15 loài bổ sung thêm cho khu hệ mối Việt Nam và có 6 giống, 30 loài
được ghi nhận lần đầu cho khu hệ mối Tây Nguyên.
Phương pháp định loại mối tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa trên các đặc
điểm hình thái. Tuy nhiên, trong quá trình sinh trưởng, phát triển ở các điều
kiện sinh thái khác nhau, mối có những biến đổi về hình thái trong cùng một
loài. Vì vậy, sự sai khác về hình thái trong cùng một loài dễ làm cho các nhà
phân loại gặp khó khăn trong định loại dẫn đến nhầm lẫn, điển hình là việc
định loại 2 loài Coptotermes gestroi và Coptotermes formosanus [79].
Song song với việc nghiên cứu thành phần loài mối, các nghiên cứu về
mối còn tập trung nghiên cứu về sinh học, sinh thái học của các loài gây hại
chính làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp phòng trừ mối một cách hợp
lý và hiệu quả. Ngoài ra các điều tra nghiên cứu mối đã đi sâu vào từng nhóm
đối tượng bị hại riêng như: mối hại các công trình thuỷ lợi (đê, đập), mối hại
nhà cửa, kho tàng và mối hại cây trồng, hướng tới xác định thành phần loài
mối đặc trưng và các biện pháp phòng trừ phù hợp.
Nghiên cứu sớm nhất về đặc điểm sinh học, sinh thái học của mối ở
trong nước phải kể đến công trình của Bathellier (1927) [52], tác giả đã giới
thiệu về hình thức tổ chức của một tổ mối.
Cấu trúc tổ mối là đặc điểm rất quan trọng để xác định mức độ gây hại
của loài mối. Nguyễn Đức Khảm (1976) [10] đã mô tả cấu trúc tổ của 61 loài
13



và đề xuất biện pháp phòng trừ. Tác giả đã quan tâm nghiên cứu mối quan hệ
của các yếu tố cấu thành và duy trì cân bằng trong tổ mối như: Tỉ lệ đẳng cấp,
sự phân công lao động giữa các đẳng cấp trong quần tộc, quan hệ giữa mối và
nấm Termitomyces cộng sinh, từ đó định hướng cho công tác phòng trừ mối
Macrotermes đáp ứng với nhu cầu thực tế. Cụ thể là tác giả đã đề xuất bổ
sung biện pháp phòng trừ mối Macrotermes là sử dụng bả độc gây chết chậm,
ít độc cho môi trường, có thể lây truyền trong đàn mối, làm thay đổi tỷ lệ
thích hợp giữa mối và nấm, tạo điều kiện cho nấm lạ phát triển, dẫn đến thay
đổi vi khí hậu trong tổ mối theo hướng bất lợi đối với mối. Diệt mối bằng
cách kiềm chế hoặc diệt nấm Termitomyces trên vườn nấm thông qua việc sử
dụng các chất diệt nấm, gây nhiễu chu trình chế biến thức ăn của mối, cắt đứt
nguồn thức ăn của mối, nhất là mối thợ kiếm ăn. Đồng thời kích thích sự phát
triển nấm lạ vốn có trong vườn nấm, làm thay đổi vi khí hậu trong tổ mối. Tác
giả cũng đã đề nghị tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện phương pháp sử dụng
bả trong phòng chống mối có vườn cấy nấm nói chung và mối Macrotermes
nói riêng.
Trịnh Văn Hạnh (2008) [5] đã tiến hành nghiên cứu về tỉ lệ mối thợ, mối
lính trưởng thành và mối non ở các điều kiện, vị trí và trạng thái khác nhau
của tổ mối C. formosanus và cho biết, mối thợ trưởng thành của tổ mối C.
forrmosanus chỉ có một loại, chúng đảm nhận cả chức năng kiếm ăn, xây tổ,
chăm sóc các thành phần khác, nên chúng chiếm tỉ lệ rất cao ở nơi kiếm ăn
(84,3%) cũng như trong tổ (86,0%). Do sử dụng thức ăn trực tiếp, trong quần
thể mối kiếm ăn ngoài đẳng cấp mối thợ và mối lính (10,8%) còn có cả mối
non (3,0%). Hầu hết các cá thể trong cùng một tổ của loài này đều luân phiên
ra ngoài tổ đi kiếm ăn và quay trở về tổ. Bằng thí nghiệm sử dụng chất bột
nhuộm màu, tác giả cũng chứng minh được sự lan truyền chất bột màu qua
con đường tiếp xúc và qua đường miệng trong quần tộc mối C. formosanus.
15



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status