BẢN THU HOẠCH
qua 4 năm thực hiện học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
(Đề cương)
Họ và tên:……………………………………………………................
Chức vụ:………………………………………………………..............
Đơn vị công tác:………………………………………………..............
Sinh hoạt Đảng tại chi bộ (nếu là đảng viên): .................................
…………………………………………………………………...............
Thuộc đảng bộ:…………………………………………………............
Qua 4 năm học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tôi trình bày
lại nhận thức của bản thân và liên hệ đánh giá những việc đã làm được, những
việc chưa làm được theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh như sau:
I. Về nhận thức.
1. Nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của Cuộc vận động.
- Đối với công tác xây dựng Đảng.
- Đối với đời sống xã hội
2. Nhận thức về tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
- Về sự cần thiết phải học tập, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống theo tấm
gương Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.
- Những phẩm chất đạo đức của người cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Nội dung cơ bản tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh mà cán bộ, đảng viên,
công chức phải thường xuyên học tập và noi theo.
- Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống
tham ô, lãng phí, quan liêu.
- Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm,
hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.
- Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng ta thật sự
trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh”.
II. Về làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
1. Kết quả cụ thể của bản thân trong làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt
Nam. Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới đã đi xa,
nhưng để lại cho nhân dân ta di sản tinh thần to lớn, những tư tưởng vô giá,
những giá trị nhân văn cao cả trong đó đặc biệt là tư tưởng và tấm gương đạo
đức cách mạng của người.
Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
được phát động đúng dịp kỷ niệm 77 năm ngày thành lập Đảng (3/2/1030
-3/2/2007). Mục đích của cuộc vận động là nhằm tiếp tục nâng cao nhận thức
của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và nhân dân về giá trị to lớn của
tấm gương Hồ Chí Minh. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng,
rèn luyện và hành động cách mạng theo tấm gương Hồ Chí Minh trong toàn
Đảng, toàn dân góp phần đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức,
lối sống và các tệ nạn xã hội,...
I. VỀ NHẬN THỨC
1/ Nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của Cuộc vận động.
- Đối với công tác xây dựng Đảng
Cuộc vận động đã làm cho nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân
chuyển biến tích cực. Tuyệt đại đa số cán bộ đảng viên hưởng ứng cuộc vận
động với tinh thần nhiệt tình, hăng hái, khẳng định Trung ương phát động Cuộc
vận động này là đúng đắn và cần được triển khai mạnh mẽ và sâu rộng hơn
nữa. Qua Cuộc vận động, đảng viên, cán bộ nhận thức đầy đủ hơn vị trí, vai
trò, tầm quan trọng của đạo đức đối với việc rèn luyện bản thân và gia đình.
Rèn luyện theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là việc làm suốt đời.
- Đối với đời sống xã hội
Cuộc vận động đã góp phần hình thành phong trào tu dưỡng, rèn luyện và
làm theo gương Bác, bồi đắp nền tảng đạo đức, văn hoá trong toàn Đảng và
toàn xã hội. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức thông qua cuộc vận động đã trở
thành sự kết hợp truyền thống của dân tộc, tinh hoa nhân loại với đạo đức cao
quí của người cộng sản và sự hy sinh vì sự nghiệp giải phóng con người.
không giữ được đạo đức cách mạng đã để mất nước. Trung Quốc cố gắng đấu
tranh (thay CNXH hành chính bao cấp) Việt Nam tiếp tục đổi mới mới có ngày
nay.
d/ Nguyên tắc của đạo đức cách mạng tư tưởng Hồ Chí Minh
+ Thống nhất đạo đức và chính trị, phẩm chất cách mạng và định hướng chính
trị cách mạng. Trong cuộc sống biến đạođức phù hợp sự phát triển xã hội.
+ Thống nhất biện chứng tư tưởng đạo đức cách mạng và hiệu quả công việc
của mình phù hợp phát triển xã hội. Nói đi đôi với làm, có hiệu quả
+ Kết hợp đức + tài, hồng và chuyên
+ Sự thống nhất chung riêng. Lớn nhỏ – bình thường, coi mình là thành viên,
bộ phận của cái chung.
+ Thống nhất lý luận thực tiễn (Bác bổ xung vào lý luận đấu tranh giai cấp (đấu
tranh giải phóng dân tộc). Đảng cầm quyền, không thể tách lý luận và thực tiễn
hoặc chỉ thực tiễn không cần lý luận.
+ Sự thống nhất biện chứng chủ nghĩa nhân đạo truyền thống, nhân đạo hiện
đại (là nhân đạo có tầm hiểu rộng – hỗ trợ phát triển phù hợp hoà nhập quốc tế
– xã hội hoá học tập – Chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. Nhận thức được quy
luật phát triển xã hội và tổ chức thực hiện được (Không chỉ tu nhân tích đức mà
phải đấu tranh để thực hiện được).
e/ Quan điểm của Bác về chuẩn mực đạo đức cách mạng
+ Yêu nước – tự cường dân tộc – kiên trì phấn đấu vì hạnh phúc của nhân dân
(không tự ty, không bằng lòng với hiện tại phải vươn lên) (Trung với nước –
Hiếu với dân – Phấn đấu vươn lên)
+ Cần – Kiệm – Liêm – Chính – Chí công – Vô tư.
+ Yêu thương con người, sống có nghĩa có tình (dù ở cương vị nào cũng thế)
+ Có tinh thần tập thể, mình vì mọi người, mọi người vì mình
+ Thường xuyên rèn luyện lối sống văn minh, lành mạnh . Trung thực. Kỷ
cương, tôn trọng quy ước cộng đồng.
+ Nâng cao đạo đức nghề nghiệp, lao động sáng tạo (nhất là cán bộ có chức
có quyền)
- Hồ Chí Minh luôn khẳng định cán bộ là gốc của mọi công việc, đạo đức
là gốc của người cán bộ, muốn việc thành công hay thất bại là do cán bộ tốt
hay kém. Người đã đánh giá, trong thực tế sản xuất và chiến đấu xây dựng chủ
nghĩa xã hội, chống Mỹ, cứu nước “ rất nhiều cán bộ, đảng viên tỏ ra anh dũng,
gương mẫu, gian khổ đi trước, hưởng thụ theo sau”. Thành tựu to lớn của 20
năm đổi mới đã chứng tỏ đa số cán bộ, đảng viên, công chức nhà nước vẫn
xứng đáng với lời khen của Hồ Chí Minh từ năm 1969.
Trong giai đoạn cách mạng mới, đẩy mạnh sự phát triển của đất nước,
rất cần sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, biết
cách tổ chức quần chúng thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cán bộ nào,
phong trào đó. Rõ ràng, trong giai đoạn hiện nay việc quan tâm xây dựng, bồi
dưỡng, giáo dục đội ngũ cán bộ có đầy đủ phẩm chất đạo đức, có năng lực
sáng tạo, vừa hồng, vừa chuyên theo tư tưởng Hồ Chí Minh là rất quan trọng.
- Quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế, xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ
tạo ra cho chúng ta cơ hội để phát triển, mà cả những tác động tiêu cực vào
đạo đức, lối sống. Biểu hiện cụ thể là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã trở nên nghiêm
trọng hơn, xuất hiện trong tất cả các bộ phận cấu thành của bộ phận chính trị,
trên tất cả các lĩnh vực, từ trung ương đến địa phương và cơ sở.
Thực trạng này đã được Hồ Chí Minh cẩn báo từ rất sớm mà nguyên
nhân , như Bác đã chỉ rõ, là do một bộ phận cán bộ, đảng viên “ đang mang
một ba lô chủ nghĩa cá nhân”. Vì vậy, học tập và làm theo những lời dạy của
Hồ Chí Minh, “ Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”
lúc này càng trở nên rất quan trọng và cần thiết.
2.2.2. Tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong tác phẩm sửa đổi
lề lối làm việc:
Tác phẩm đã trình bày một cách hệ thống các mặt cơ bản hợp thành nội dung
công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện Đảng trở thành Đảng cầm