ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THÚY
TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO VÀ O’HENRY
TRONG CÁI NHÌN ĐỐI SÁNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2019
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THÚY
TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO VÀ O’HENRY
TRONG CÁI NHÌN ĐỐI SÁNH
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 822.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Tôi vô cùng cảm ơn sự quan tâm và ủng hộ của gia đình, bạn bè. Đó chính là
nguồn động viên tinh thần rất lớn để tôi theo đuổi và hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên ngày 05 tháng 7 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thúy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................... ii
MỤC LỤC ..........................................................................................................iii
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................. 1
2. Lịch sử vấn đề .................................................................................................. 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................. 8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................... 9
5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 9
6. Dự kiến những đóng góp của luận văn .......................................................... 10
7. Cấu trúc luận văn ........................................................................................... 10
Chương 1. CUỘC ĐỜI, QUAN NIỆM SÁNG TÁC, SỰ NGHIỆP CỦA
NAM CAO VÀ O’HENRY ................................................................... 11
1.1.
Thời đại và cuộc đời hai nhà văn Nam Cao, O’Henry ............................ 11
2.1.1. Các đề tài chính trong truyện ngắn của Nam Cao và O’Henry ............... 33
2.1.2. Đề tài tương đồng: đề tài người trí thức .................................................. 36
2.1.3. Những đề tài khác biệt ............................................................................. 40
2.2.
Hệ thống chủ đề trong truyện ngắn của Nam Cao .................................. 44
2.2.1. Những chủ đề có nét tương đồng ............................................................ 44
2.2.2. Những chủ đề khác biệt ........................................................................... 56
Tiểu kết chương 2 .............................................................................................. 60
Chương 3. NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO VÀ
O’HENRY TRONG CÁI NHÌN ĐỐI SÁNH ...................................... 61
3.1.
Nghệ thuật xây dựng cốt truyện của Nam Cao và O’Henry ................... 61
3.1.1. Sự tương đồng trong xây dựng cốt truyện ............................................... 61
3.1.2. Những điểm khác biệt trong xây dựng cốt truyện ................................... 65
3.2.
Nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nam Cao và O’Henry ...................... 76
3.2.1. Miêu tả ngoại hình nhân vật .................................................................... 76
3.2.2. Miêu tả hành động của nhân vật .............................................................. 79
3.2.3. Miêu tả nội tâm nhân vật ......................................................................... 81
Tiểu kết chương 3 .............................................................................................. 83
KẾT LUẬN....................................................................................................... 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................... 87
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
vẫn hấp dẫn độc giả trên toàn thế giới với những ý nghĩa mới mẻ. Vì vậy nghiên
cứu về nội dung và nghệ thuật truyện ngắn của ông vẫn rất cần thiết.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
1.3. Văn học so sánh là tên gọi một phương pháp luận nghiên cứu văn học. Nó
không chỉ cho phép nghiên cứu so sánh các hiện tượng văn học ở các quốc gia khác
nhau theo quan hệ giao lưu, ảnh hưởng mà còn cho phép so sánh văn học theo quan
hệ tương đồng. Việc đặt truyện ngắn Nam Cao và O’Henry cạnh nhau trong thế đối
so sánh giúp ta có cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn về hai tác giả.
Hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về truyện ngắn của hai tác giả Nam
Cao và O’Henry nhưng việc đặt chúng trong quan hệ so sánh để thấy ngòi bút đậm
chất nhân văn của hai tác giả thì chưa công trình nào thực hiện có hệ thống.
1.4. Tác phẩm của Nam Cao và O’Henry đã được đưa vào chương trình Ngữ
văn phổ thông và chuyên ngành văn ở các trường Đại học ở Việt Nam từ lâu. Ở bậc
Đại học, Nam Cao là tác giả được nghiên cứu khá kĩ càng. Ở bậc trung học phổ
thông có truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao; trong chương trình trung học cơ sở
có truyện ngắn Lão Hạc (Nam Cao) và Chiếc lá cuối cùng của O’Henry. Đây là
những tác phẩm có nhiều giá trị. Với đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ góp phần vào
công việc giảng dạy, học tập tác phẩm của hai nhà Nam Cao và O’Henry ở Việt
Nam.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Vấn đề nghiên cứu Nam Cao và so sánh Nam Cao với các tác giả văn học
nước ngoài
2.1.1. Vấn đề nghiên cứu Nam Cao
Nam Cao là một tài năng, một hiện tượng lớn trong nền văn học hiện đại đầu
thế kỷ XX. Vì vậy, hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về ông (khoảng hơn
Năm 1982, Giáo sư Hà Minh Đức viết cuốn Nam Cao và đôi nét nghệ thuật
sáng tạo tâm lý. Trong đó, ông nhận định: “Dòng tâm lý trong tác phẩm của Nam
Cao vận động qua nhiều cảnh ngộ nhưng vẫn quanh quẩn tù túng không tìm được
lối thoát. Nó không được giao lưu với hành động nên có những phát triển ở bên
trong, ngày càng đi sâu vào nội tâm gần gũi với miêu tả tâm lý của Dostoievski và
Sekhov” [10, tr.73]. Như vậy, Hà Minh Đức đã chỉ ra một đặc điểm rất quan trọng
trong sáng tác của Nam Cao. Đó là sự ảnh hưởng của nghệ thuật xây dựng nhân vật
từ văn học châu Âu thế kỷ XIX.
Năm 2002, bài viết Nhớ Nam Cao và những bài học của ông của Nguyễn Đăng
Mạnh hoàn thành và in trong cuốn Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà
văn. Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nam Cao
như sau: “Sức hấp dẫn của Nam Cao còn ở những trang phân tích tâm lý sắc sảo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
của ông. Nam Cao chú ý đến nhiều nội tâm ngoại hình nhân vật” [18, tr.183]. Đặc
biệt, khi đi sâu vào nghệ thuật kể chuyện của Nam Cao, Nguyễn Đăng Mạnh còn
khẳng định:“Nam Cao có một lối kể rất biến hóa, cứ nhập thẳng vào đời sống bên
trong nhân vật mà dẫn dắt mạch tự sự theo dòng độc thoại nội tâm. Lối kể chuyện
theo quan điểm nhân vật như thế nào tạo ra ở nhiều tác phẩm của Nam Cao, một
thứ kết cấu bề ngoài có vẻ rất phóng túng, tùy tiện mà thực ra hết sức chặt chẽ như
không thể nào phá vỡ nốt” [18, tr.183].
Năm 1992, nhân kỷ niệm 50 năm ngày mất của Nam Cao, Viện Văn học cùng
Hội Văn học nghệ thuật Hà Nam tiến hành biên soạn cuốn Nghĩ tiếp về Nam Cao
do giáo sư Phong Lê làm chủ biên. Cuốn sách là tập hợp rất nhiều ý kiến, đánh giá
và tìm tòi khám phá mới về Nam Cao. Chúng tôi quan tâm đến những bài viết liên
quan đến quan đến nội dung và nghệ thuật truyện ngắn của Nam Cao trong cuốn
sách này.
Ngoài ra, ở trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên có một số luận văn Thạc sĩ
so sánh Nam Cao với tác giả văn học nước ngoài. Đó là luận văn của Phạm Thị Thu:
“So sánh nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn của Nam Cao (Việt Nam) và Runkê
Akutagawa (Nhật Bản)”, luận văn của Lương Thị Lan “Một số vấn đề thi pháp
truyện ngắn Nam Cao” (so sánh với thi pháp truyện ngắn A.Sekhov).
Nhìn chung, những công trình chuyên biệt nghiên cứu về Nam Cao rất phong
phú và đa dạng, với hàng trăm tài liệu. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của đề tài, chúng
tôi muốn tập trung khai thác các tài liệu liên quan đến truyện ngắn của Nam Cao và so
sánh Nam Cao với tác giả văn học nước ngoài. Trên cơ sở đó, chúng tôi hi vọng sẽ
khám phá những điều còn ẩn giấu trong truyện ngắn Nam Cao, đồng thời so sánh với
truyện ngắn của O’Henry để thấy rõ những điểm tương đồng và khác biệt.
2.2. Vấn đề nghiên cứu truyện ngắn của O’Henry
2.2.1. Tình hình nghiên cứu truyện ngắn của O’Henry ở nước ngoài
Các tác phẩm của O’Henry ra đời đã hơn một thế kỷ nhưng đến nay vẫn
còn nguyên giá trị. Từ đó đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các
tác phẩm của ông. Đánh từ khóa O’Henry trên Google, trong 2 giây ta có
15.600.000 kết quả. Có thể nói, O’Henry đã chinh phục hàng triệu độc giả cũng
như nhiều nhà phê bình văn học thế giới. Trong các tài liệu mà chúng tôi tìm được,
có một số bài viết và công trình đáng chú ý như: O’Henry, con người và tác phẩm
(O’Henry, the man and his work, 1949) của Eugence Hudsonlong, Bút danh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
O’Henry: Tiểu sử của William Sidney Porter (Alias O’Henry: A biography of William
Sidney porter, 1957) của Gerald Langford....
Cuốn O’Henry, con người và tác phẩm (O’Henry,the man and his work, 1949)
của Eugene Hudsonlong là một cuốn tiểu sử về O’Henry khá đầy đủ vào thời đó.
chỉ có thể bao quát được một số tài liệu xuất hiện trong vòng 20 năm gần đây. Chúng
tôi điểm qua một số công trình đáng chú ý như sau:
Trong cuốn Hành trình văn học Mỹ (1966), phần viết về nhà văn O’Henry,
tác giả Nguyễn Đức Đàn đã chỉ ra rằng: “Ông tìm kiếm không mệt mỏi những cái
bất ngờ và kì lại. Cốt truyện không bao giờ diễn biến một cách logic và phần cuối
bao giờ cũng có một sự kiện đột ngột” [8, tr.86].
Năm 2004, trong cuốn Tác gia văn học Mỹ thế kỷ XVIII-XX của Lê Đình Cúc,
ông đã dành một mục viết về O’Henry. Bài viết có tiêu đề “Tên cảnh sát và bản
thánh ca của văn học Mỹ”. Trong đó Lê Đình Cúc đã nhận xét: “Và còn gì của
O’Henry để lại cho thế hệ mai sau ngoài chất liệu hiện thực cuộc sống, ngoài một
chủ nghĩa nhân đạo bao la, ngoài một tấm lòng nhân hậu đối với thế giới bình dân
chính là ngòi bút châm biếm hài hước của mình” [7, tr.439].
Năm 2009, Nguyễn Hồng Dũng có bài Truyện ngắn của O’Henry đăng trên
Tạp chí Sông Hương (số 183, 2009). Nguyễn Hồng Dũng đã viết về O’Henry: “Ông
hiểu rõ tâm lí những người cùng thời, và đề tài trong truyện của ông được lấy từ
chính đời sống của họ. Ông đưa đến cho họ hai điều: tiếng cười và sự cảm động.
Những truyện ngắn của ông thường hóm hỉnh cười rất độ lượng và ẩn cuối tiếng
cười gợi lên sự vị tha, nhân ái” [tapchisonghuong.com] [23].
Ngô Vĩnh Viễn trong lời giới thiệu tập Chiếc lá cuối cùng (2014, NXB Văn
học) đã chỉ ra điểm hấp dẫn nhất trong truyện O’Henry là: “Niềm tin của ông vào
con người, vào cuộc sống, cái nhìn vui vẻ, yêu đời trước những thăng trầm của một
số con người, đặc biệt là những người nghèo khổ, bất hạnh”. Dịch giả Ngô Vĩnh
Viễn ngợi ca: “O’Henry không có cái thâm trầm sâu xa về mặt tư tưởng, không có
tầm rộng lớn về mặt khái quát, điển hình hoặc tính sắc biến trong phê phán xã hội
đương thời như 2 văn hào Nga và Pháp (Sêkhôp và Ghi Đơ Môpat xăng) nhưng tên
tuổi và tác phẩm của ông vẫn tồn tại mãi trong sự yêu thích và mến chuộng của
người đọc khắp nơi trên thế giới, vì niềm tin của ông vào con người và cuộc sống,
vì cái nhìn vui vẻ và yêu đời của ông những thăng trầm của số phận con người” [21,
tr.5].
đề tài như sau:
- Khảo cứu tình hình lịch sử xã hội, văn hóa Việt Nam, Mỹ nửa sau thế kỷ
XIX, đầu thế kỷ XX; nghiên cứu sự tác động của yếu tố đó đến truyện ngắn của hai
nhà văn Nam Cao và O’Henry.
- Khảo cứu, so sánh truyện ngắn của Nam Cao và O’Henry ở phương diện
nội dung.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
- Khảo cứu, so sánh truyện ngắn của Nam Cao và O’Henry ở phương diện
nghệ thuật.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài Truyện ngắn của Nam Cao và O’Henry
trong cái nhìn đối sánh là nội dung, nghệ thuật truyện ngắn của Nam Cao và
O’Henry trong sự so sánh tương đồng và khác biệt.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Thực hiện đề tài Truyện ngắn của Nam Cao và O’Henry trong cái nhìn đối
sánh chúng tôi sẽ tập trung khảo cứu vào các tập truyện ngắn có giá trị và được giới
nghiên cứu đánh giá cao của Nam Cao và O’Henry:
Với Nam Cao chúng tôi tập trung khảo sát các truyện ngắn ở 2 tập:
- Nam Cao - truyện ngắn chọn lọc của Nhà xuất bản Văn học (2012).
- Tuyển tập Nam Cao (tập 1,tập 2) Nhà xuất bản Văn học (1999), do Hà Minh
Đức biên soạn.
Còn O’Henry với khối lượng tác phẩm đồ sộ nhưng chúng tôi tập trung vào
nghiên cứu các truyện ngắn trong 2 tập truyện:
- O’Henry Truyện ngắn chọn lọc (NXB văn học, 2009) do Mạnh Chương dịch,
gồm 35 truyện ngắn.
riêng, học và dạy văn học hiện đại nói chung.
7. Cấu trúc luận văn
Luận văn của chúng tôi ngoài phần Mở đầu và Kết luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cuộc đời, quan niệm sáng tác, sự nghiệp của Nam Cao và O’Henry.
Chương 2: Nội dung truyện ngắn Nam Cao và O’Henry trong cái nhìn đối sánh.
Chương 3: Nghệ thuật truyện ngắn của Nam Cao và O’Henry trong cái nhìn
đối sánh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
Chương 1
CUỘC ĐỜI, QUAN NIỆM SÁNG TÁC, SỰ NGHIỆP
CỦA NAM CAO VÀ O’HENRY
1.1. Thời đại và cuộc đời hai nhà văn Nam Cao, O’Henry
1.1.1. Thời đại và cuộc đời nhà văn Nam Cao
Lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu và nửa đầu thế kỉ XX là thời kì nhân
dân Việt Nam chịu sự thống trị của thực dân Pháp. Năm 1958, thực dân Pháp nổ
súng xâm lược nước ta. Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, nhân dân ta đã tiến
hành đấu tranh quyết liệt chống lại quân thù. Mặc dù vậy, giai cấp phong kiến Việt
Nam đã dần thỏa hiệp, đầu hàng thực dân Pháp nên các cuộc đấu tranh nổ ra của
nhân dân đều bị thất bại.
Với việc kí kết hiệp ước Harmand (1883-1884), triều đình nhà Nguyễn chính
thức công nhận sự đô hộ của Pháp trên lãnh thổ Việt Nam. Sang đầu thế kỷ XX khi
bình định thành công nước ta, thực dân Pháp nhanh chóng bắt tay ngay vào công
cuộc khai thác thuộc địa.
Về chính trị: Thực dân Pháp thi hành chính sách cai trị trực tiếp ở Đông
Dương dùng bộ máy quân sự, cảnh sát, nhà tù thủ tiêu mọi quyền dân chủ, đàn áp
nhân dân Việt Nam, mà chủ yếu là nông dân với địa chủ phong kiến còn gọi là mâu
thuẫn giai cấp. Hai mâu thuẫn này tồn tại song song và đặt ra yêu cầu phải giải quyết
lúc bấy giờ.
Giữa một thời kì xã hội nửa thuộc địa, nửa phong kiến tối tăm và ngột ngạt
ấy, Nam Cao đã ra đời. Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri, sinh ngày 29/10/1917 tại
làng Đại Hoàng, phủ Lý Nhân (nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân) tỉnh Hà Nam.
Làng Đại Hoàng nơi ông sống thời bấy giờ giống như một bức tranh thu nhỏ của xã
hội Việt Nam lúc bấy giờ. Đó là một ngôi làng xa phủ, xa huyện, chính vì vậy quan
lại, cường hào trong làng có cơ hội hoành hành. Tại ngôi làng của ông, thường xảy
ra các vụ kiện tụng nhau giữa bọn quyền thế, giàu có vì vậy không ít người dân phải
li hương. Những sự việc có thực đã diễn ra ở vùng quê tối tăm này đều được Nam
Cao ghi lại trong những trang sách của mình với dấu ấn nặng nề…
Ông sống trọn nửa đầu thế kỉ XX. Cuộc đời ông gắn với một giai đoạn lịch
sử đau thương của dân tộc. Những biến động xã hội, văn hóa và thân phận con người
trong thời kỳ này được ông cảm nhận, phản ánh hết sức sinh động trong toàn bộ
sáng tác của mình.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
Nam Cao sinh trưởng trong một gia đình nghèo, đời sống gặp rất nhiều khó
khăn. Trong gia đình, chỉ có Nam Cao được đi học. Cái đói, cái nghèo, bệnh tật đeo
đuổi và giày vò ông ngay từ khi còn nhỏ. Sau khi thi trượt Thành chung, Nam Cao
rời bỏ làng quê nghèo khổ vào Sài Gòn kiếm sống theo một người cậu làm may.
Rời quê, Nam Cao ấp ủ nhiều dự định, nhiều mơ ước. Ông mơ ước được sang Pháp
để mở rộng tầm biểu biết, nhưng cuối cùng bệnh tật lại trả ông về với quê hương.
Về Sài Gòn, Nam Cao tiếp tục ôn lại và thi đậu Thành chung. Ông định xin làm
công chức nhưng rồi bệnh tật nên không được chấp nhận. Nam Cao lên Hà Nội dạy
đều không thực hiện được. Cuộc sống của ông phải vật lộn với miếng cơm, manh
áo, trải qua nhiều lần thất nghiệp, ngược xuôi trong Nam, ngoài Bắc, nhưng cuộc
đời của Nam Cao đã sớm được soi sáng nhờ ánh sáng của Đảng và Cách mạng.
Chính điều này đã giúp ông thoát khỏi những bế tắc, và mang đến cuộc sống có ý
nghĩa cho ông.
Nói tới Nam Cao, chúng ta nhớ ngay đến một con người có tấm lòng sâu sắc,
có ý thức gắn bó thủy chung với nhân dân, với những người nghèo khổ, trước hết
đó là những người thân trong gia đình. Bề ngoài, Nam Cao có vẻ lạnh lùng ít nói,
nhưng đời sống nội tâm vô cùng phong phú. Ông luôn nghiêm khắc đấu tranh với
bản thân để thoát khỏi lối sống tầm thường nhỏ hẹp, vươn tới một cuộc sống cao
đẹp.
Trong bất cứ hoàn cảnh nào, ông cũng giữ trọn tấm lòng đôn hậu, hiền hòa,
chan chứa tình thương, đặc biệt có sự gắn bó sâu nặng với quê hương và những
người nông dân nghèo khổ, bị áp bức, khinh miệt trong xã hội cũ với xã hội đương
thời. Ông cho rằng: Không có tình thương thì không xứng đáng gọi là người. Ông
không nỡ ăn bát cơm ngon dành cho riêng mình, Nam Cao muốn chia đều cho cả
nhà, vì vậy viết về người nghèo, ngòi bút Nam Cao lúc nào cũng tràn đầy niềm xót
thương, cảm thông. Ông luôn trăn trở, suy tư về bản thân và cuộc sống vì thế dù
những chuyện rất thường ngày nhưng Nam Cao lại nêu lên được vấn đề xã hội lớn
lao, nhiều bài học triết lý sâu sắc.
Trước Cách mạng tháng Tám, Nam Cao mang nặng tâm sự u uất, bi phẫn
của một trí thức. Họ là những người có ý thức về sự sống mà không được sống cho
ra người. Nam Cao là một nhà văn chân chính, có tấm lòng nhân hậu, chan chứa
yêu thương, có đời sống tinh thần phong phú. Những tác phẩm ông sáng tác đều
chứa tinh thần nhân đạo.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
O’Henry là bà Mary Jane Virginia Swaim Porter (1833-1865), con gái của chủ bút
tờ báo Ái Quốc ở Grinsboro.
Khi lên 3 tuổi thì cơn khủng hoảng đen tối đã đổ xuống gia đình ông. Chiến
tranh đã khiến ông và người thân chịu nhiều mất mát. Mẹ ông mất sau khi sinh em
của ông được sáu tháng. Không lâu sau, đứa bé ấy cũng qua đời. Tinh thần của cha
ông suy sụp. Vài năm sau, cha ông nghiện rượu và qua đời. Đứa trẻ tội nghiệp
William lại phải chịu thêm mất mát về tình yêu thương và giáo dục của cha mẹ.
Khi còn nhỏ, Porter luôn thích đọc sách, ông đọc mọi thứ từ tác phẩm kinh điển
đến tiểu thuyết rẻ tiền hoặc bất cứ cuốn sách nào rơi vào tay mình. Chính vì vậy, ông
không bao giờ cảm thấy cô đơn kể cả khi một mình sống trong trang trại bao la rộng
lớn. Porter tốt nghiệp từ trường tiểu học của người cô ruột Evelina Maria Porter vào
năm 1876. Sau đó, ông theo học tại trường Trung học Lindsey Street.
Năm 1879, ông bắt đầu làm việc tại nhà thuốc của người chú ở Greensboro.
19 tuổi, Porter đã được cấp phép làm dược sĩ. Tại hiệu thuốc, ông cũng thể hiện tài
năng nghệ thuật thiên bẩm của mình bằng cách vẽ phác họa những người đến cửa
hàng và ông được mọi người ngưỡng mộ bởi kỹ năng vẽ của mình.
Năm 1882, O’Henry phát hiện mình có triệu chứng bị lao. Vào tháng 3 năm
đó ông cùng bác sĩ Jame K.Hall đến Texas, hi vọng rằng không khí đồng nội sẽ giúp
giảm bớt căn bệnh ngày càng trầm trọng của ông. Sau khi hồi phục, vào khoảng
năm 1884, ông chuyển đến Austin. Tại đó ông làm nhiều công việc khác nhau: từ
dược sĩ, đến phóng viên, ngân hàng, nhân viên địa chính, vẽ kỹ thuật và kiến trúc,
đầu bếp nhà hàng, nhân viên công ty địa ốc, nhân viên xưởng in, nhà báo… Ông
cũng bắt đầu viết văn và có những truyện ngắn đầu tay, các mẩu truyện cười đăng
trên các nhật báo, tuần báo miền Tây Nam. Ngoài ra O’Henry là một ca sĩ, nhạc sĩ
giỏi và rất thích đóng phim truyền hình.
Chuyện tình cảm riêng tư của O’Henry cũng có nhiều thăng trầm. Ông yêu
vợ của Porter một lần nữa gửi tiền bảo lãnh để ông có thể ở lại với Athol và con gái
Margaret. Porter bị buộc tội tham ô vào tháng 2 năm 1898 và bị kết án năm năm tù
giam tại Ohio Penitentiary. Vì O’Henry là một dược sĩ được cấp phép, ông đã được
đưa đến làm việc tại bênh viện của nhà tù.
Ở trong tù, ông đã bắt đầu viết truyện. Sau khi bị giam ba năm, O’Henry
được thả vào ngày 24 tháng 7 năm 1901 vì cải tạo tốt. O’Henry đoàn tụ với cô con
gái 11 tuổi Margaret. Sau khi ra tù, ông được mời ký hợp đồng với một tòa soạn và
ngày lập tức trở thành nhà văn được đón nhận nhanh nhất. Năm 1902, ông di chuyển
đến New York. Ở đó, ông đã viết truyện ngắn cho tuần báo New York World Sunday
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
Magazine. Sau đó, O’Henry nghiện rượu nặng và đến 1908, sức khỏe của ông đã
xấu vì thế không thể viết tiếp được. Người vợ thứ hai đã bỏ ông. Ông qua đời vào
năm 1910 do xơ gan biến chứng của bênh tiểu đường cùng sự cô đơn, nghèo túng.
O’Henry là một nhà văn viết truyện tài năng và đã để lại cho chúng ta một di
sản phong phú là những câu chuyện tuyệt vời. Ông đã sống một cuộc đời rất phong
phú, phải nếm trải không ít những mất mát, đắng cay, tủi nhục: tuổi thơ không được
yêu thương, chăm sóc; thời thanh niên lang bạt, kiếm sống vất vả bằng nhiều nghề
khác nhau; khi trưởng thành phải chịu nỗi đau mất người thân và từng chịu cảnh tù
tội. Các biến cố trong cuộc đời đã đưa O’Henry ông đến với con đường văn chương
và chi phối đến những vấn đề ông phản ánh trong tác phẩm của mình. O’Henry là
một trong những người lao động khốn khổ của thời đại đó. Ông đã viết những trang
truyện ngắn về đời sống của những người thuộc tầng lớp mình với sự am hiểu sâu
sắc cùng tấm lòng nhân ái bao la.
O’Henry không phải là một nhà tư tưởng, cũng không chịu ảnh hưởng sâu
đậm của một triết thuyết cụ thể nào. Theo cách của riêng mình, O’Henry cũng như
nhiều tác giả Mỹ khác đã thể hiện tư tưởng trong tác phẩm. Ông bênh vực những
đồng nhất định. Điểm tương đồng dễ nhận thấy nhất là cuộc sống của tầng lớp nhân
dân lao động.
Mặc dù Mỹ đã trở thành nước tư bản phát triển từ thế kỉ XIX nhưng điều đó
không làm cho đời sống của nhân dân lao động nước Mỹ trở nên tốt đẹp hơn. Việc
đô thị hóa và công nghiệp hóa đã nảy sinh nhiều vấn đề xã hội. Sự phân cách giàu
nghèo trở nên trầm trọng. Số triệu phú Mỹ ngày càng nhiều cùng với tình trạng
khốn khó của người lao động tăng nhanh. Sự thành đạt giàu sang song hành với
đói khổ nghèo nàn trong xã hội. Thành phố New York cuối thế kỷ XIX đã trở
thành phố lớn, hiện đại nhưng dưới vẻ hào nhoáng vẫn có những khu phố nghèo,
đầy rẫy những người thất nghiệp, vô gia cư. Bản thân nhà văn O’Henry cũng từng
trải qua những năm tháng kiếm sống vất vả như hàng triệu người lao động nghèo
khác.
Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, dưới chế độ thực dân nửa phong
kiến, từ thành thị đến nông thôn, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, bấp bênh.
Đặc biệt là tầng lớp lao động thị dân nghèo và nông dân. Sự lạc hậu và đói nghèo
là điểm nổi bật nhất trong đời sống của người Việt Nam trước Cách mạng tháng
Tám.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN