ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN NGỌC PHƢƠNG
THùC HIÖN PH¸P LUËT VÒ PHßNG, CHèNG X¢M
H¹I
T×NH DôC TRÎ EM - Tõ THùC TIÔN THµNH PHè
HßA B×NH, TØNH HßA B×NH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN NGỌC PHƢƠNG
THùC HIÖN PH¸P LUËT VÒ PHßNG, CHèNG X¢M
H¹I
T×NH DôC TRÎ EM - Tõ THùC TIÔN THµNH PHè
HßA B×NH, TØNH HßA B×NH
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8380101.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN DUY SƠN
KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG,
CHỐNG XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM .................................................6
1.1.1. Khái niệm xâm hại tình dục trẻ em và thực hiện pháp luật về
phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em ................................................. 6
1.1.2. Vai trò của thực hiện pháp luật về phòng, chống xâm hại tình dục
trẻ em .................................................................................................. 11
1.2.
NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁC HÌNH THỨC THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM....14
1.2.1. Nội dung thực hiện pháp luật về phòng, chống xâm hại tình dục
trẻ em .................................................................................................. 14
1.2.2. Đặc điểm thực hiện pháp luật về phòng, chống xâm hại tình dục
trẻ em .................................................................................................. 20
1.2.3. Các hình thức thực hiện pháp luật về phòng, chống xâm hại tình
dục trẻ em ........................................................................................... 23
Tiểu kết Chƣơng 1........................................................................................................ 28
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG,
CHỐNG XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM TẠI THÀNH PHỐ
HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH ................................................................. 29
2.1.
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ CHỨC
NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN QUẢN
LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TRẺ EM TẠI THÀNH PHỐ HÒA BÌNH,
TỈNH HÒA BÌNH ........................................................................................ 29
3.1.1. Thực hiện pháp luật phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em phải
đặt dƣới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý nhà nƣớc ............................. 61
3.1.2. Thực hiện pháp luật phòng, chống XHTD trẻ em nhằm bảo vệ
quyền của trẻ em bị xâm hại tình dục ................................................ 63
3.1.3. Thực hiện pháp luật phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em phải
phát huy vai trò của gia đình, quần chúng nhân dân và sức mạnh
tổng hợp của toàn bộ hệ thống chính trị ............................................. 66
3.1.4. Thực hiện pháp luật phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em phải
gắn liền với sự phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao trình độ hiểu
kiến thức pháp luật cho nhân dân ....................................................... 71
3.2.
CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG XÂM HẠI TÌNH DỤC
TRẺ EM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH
HÒA BÌNH HIỆN NAY ...........................................................................72
Tiểu kết Chƣơng 3........................................................................................................ 79
KẾT LUẬN ................................................................................................................. 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................. 81
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Nguyên nghĩa
Ủy ban nhân dân
UNICEF
Qũy Nhi đồng Liên Hợp Quốc
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
WHO
Tổ chức Y tế thế giới
XHTDTE
Xâm hại tình dục trẻ em
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Số hiệu
Tên bảng, biểu đồ
Bảng 2.1
Số liệu số vụ án XHTD trẻ em trên địa bàn Thành phố
Hòa Bình giai đoạn 2007-2018
2016. Bên cạnh đó công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em đã đƣợc thể chế hóa,
hiện thực hóa trong rất nhiều văn bản pháp luật hiện hành, nhƣ: Luật Hôn
nhân và gia đình, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự,… Tuy nhiên việc bảo vệ
và thực hiện quyền trẻ em còn nhiều hạn chế, bất cập. Trong những năm gần
đây, trên cả nƣớc xảy ra hàng loạt vụ việc xâm hại tình dục trẻ em (XHTDTE)
gây bức xúc dƣ luận và hoang mang cho nhiều bậc phụ huynh, để lại nhiều
hậu quả xấu, ảnh hƣởng tiêu cực đến sự phát triển lâu dài của m i trẻ em.
Theo thống kê của Bộ Công an, chỉ trong 4 năm (2014- 2018), liên quan đến
vấn đề xâm hại tình dục trẻ em thì cả nƣớc phát hiện trên 6.780 vụ, với gần
7.000 nạn nhân; trung bình m i năm cả nƣớc xảy ra trên một nghìn vụ xâm
hại tình dục trẻ em. Năm 2018, cả nƣớc phát hiện 1.547 vụ xâm hại trẻ em,
giảm 2,8% so với năm 2017 (1.547/1.592) với 1.669 đối tƣợng, xâm hại 1.579
em. Trong đó, số vụ án xâm hại tình dục trẻ em là 1.269 vụ (chiếm 82% so
với tổng số vụ xâm hại trẻ em) với 1.233 đối tƣợng, xâm hại 1.141 em [17].
Những nạn nhân có cả các bé trai và bé gái nhƣng đa số là ở các bé gái, độ
tuổi bị xâm hại tình dục còn nhỏ hoặc còn rất trẻ, cá biệt có những trƣờng hợp
1
nạn nhân mới vài tháng tuổi. Các vụ án xảy ra chủ yếu ở các vùng nông thôn,
vùng núi cao, do điều kiện kinh tế khó khăn hoặc ngƣời dân ít hiểu biết về
pháp luật. Theo Tổng Cục Cảnh sát, Bộ Công an, đối tƣợng xâm hại tình dục
trẻ em hầu hết là những ngƣời có cuộc sống bình thƣờng ít ai ngờ tới, có quan
hệ gần gũi với nạn nhân và gia đình nạn nhân. Do đó, việc phòng, chống
XHTD trẻ em trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Là một tỉnh miền núi, Hòa Bình đã luôn quan tâm đến công tác bảo vệ
trẻ em, tích cực tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong các cơ quan Đảng, nhà
nƣớc, các tổ chức chính trị, xã hội và các bậc phụ huynh; tuy nhiên, tình trạng
trẻ em bị xâm hại tình dục vẫn còn tiếp diễn, đây là một vấn đề vô cùng nhức
nhối nạn xâm hại trẻ em, https://www.nhandan.com.vn/baothoinay/baothoinayhosotulieu/item/39812702-nhuc-nhoi-nan-xam-hai-tre-em.html...
Các công trình nghiên cứu nêu trên là những tài liệu tham khảo bổ ích
cho việc triển khai các nhiệm vụ của luận văn. Tuy nhiên, các hầu hết các
nghiên cứu này chủ yếu đề cập đến các vấn đề chung về trách nhiệm nhà nƣớc,
xã hội mà chƣa thực sự quan tâm toàn diện đến việc thực hiện pháp luật trong
phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em. Xuất phát từ thực tiễn Thành phố Hòa
Bình, tỉnh Hòa Bình, việc nghiên cứu của đề tài luận văn sẽ góp phần đề xuất
hoàn thiện các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả pháp luật về phòng, chống
xâm hại tình dục trẻ em hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng việc
thực hiện pháp luật về phòng chống về phòng, chống xâm hại tình dục trẻ
em từ thực tiễn của thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, luận văn đề xuất
một số phƣơng hƣớng và giải pháp tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện pháp
3
luật về phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em tại thành phố Hòa Bình, tỉnh
Hòa Bình hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục đích nghiên cứu trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật về phòng,
chống xâm hại tình dục trẻ em
- Phân tích, đánh giá rõ thực trạng việc thực hiện pháp luật về phòng, chống
xâm hại tình dục trẻ em từ thực tiễn của thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
- Đề xuất phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm đẩy mạnh việc thực hiện
pháp luật về phòng, chống xâm hại tình dục ở trẻ em trên địa bàn thành phố
Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình hiện nay.
- Nghiên cứu, đánh giá có hệ thống các quy định pháp luật về phòng,
chống xâm hại tình dục ở trẻ em.
- Phân tích, đánh giá kết quả, hạn chế và nguyên nhân trong việc thực
hiện pháp luật phòng, chống xâm hại tình dục ở trẻ em trên địa bàn thành phố
Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
- Luận giải, đề xuất các quan điểm và giải pháp thực hiện pháp luật về
phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em trên địa bàn thành phố Hòa Bình, tỉnh
Hòa Bình hiện nay.
7. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn là công trình nghiên cứu có sự gắn kết giữa phân tích lý luận
với tổng kết thực tiễn địa phƣơng, vì vậy, nó có thể dùng làm tài liệu tham khảo
trong việc hoạch định các chủ trƣơng, chính sách về bảo vệ trẻ em bị xâm hại
tình dục tại thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình trong những năm tới, cũng nhƣ
là nguồn tƣ liệu tham khảo cho những ngƣời nghiên cứu các đề tài liên quan.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội
dung của luận văn đƣợc kết cấu gồm 03 chƣơng, 7 tiết.
5
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG,
CHỐNG XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM
1.1. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG,
CHỐNG XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM
1.1.1. Khái niệm xâm hại tình dục trẻ em và thực hiện pháp luật về
phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em
- Khái niệm Trẻ em
Trẻ em là một khái niệm đƣợc tiếp cận từ nhiều ngành khoa học, nhƣ:
diện cả về thể chất lẫn tinh thần của cha, mẹ, gia đình, và toàn thể xã hội. Mọi
hành vi xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của trẻ em đều
phải bị pháp luật trừng trị nghiêm khắc. Trong các hoạt động của các cơ quan,
tổ chức, nhà trƣờng, gia đình, cá nhân có liên quan đến trẻ em, quyền và lợi
ích đó phải đƣợc quan tâm và ƣu tiên hàng đầu. Trong thời kỳ đất nƣớc hiện
nay, Đảng và nhà nƣớc ta đã có rất nhiều các chính sách pháp luật quan tâm
đặc biệt đến thế hệ trẻ em – những mầm non tƣơng lai của đất nƣớc.
Dựa trên cơ sở pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam hiện hành thì
có thể thấy một điểm chung về khái niệm trẻ em, đó là: những người dưới
mười sáu tuổi, chưa phát triển đầy đủ về cả thể chất lẫn tinh thần, luôn cần
có sự bảo vệ, chăm sóc, giáo dục đặc biệt về mọi mặt từ phía gia đình, nhà
trường, các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân.
- Khái niệm xâm hại tình dục trẻ em
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), xâm hại tình dục trẻ em đƣợc định
nghĩa nhƣ sau: Xâm hại tình dục trẻ em sự tham gia của một đứa trẻ vào các
hoạt động tình dục mà đứa trẻ đó không có ý thức đầy đủ, không có khả năng
đó ra sự chấp thuận tham gia, hoặc hoạt động tình dục mà đứa trẻ đó chƣa đủ
phát triển cả về mặt tâm sinh lý để tham gia và không thể chấp thuận tham
7
gia, hoặc hoạt động tình dục trái với các quy định của pháp luật hoặc các
thuần phong mĩ tục của xã hội [48, tr.2]. Viện Sức khỏe quốc gia Hoa Kỳ
cũng đƣa ra quan điểm về xâm hại tình dục trẻ em đó là không những bao
gồm các hành vi động chạm trực tiếp đến thân thể mà phô dâm, ngôn dâm với
trẻ em, xem phim đồi trụy trẻ em cũng đƣợc xem là xâm hại tình dục trẻ em.
Viện Sức khỏe quốc gia Mỹ cho biết 90% kẻ xâm hại tình dục trẻ em là
những ngƣời quen biết hoặc thân thuộc với đứa trẻ, có thể là ngƣời trong gia
đình, hàng xóm, ngƣời trông giữ trẻ. Họ cũng phần lớn là đàn ông.
nhu cầu và sự hài lòng về tình dục của một ngƣời đối với trẻ em. Hành vi đó
là hành vi sử dụng quyền lực và sức mạnh có thể là vật chất, tiền bạc, lòng tin,
sự ngây thơ của trẻ để ép buộc trẻ em tham gia thực hiện vào hành vi tình dục,
xâm phạm đến thân thể, sự phát triển lành mạnh về thể chất, tinh thần và tâm
lý của trẻ. Hay lợi dụng trẻ em để khai thác tình dục trong hoạt động thƣơng
mại là mại dâm, khiêu dâm hoặc mua bán trẻ. Đối tƣợng XHTD trẻ em chủ
yếu là nam giới, là những ngƣời thân quen, họ hàng thậm chí anh, chị, em
ruột hoặc cha của trẻ em. Theo Điều 4, Luật Trẻ em năm 2016:
Xâm hại tình dục trẻ em là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực,
ép buộc, lôi kéo, dụ d trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan
đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cƣỡng dâm, giao cấu, dâm ô với
trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dƣới
mọi hình thức [21].
Trong nghiên cứu của đề tài, Luận văn sử dụng khái niệm xâm hại tình
dục theo Điều 4, Luật Trẻ em năm 2016 nêu trên.
Xâm hại tình dục nói chung và XHTD trẻ em nói riêng đƣợc coi là
trọng tội, là hành vi vi phạm pháp luật đặc biệt nghiêm trọng, ảnh hƣởng trực
tiếp đến thể chất và tâm sinh lý của trẻ em. Do đó, trẻ em cần đƣợc bảo vệ
một cách toàn diện bằng mọi hình thức. Bởi, trƣớc hết trẻ em là một con
ngƣời đƣợc hƣởng mọi quyền tự do mà không bị bất cứ một sự xâm phạm hay
9
phân biệt đối xử nào. Trẻ em cũng là những ngƣời chƣa trƣởng thành nên có
quyền đƣợc sống, đƣợc phát triển, đƣợc bày tỏ ý kiến và đặc biệt là đƣợc bảo
vệ trƣớc tất cả những hành vi xâm hại đến trẻ em.
- Khái niệm thực hiện pháp luật về phòng, chống xâm hại tình dục
trẻ em
Thực hiện pháp luật về phòng, chống XHTD trẻ em là việc các chủ thể
những năm gần đây, nƣớc ta đã có rất nhiều n lực sửa đổi, điều chỉnh và ban
hành các chính sách pháp luật phù hợp với Luật quốc tế về bảo vệ trẻ em đặc
biệt là trẻ em bị xâm hại tình dục.
Có thể khẳng định rằng đây là biện pháp phòng ngừa mang tính quần
chúng, phổ biến rộng rãi, đƣợc tiến hành bằng các biện pháp kết hợp với
nhau để xây dựng môi trƣờng xã hội lành mạnh. Quá trình này cần tạo ra
những tiền đề về vật chất, tƣ tƣởng, tinh thần nhằm xoá bỏ những nguyên
nhân, điều kiện làm nảy sinh tội phạm. Mọi thành viên trong xã hội đều có
quyền và nghĩa vụ tham gia công tác phòng ngừa xã hội với tội phạm xâm
hại tình dục trẻ em.
1.1.2. Vai trò của thực hiện pháp luật về phòng, chống xâm hại tình
dục trẻ em
Một là, bảo vệ các quyền trẻ em. Quyền trẻ em là tất cả những gì trẻ em
cần có để đƣợc sống và phát triển một cách lành mạnh và an toàn. Quyền trẻ
em nhằm đảm bảo cho trẻ em không chỉ là ngƣời tiếp nhận thụ động lòng
nhân từ của ngƣời lớn, mà các em là những thành viên tham gia tích cực vào
quá trình phát triển. Tại Đại hội Đảng lần thứ IX, lần đầu tiên từ “quyền trẻ
em” đƣợc dùng trong các văn kiện của Đảng. Qua Hiến pháp 1959, 1980,
1992, 2013 các quyền trẻ em ngày càng đƣợc bổ sung, hoàn thiện, phát triển
và đƣợc công nhận là một bộ phận quan trọng của quyền con ngƣời.
Hai là, thực hiện pháp luật về phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em
góp phần tạo nên môi trƣờng lành mạnh, bảo vệ cuộc sống bình yên, hạnh
11
phúc của mọi gia đình, đảm bảo trật tự và an toàn xã hội. Bởi trẻ em là những
ngƣời đang trong độ tuổi phát triển, cả về thể chất và tinh thần đều chƣa hoàn
thiện. Do đó, việc bị xâm hại tình dục có thể gây nên những cú sốc, những
sang chấn tâm lý lâu dài gây nên những hậu quả tiêu cực cho bản thân, cho
Nhƣ vậy, để công cuộc cải cách tƣ pháp đạt đƣợc kết quả cao thì có thể
khẳng định, một trong những mục tiêu quan trọng của công cuộc cải cách tƣ
pháp này là hƣớng tới việc bảo vệ con ngƣời, quyền công dân trong đó có trẻ
em. Nhằm bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con ngƣời, hạn chế, tiến tới
tuyệt đối triệt tiêu những hành vi xâm hại quyền con ngƣời nói chung và trẻ
em nói riêng từ bất cứ cơ quan, tổ chức kể cả cơ quan tổ chức mang quyền lực
Nhà nƣớc hay cá nhân nào. Do đó, các cơ quan Quản lý nhà nƣớc, tổ chức, cá
nhân khác nhằm đảm bảo quyền con ngƣời, quyền trẻ em, đều mang những ý
nghĩa nhất định, mang lại những tín hiệu tích cực và hiệu quả cao của công
cuộc cải cách tƣ pháp ở nƣớc ta hiện nay.
Năm là, chủ động hội nhập quốc tế về bảo vệ trẻ em. Việt Nam đã là
thành viên của nhiều điều ƣớc quốc tế đa phƣơng, đã tham gia nhiều điều ƣớc
quốc tế và khu vực. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề mang tính nguyên tắc
và hình thức, chƣa đƣợc thực hiện cụ thể. Hơn nữa, cùng với quá trình hội
nhập quốc tế, nƣớc ta cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn cả về hành động
thực tiễn lẫn cơ sở pháp lý. Các văn bản pháp luật quốc gia về quyền con
ngƣời cần phải đƣợc rà soát nhằm loại bỏ các văn bản mâu thuẫn, chồng chéo
hoặc không còn phù hợp với thực tế; bảo đảm tính hợp hiến, tính thống nhất,
tính khả thi, công khai, minh bạch, dễ tiếp cận và thực hiện. Trên cơ sở rà soát
tiến tới hệ thống hóa, pháp điển hóa để từ đó kế thừa, phát triển và xây dựng
mới các văn bản quy phạm pháp luật. Trong quá trình rà soát cũng cần quan
tâm đến sự phù hợp giữa pháp luật quốc gia và các điều ƣớc quốc tế mà Việt
Nam là thành viên. Bên cạnh đó cũng cần tiến hành sửa đổi, bổ sung các văn
bản quy phạm pháp luật nhằm nâng cao năng lực thể chế, mối quan hệ giữa
13
trách nhiệm của Nhà nƣớc nói chung, của cơ quan và của các cá nhân theo
hƣớng đảm bảo các biện pháp an toàn cho trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ em
năm 2016. Theo tinh thần của Hiến pháp 2013 thì tại Khoản 1, Điều 37 đã
quy định rõ trẻ em (ngƣời dƣới 16 tuổi) đƣợc Nhà nƣớc, gia đình và xã hội
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; đƣợc tham gia vào các vấn đề về trẻ em;
nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngƣợc đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao
động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em [23]. Tại Chỉ thị số 18/CTTTg, ngày 16/5/2017 về việc tăng cƣờng giải pháp phòng, chống bạo lực, xâm
hại trẻ em, Thủ tƣớng chính phủ đã chỉ thị rõ rằng tất cả các cơ quan, bộ
ngành, các phòng ban, các đơn vị hành chính, cá nhân và toàn thể xã hội đều
phải có trách nhiệm bảo vệ trẻ em trƣớc nạn xâm hại tình dục. Không những
thế, Bộ luật Hình sự 2015, đã có có những quy định mang tính răn đe, nghiêm
khắc đối với các tội phạm có hành vi xâm hại tình dục trẻ em. Với tinh thần
chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống tội xâm hại tình dục trẻ
em, trên cơ sở nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự trong các tội xâm hại
tình dục trẻ em, các quy định về tội xâm hại tình dục trẻ em trong Bộ luật
Hình sự năm 2015 thể hiện rõ nguyên tắc phân hóa trách nhiệm đƣợc thực
hiện ở một bƣớc cao hơn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc cá thể hóa
hình phạt… Khái niệm “hiếp dâm trẻ em” đƣợc thay bằng “dùng vũ lực, đe
dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ của nạn nhân hoặc
thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với
ngƣời từ đủ 13 tuổi đến dƣới 16 tuổi trái với ý muốn của họ” hoặc “giao cấu
hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với ngƣời dƣới 13 tuổi”. Theo
đó, khái niệm “cƣỡng dâm trẻ em”, “giao cấu với trẻ em”, “dâm ô với trẻ em”
cũng đƣợc quy định cụ thể để bảo đảm tính thống nhất trong cách hiểu và quá
trình áp dụng của các cơ quan có thẩm quyền. Các tội xâm hại tình dục trẻ em
đƣợc quy định tại Chƣơng XIV (Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân
phẩm, danh dự của con ngƣời) trong Bộ luật Hình sự năm 2015 gồm 5 Điều
(Điều 142: Tội hiếp dâm ngƣời dƣới 16 tuổi, Điều 144: Tội cƣỡng dâm ngƣời
từ đủ 13 tuổi đến dƣới 16 tuổi, Điều 145: Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi
17