Giải pháp tăng cường xuất khẩu hàng hoá của VN sang thị trường Trung Quốc trong điều kiện hội nhập WTO - Pdf 61

Luận văn tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính tất yếu
Thế giới đã và đang bước vào một kỷ nguyên mới. Đó chính là kỷ nguyên của
toàn cầu hoá, khu vực hoá. Sự mở rộng các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, sự
hợp tác liên minh, liên kết hiện nay đã trở thành một yếu tố khách quan. Bởi lẽ,
đây là quá trình nhằm thu hút các nguồn lực phát triển bên ngoài đồng thời phát
huy nội lực của nền kinh tế trong nước nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển
kinh tế- xã hội một cách nhanh chóng và bền vững.
Không nằm ngoài guồng quay đó, Việt Nam- với một nền kinh tế đang phát
triển thì việc tham gia vào sân chơi thương mại quốc tế đã giúp Việt Nam tận
dụng và phát huy lợi thế so sánh của mình. Nổi bật lên là hoạt động xuất khẩu
hàng hoá đã mang lại những kết quả đáng kể như: tăng thêm nguồn thu ngoại tệ,
thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, tạo công ăn việc làm cho người lao động
và đặc biệt là đẩy mạnh quá trình CNH- HĐH đất nước. Không chỉ vậy, đây còn
là con đường để góp phần nâng cao vị thế, hình ảnh của Việt Nam trên thị
trường quốc tế, là cơ sở để Việt Nam bước vào sân chơi thương mại toàn cầu
một cách vững vàng. Như Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, nghị
quyết, chính sách nhằm thực hiện đa dạng hoá thị trường, đa phương hoá các
quan hệ kinh tế với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới bằng các hiệp
định song phương, đa phương, bằng quan hệ hợp tác, hữu nghị, bình đẳng và
cùng có lợi.
Trung Quốc là một trong những đối tác thương mại lớn của Việt Nam. Hai
quốc gia Việt Nam- Trung Quốc là hai nước láng giềng,“núi liền núi, sông liền
sông”, các quan hệ về văn hoá, ngoại giao, thương mại của hai nước đã hình
thành từ lâu đời. Đó như một tất yếu khách quan và là một mối quan hệ bền
vững. Lật lại những trang sử vàng oanh liệt của một thời chúng ta không thể
không thấy được những biến động chính trị- xã hội của hai quốc gia là không
nhỏ. Song điều đó không bao giờ triệt tiêu hoàn toàn mối quan hệ của hai nước.
Nguyễn Thị Năm Lớp: Kinh tế quốc tế 46
1

Nguyễn Thị Năm Lớp: Kinh tế quốc tế 46
2
Luận văn tốt nghiệp
khiến cho hoạt động xuất khẩu hàng hoá từ Việt Nam sang Trung Quốc còn
nhiều bất cập. Tổng kết kinh nghiệm xuất khẩu của một số nước như Thái lan,
Indonesia… để từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài kết hợp phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác- Lênin cùng với phương pháp thống kê thực chứng,
phương pháp so sánh để tổng hợp giải quyết vấn đề đặt ra.
6. Những đóng góp của đề tài
- Hệ thống hoá những vấn đề lý kuận chung về xuất khẩu và tổng kết kinh
nghiệm xuất khẩu hàng hoá của một số nước từ đó rút ra bài học cho Việt Nam.
- Đánh giá được thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam
sang thị trường Trung Quốc trong thời gian qua.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam
vào thị trường Trung Quốc trong giai đoạn hiện nay.
7. Kết cấu của đề tài
- Ngoài lời mở dầu, kết luận, danh mục chữ viết tắt, danh mục các bảng biểu,
danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, đề tài được trình bày trong 3 chương:
- Chương 1: Lý luận chung về xuất khẩu, kinh nghiệm xuất khẩu hàng hoá của
một số nước và tổng quan về thị trường Trung Quốc.
- Chương 2: Thực trạng xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào thị trường Trung
Quốc từ năm 1991 đến nay.
- Chương 3: Một số giải pháp tăng cường xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào
thị trường Trung Quốc trong điều kiện gia nhập WTO.
Nguyễn Thị Năm Lớp: Kinh tế quốc tế 46
3
Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU,

những chiến lược, sách lược phù hợp để tăng cường xuất khẩu hàng hoá ra thị
trường quốc tế nhất là khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ
chức WTO.
- Để xuất khẩu cần có những kênh riêng, đó là hoạt động xuất khẩu. Hoạt
động xuất khẩu là một trong những hoạt động ngoại thương của một quốc gia,
nó có một vai trò quan trọng đối với sự phát triển của quốc gia đó. Hoạt động
xuất khẩu mang nhũng đặc trưng sau:
+ Để hoạt động xuất khẩu diễn ra cần có hai hay nhiều bên tham gia.
Khác với buôn bán nội địa, hoạt động xuất khẩu yêu cầu hai hay nhiều bên đó
phải có quốc tịch khác nhau. Đây chính là một trong những mấu chốt để các nhà
xuất khẩu đặt ra chiến lược xuất khẩu hàng hoá của mình. Sự khác nhau về quốc
tịch sẽ dẫn đến sự khác nhau về phong tục tập quán, thói quen…và đó là những
gì mà nhà xuất khẩu phải tìm hiểu, nghiên cứu để thoả mãn nhu cầu của người
tiêu dùng. Sự thoả mãn nhu cầu, sự hài lòng ở nước nhập khẩu là yếu tố quan
trọng tạo ra những khách hàng trung thành hay nói đúng hơn là tạo một chỗ
đứng cho hàng hoá của quốc gia xuất khẩu.
+ Do hàng hoá được xuất khẩu ra khỏi biên giới quốc gia sang một thị
trường khác nên sức ảnh hưởng của các yếu tố văn hoá, luật pháp, chính trị...là
không nhỏ, đó là mầm mống cho những rủi ro mang lại cho hoạt động xuất
khẩu.
+ Phương tiện thanh toán trong hoạt động xuất khẩu thường là ngoại tệ
đối với ít nhất một bên.
+ Phương tiện vận tải, phương thức vận tải cũng là yếu tố hết sức quan
trọng trong hoạt động xuất khẩu. Vì ở đây chứa những rủi ro cho cả hai bên
tham gia vào hoạt động này. Vì thế, khi tham gia ký kết các hợp đồng ngoại
Nguyễn Thị Năm Lớp: Kinh tế quốc tế 46
5
Luận văn tốt nghiệp
thương, các nhà xuất khẩu cũng như nhập khẩu cần có các điều khoản, hợp đồng
bảo hiểm…đi kèm để giảm thiểu rủi ro cho mình.

báo giá, chào hàng, hoàn giá…hoặc gặp gỡ trực tiếp để đàm phán, thoả thuận, ký
kết hợp đồng.
+ Thực hiện ký kết hợp đồng kinh doanh xuất nhập khẩu.
+ Tổ chức thực hiện hợp đồng mà hai bên đã ký.
1.1.2.2. Hình thức xuất khẩu gián tiếp
- Khái niệm: Hình thức xuất khẩu gián tiếp hay giao dịch qua trung gian là
hình thức mua bán quốc tế được thực hiện khi nhờ sự giúp đỡ của trung gian thứ
ba. Người này được hưởng một khoản tiền nhất định.
- Các trung gian phổ biến trong giao dịch quốc tế là các đại lý, môi giới.
+ Đại lý là người hoặc một công ty uỷ thác cho người khác, công ty khác
thực hiện mua bán hoặc dịch vụ phục vụ cho việc mua bán như quảng cáo, vận
tải và bảo hiểm.
+ Môi gới thường là thương nhân trung gian giữa bên mua và bên bán uỷ
thác tiến hành bán hoặc mua hàng hoá hay dịch vụ. Khi tiến hành nghiệp vụ môi
giới, người môi giới không đứng tên của mình mà đứng tên của người uỷ thác
không chiếm hữu hàng hoá và không chịu trách nhiệm cá nhân trước người uỷ
thác về việc khách hàng không thực hiện hợp đồng.
- Ưu điểm của xuất khẩu gián tiếp:
+ Người trung gian thường là những người am hiểu thị trường xâm nhập,
pháp luật, tập quán buôn bán của địa phương cho nên họ có khả năng đẩy mạnh
buôn bán và tránh bớt những rủi ro cho người uỷ thác.
Nguyễn Thị Năm Lớp: Kinh tế quốc tế 46
7
Luận văn tốt nghiệp
+ Những người trung gian nhất là các đại lý thường có cơ sở vật chất nhất
định do vậy khi sử dụng họ người uỷ thác đỡ phải đầu tư trực tiếp ra nước nhập
khẩu.
+ Nhờ những dịch vụ trung gian trong việc lựa chọn phân loại, đóng gói
mà người uỷ thác có thể giảm bớt chi phí vận tải.
- Nhược điểm:

cân bằng. Nguyên tắc này được thể hiện:
+ Cân bằng về mặt hàng: hàng quý đổi lấy hàng quý, hàng ế thừa đổi lấy
hàng ế thừa
+ Cân bằng giá cả: cùng tính cao hơn hay thấp hơn giá cả quốc tế.
+ Cân bằng điều kiện giao dịch: cùng giao FOB cảng đi hay cùng giao
CIF cảng đến
+ Cân bằng về tổng giá trị hàng hoá mà các bên giao cho nhau.
1.1.2.4. Gia công quốc tế
- Khái niệm: gia công xuất khẩu là phương thức sản xuất hàng xuất khẩu
trong đó người đặt gia công ở nước ngoài cung cấp: máy móc, thiết bị, nguyên
phụ liệu hay bán thành phẩm theo mẫu và định mức cho trước. Người nhận gia
công trong nước tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm theo yêu cầu của khách
hàng. Sau khi các sản phẩm được làm ra người nhận gia công sẽ giao lại cho
người đặt gia công và nhận một khoản tiền gọi là phí gia công.
- Ưu điểm của gia công xuất khẩu:
+ Thị trường tiêu thụ sẵn có, không phải lo chi phí cho hoạt động bán sản
phẩm đầu ra.
+ Vốn đầu tư cho sản xuất là nhỏ.
+ Tạo được công ăn việc làm cho người lao động.
+ Học tập được kinh nghiệm sản xuất của nước ngoài, tạo được mẫu mã
bao bì cho các sản phẩm của mình.
Nguyễn Thị Năm Lớp: Kinh tế quốc tế 46
9
Luận văn tốt nghiệp
- Nhược điểm:
+Tính bị động cao: do toàn bộ hoạt động của các doanh nghiệp phụ thuộc
vào bên đặt gia công về thị trường, giá bán, giá đặt gia công, nguyên vật liệu,
mẫu mã, nhãn mác của sản phẩm…
+ Nhiều trường hợp bên nước ngoài lợi dụng gia công để bán máy móc
cho nước nhận gia công, sau một thời gian không đặt gia công nữa gây tổn thất,

- Xuất khẩu tại chỗ là hình thức bán hàng cho nước ngoài ngay trên lãnh
thổ nước mình.
- Ưu điểm: do bán hàng hoá ngay trên lãnh thổ nước mình cho nên các
nhà xuất khẩu tại chỗ ít gặp rủi ro về chính trị, pháp luật, vận chuyển…Do đó
tiết kiệm được chi phí giao dịch, vận chuyển.
- Nhược điểm: số lượng hàng hoá bán được không lớn do mảng thị trường
này chỉ gồm những người nước ngoài đi du lịch hoặc làm việc tại nước xuất
khẩu tiêu thụ.
Tóm lại, mỗi một hình thức xuất khẩu đều mang lại những hiệu quả
cũng như những hạn chế, khó khăn nhất định. Vì vậy, đứng ở góc độ nhà xuất
khẩu, Việt Nam cần có những chiến lược, định hướng lựa chọn phù hợp với sự
phát triển kinh tế, khả năng, năng lực của Việt Nam để thu được hiệu quả kinh tế
cao nhất góp phần vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế của đất nước trong giai đoạn
hiện nay.
1.1.3. Các bước tiến hành xuất khẩu
1.1.3.1. Nghiên cứu và tiếp cận thị trường
- Trên thực tế, trong sân chơi thương mại quốc tế ngày càng diễn ra sự
cạnh tranh gay gắt, khốc liệt. Bước vào giai đoạn toàn cầu hoá, mở cửa nền kinh
tế, hiện đại hoá đất nước hướng về xuất khẩu, các doanh nghiệp, các nhà xuất
khẩu Việt Nam nói riêng cần có sự nghiên cứu, tìm hiểu kỹ lưỡng thị trường
trước khi quyết định xuất khẩu hàng hoá của nước mình. Những thông tin về thị
Nguyễn Thị Năm Lớp: Kinh tế quốc tế 46
11
Luận văn tốt nghiệp
trường là tiền đề cho chiến lược kinh doanh của các nước xuất khẩu. Bởi lẽ khai
thác được những thông tin này chính là biết được môi trường, nhu cầu, thị hiếu,
thói quen tiêu dùng của khách hàng, để từ đó biết được cần xuất khẩu mặt hàng
gì? đối tượng xuất khẩu nào? ở đâu? đối thủ cạnh tranh là ai?
- Sau khi thu thập, xử lý thông tin do thị trường cung cấp, các nhà xuất
khẩu cần đưa ra những phương pháp nhất định để tiếp cận thị trường nước nhập

- Khi hoàn tất các thủ tục, công đoạn của quá trình xuất khẩu như xin giấy
phép xuất khẩu, chuẩn bị hàng hoá, kiểm tra chất lượng hàng hoá, các thủ tục hải
quan, thủ tục thanh toán…chính là thực hiện hợp đồng xuất khẩu. Trong quá
trình thực hiện hợp đồng cần chú ý đến các điều khoản mà hai bên đã ký kết để
tránh, giảm tranh chấp ngoại thương cho cả hai bên, từ đó hợp dồng sẽ được
thực hiện một cách nhanh chóng và mang lại hiệu quả.
1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình xuất khẩu
Quá trình xuất khẩu hàng hoá của một quốc gia phụ thuộc vào nhiều yếu
tố, trong đó có những yếu tố cơ bản sau đây:
1.1.4.1. Yếu tố kinh tế
- Thị trường cần có sức mua, cũng như cần có người mua. Sự thay đổi của
các yếu tố như thu nhập, chi phí sinh hoạt, lãi suất và kết cấu tiết kiệm của một
quốc gia có tác động tức thời đến thương trường cho nên các nhà quản trị cần
hiểu rõ những khuynh hướng chính yếu diễn ra các vấn đề này. Một yếu tố cơ
bản để phản ánh bề rộng của thị trường tiềm năng đó là dân số mà quan trọng
hơn nữa là họ phải nghiên cứu, so sánh tốc độ của GNP tăng so với tốc độ tăng
dân số để dự đoán khả năng tiêu thụ và mở rộng thị trường của quốc gia mình.
Theo đó, các nhà nghiên cứu cần phải nghiên cứu mức phân bố theo tuổi, đặc
tính phân phối thu nhập ở đó.
- Một trong những yếu tố khác chính là đặc điểm khác nhau của các nền
kinh tế. Chẳng hạn như quốc gia mà nền kinh tế còn chưa phát triển thì việc nghĩ
Nguyễn Thị Năm Lớp: Kinh tế quốc tế 46
13
Luận văn tốt nghiệp
đến hoạt động xuất khẩu là ít, còn một quốc gia có nền kinh tế mở cửa, đang
trong quá trình CNH- HĐH có chiến lược kinh tế hướng về xuất khẩu thì kim
ngạch xuất khẩu sẽ chiếm phần nhiều trong tổng sản phẩm quốc nội của nước
đó. Bởi lẽ, với chiến lược này cơ hội kinh doanh cho các công ty, các nhà xuất
khẩu là rất lớn. Cũng với chiến lược đó việc dự báo những biến động kinh tế, các
hoạt động xúc tiến của cơ quan quản lý nhà nước đã giúp các nhà xuất khẩu vượt

yếu tố như các công cụ quản lý của nhà nước, các quy định về giấy phép xuất
khẩu, mặt hàng được phép xuất khẩu, mặt hàng không được phép xuất khẩu,
thuế quan, các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm…Một số các công cụ sau
đây thường được sử dụng:
- Công cụ thuế quan: thuế xuất khẩu, đây là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị
hàng hoá xuất khẩu của quốc gia xuất khẩu. Loại thuế này có ảnh hưởng trực
tiếp đến giá cả của hàng hoá xuất khẩu. Chính vì vậy, các doanh nghiệp xuất
khẩu cần nắm vững loại thuế này để có những chiến lược trong sản xuất kinh
doanh., thâm nhập thị trường sao cho tạo được mức giá cạnh tranh nhất.
- Công cụ phi thuế quan: Đây cũng là một công cụ để khuyến khích hay
hạn chế xuất khẩu hoặc nhập khẩu. Công cụ này bao gồm:
+ Hạn ngạch: do nhà nước đặt ra nhằm quy định số lượng hàng hoá cao
nhất của một mặt hàng hay một nhóm mặt hàng được phép xuất khẩu hoặc nhập
khẩu từ một quốc gia trong một thời gian nhất định. Đây là công cụ nhằm hạn
chế hàng hoá xuất khẩu thâm nhập từ thị trường bên ngoài vào thị trường nội địa
của một quốc gia.
+ Hạn chế xuất khẩu tự nguyện: là biện pháp mà một quốc gia đưa ra
nhằm hạn chế lượng hàng hoá của một nước thâm nhập vào quốc gia của mình
một cách tự nguyện, nếu không thực hiện sự tự nguyện này thì quốc gia xuất
khẩu sẽ có thể bị quốc gia nhập khẩu áp dụng các biện pháp trả đũa.
Nguyễn Thị Năm Lớp: Kinh tế quốc tế 46
15
Luận văn tốt nghiệp
+ Quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật: bao gồm những quy định về vệ sinh an
toàn thực phẩm, các quy tắc xuất xứ, nhãn mác sinh thái của hàng hoá, các quy
định về an toàn và các chế độ của người lao động…Những tiêu chuẩn này đã và
đang dần dần thay thế cho các công cụ hành chính như thuế quan, hạn ngạch, nó
được coi như một công cụ bảo hộ các nhà sản xuất trong nước một cách tinh vi
vì nó không vi phạm các thông lệ quốc tế. Do đó các nhà xuất khẩu cần nắm
vững được những quy định này để đảm bảo các sản phẩm mà mình xuất khẩu

tin đó đã không còn giá trị nữa. Điều đó lại một lần nữa nói lên rằng yếu tố cạnh
tranh là vô cùng quan trọng, để có một năng lực cạnh tranh tốt các doanh nghiệp
cần nhanh nhạy, hiểu biết đồng thời cần có sự trợ giúp thực sự từ phía chính phủ.
1.1.5. Vai trò của việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa trong
điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
- Cùng với chiến lược hội nhập và phát triển nền kinh tế, thương mại quốc
tế là một trong những bộ phận quan trọng, gắn liền với quá trình hội nhập và có
vai trò quyết định lợi thế, vị thế của một quốc gia trên thị trường khu vực và trên
thế giới. Do đó, việc thúc đẩy giao lưu thương mại quốc tế nói chung và thúc đẩy
xuất khẩu nói riêng là mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế hàng đầu của một
quốc gia. Một thực tế trên thế giới đã cho thấy rõ điều này. Thúc đẩy xuất khẩu
hàng hoá như một động lực phát triển nền kinh tế. Vai trò đó thể hiện như sau:
1.1.5.1. Xuất khẩu là nhân tố tạo điều kiện cho quốc gia tận dụng được lợi thế so
sánh của quốc gia mình
- Khi kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng cao, điều đó đồng nghĩa với
việc sức cạnh tranh của hàng hoá của quốc gia xuất khẩu là lớn. Chính điều đó
đưa nền kinh tế vào vận hành trong một vòng quay ổn định và bền vững hơn. Vì
khi các nước xuất khẩu được nhiều hàng hoá có sức cạnh tranh cao là khi mà họ
tận dụng và phân bổ được tối đa nguồn lực, lợi thế so sánh của họ với các nước
Nguyễn Thị Năm Lớp: Kinh tế quốc tế 46
17
Luận văn tốt nghiệp
khác. Quá trình đó là bước đệm để cho tất cả các nước đặc biệt là các nước đang
phát triển nhanh chóng bước vào quá trình CNH- HĐH đất nước.
1.1.5.2. Xuất khẩu hàng hoá tạo ra nguồn thu ngoại tệ, nguồn vốn chủ yếu cho
việc nhập khẩu công nghệ, máy móc, nguyên vật liệu cần thiết phục vụ cho quá
trình CNH- HĐH đất nước
- Hoạt động xuất khẩu là hoạt động kích thích nền kinh tế phát triển, nó
góp phần tăng nguồn vốn tích luỹ, tăng thu ngoại tệ, tăng tổng thu nhập quốc
dân, tăng mức sống của dân cư. Không chỉ thế, ngoại tệ và số vốn mà nền kinh

dân, đó là giúp nâng cao đời sống của nhân dân. Không chỉ vậy, xuất khẩu còn
giúp nâng cao tay nghề của người lao động, tạo ra một tác phong, kỷ luật mới
cho người lao động sản xuất ra hàng xuất khẩu.
1.1.5.5. Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, nâng
cao vị thế kinh tế của mỗi quốc gia trên trường quốc tế
- Thực tế Việt Nam đã thiết lập quan hệ buôn bán với trên 100 quốc gia
trên thế giới. Sự phát triển không ngừng của hoạt động xuất khẩu của Việt Nam
trong suốt thời gian qua đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế nói
chung mà còn là nhân tố tích cực để thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ hợp
tác quốc tế. Hiện nay Việt Nam đã xây dựng được một quy mô các mặt hàng
xuất khẩu tương đối lớn và ngày càng được thị trường thế giới công nhận như:
cà phê, dầu khí, gạo, thuỷ sản, hàng dệt may,…Việc xây dựng được một số mặt
hàng có quy mô lớn nói trên đã cho phép Việt Nam khai thác được lợi thế so
sánh của nền kinh tế Việt Nam và đồng thời tích luỹ được bài học kinh nghiệm
quan trọng cho việc đổi mới và hình thành cơ cấu xuất khẩu có hiệu quả kinh tế
lớn phù hợp cho bước chuyển đổi của nền kinh tế trong những giai đoạn tiếp
theo.
Nguyễn Thị Năm Lớp: Kinh tế quốc tế 46
19
Luận văn tốt nghiệp
1.1.6. Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động xuất khẩu
- Có rất nhiều chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hoạt động xuất khẩu. Sau đây
chúng ta có thể xem xét một số chỉ tiêu sau:
+ Thứ nhất, xét kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của mỗi nước. Cụ thể hơn
là, nước xuất khẩu đó đã xuất khẩu được bao nhiêu hàng hoá, khối lượng và trị
giá là bao nhiêu. Nếu kim ngạch xuất khẩu càng lớn chứng tỏ hiệu quả xuất khẩu
càng cao. Hơn thế nữa, kim ngạch cao và trị giá của hàng hoá đem xuất khẩu là
lớn thì điều đó càng chứng tỏ chiến lược hướng về xuất khẩu của quốc gia đó.
+ Thứ hai, tốc độ tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu. Hoạt động xuất
khẩu của một nước là hiệu quả khi kim ngạch xuất khẩu của nước đó liên tục

+ Thứ năm, hình thức buôn bán cũng cho ta thấy được hiệu quả của hoạt
động xuất khẩu. Khi nước tham gia xuất khẩu chủ yếu qua hoạt động buôn bán
chính ngạch thì sẽ giảm thiểu được những rủi ro trong thương mại, tránh thiệt hại
cho nước mình. Bởi lẽ, khi tham gia hoạt động buôn bán này, ngoài việc các nhà
kinh doanh xuất nhập khẩu phải tuân thủ những quy định pháp luật của hai nước
nói riêng còn phải tuân thủ theo các thông lệ quốc tế nói chung một cách nghiêm
túc, đây là cơ sở để hai bên giảm thiểu được nhiều rủi ro trong các thương vụ
kinh doanh, do đó mang lại hiệu quả cao. Ngược lại, nếu các nước xuất khẩu
buôn bán thông qua hoạt động tiểu ngạch thì rủi ro mang lại là rất lớn. Chính
những rủi ro này làm thiệt hại và giảm đi rất nhiều hiệu quả do hoạt động xuất
khẩu mang lại.
* Như vậy, với năm chỉ tiêu trên các quốc gia tham gia kinh doanh xuất
khẩu có thể dựa vào đó để điều chỉnh hoạt động xuất khẩu của mình sao cho
hoạt động xuất khẩu mang lại hiệu quả cao nhất đáp ứng mục tiêu, chiến lược
phát triển kinh tế- xã hội mà quốc gia mình đã đề ra.
Nguyễn Thị Năm Lớp: Kinh tế quốc tế 46
21
Luận văn tốt nghiệp
1.2. Cơ sở lý kuận của việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá trong điều
kiện hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.1. Các lý thuyết chính về thương mại quốc tế
1.2.1.1. Mô hình cổ điển về lợi thế so sánh
* Trên thực tế, người ta luôn đặt ra một câu hỏi: tại sao người ta lại phải
buôn bán? Về cơ bản là vì buôn bán là việc mang lại nguồn lợi nhuận. Hơn nữa,
con người ta có những khả năng và các nguồn lực khác nhau và họ muốn tiêu
dùng loại hàng hoá với số lượng khác nhau. Điều này được quy định bởi sở thích
khác nhau và những cơ sở vật chất khác nhau. Con người thường thấy có lời khi
họ đem buôn bán những thứ mà họ có số lượng lớn (so với thị hiếu và nhu cầu
của họ) để đổi lấy những thứ mà họ cần. Vì mỗi cá nhân hay gia đình đều không
thể tự đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính họ, họ chỉ thấy có lợi khi tham gia

hoá ở mô hình lợi thế tuyệt đối của Adam.Smith
Sản phẩm Trung Quốc Việt Nam
1 đơn vị Vải 2 lao động 6 lao động
1 đơn vị Tôm 5 lao động 3 lao động
+ Khi chưa có thương mại quốc tế, thế giới chỉ gồm hai thị trường Trung
Quốc và Việt Nam. Mỗi nước tự sản xuất và tiêu dùng hàng hoá của mình. Theo
đó, ở Trung Quốc 1 vải = 0,4 tôm, ở Việt Nam 1 vải = 2 tôm. Ta thấy, Việt Nam
là nước có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất tôm, Trung Quốc có hiệu quả cao hơn
trong sản xuất vải. Khi hai nước chuyên môn hoá sản xuất mặt hàng có lợi thế
của mình và đem trao đổi thì cả hai quốc gia đều thu được lợi ích. Mô hình này,
chỉ ra hướng chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá và trao đổi hàng hoá đó để
mang lại lợi ích hay sự giàu có cho quốc gia, song mô hình này không giải thích
được tại sao thương mại quốc tế vẫn diễn ra khi một quốc gia có lợi thế tuyệt đối
hay bất lợi tuyệt đối về sản xuất ra hàng hoá.
Nguyễn Thị Năm Lớp: Kinh tế quốc tế 46
23
Luận văn tốt nghiệp
- Học thuyết về lợi thế so sánh của Ricardo cho rằng phúc lợi của thế giới
(giả sử thế giới gồm hai nước) là lớn nhất khi mỗi nước xuất khẩu sản phẩm mà
chi phí sản xuất ở trong nước thấp hơn ở nước ngoài và nhập khẩu những hàng
hoá mà chi phí so sánh ở nước ngoài thấp hơn ở trong nước. Sau đây ta có thể
xem xét ví dụ:
+ Với giả thiết như trên, nhưng lượng lao động cần thiết để sản xuất ra
mỗi đơn vị hàng hoá là theo bảng sau:
Bảng 1.2: Lượng lao động cần thiết để sản xuất ra mỗi đơn vị hàng hoá ở mô
hình lợi thế so sánh của D.Ricardo
Sản phẩm Trung Quốc Việt Nam
1 đơn vị Vải 2 lao động 12 lao động
1 đơn vị Tôm 5 lao động 6 lao động
+ Theo bảng số liệu trên ta thấy, Trung Quốc cần một số lượng lao động ít

những hàng hoá mà việc sản xuất đòi hỏi sử dụng ở mức cao yếu tố sản xuất mà
mình có rất ít.
1.2.1.3. Học thuyết về chu kỳ sống của sản phẩm quốc tế
- Học thuyết chu kỳ sống của sản phẩm quốc tế được đưa ra để giải thích
những hiện tượng mới gắn với những thay đổi của thương mại quốc tế. Lý
thuyết này cũng phản ánh sự phát triển nhanh chóng của tiến bộ khoa học kỹ
thuật và quyền lợi của các tập đoàn đa quốc gia trong buôn bán quốc tế.
- Mô hình về chu kỳ sống của sản phẩm quốc tế cho thấy rằng một sản phẩm đòi
hỏi lao động tay nghề rất cao ở giai đoạn đầu tiên, sau đó khi thị trường đã phát
triển và kỹ thuật ngày càng phổ biến hơn thì sản phẩm đó được chuẩn hoá, do đó
độ tinh vi sẽ kém hơn, lúc này có thể hàng hoá được sản xuất ra hàng loạt. Các
nước có nền kinh tế tiên tiến có lợi thế so sánh với những mặt hàng chưa được
chuẩn hoá.
- Chu kỳ sống của sản phẩm gồm 4 giai đoạn: xâm nhập, tăng trưởng,
chín muồi, suy thoái. Thời gian tồn tại của mỗi giai đoạn là khác nhau ở các thị
trường không giống nhau. Bởi lẽ, sản phẩm có thể là mới ở thị trường này nhưng
Nguyễn Thị Năm Lớp: Kinh tế quốc tế 46
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status