Nghi thức gói dữ liệu người dùng UDP - Pdf 61

Chơng 11
Nghi thức gói dữ liệu ngời dùng
(UDP )
Bộ nghi thức TCP/IP chỉ rõ rằng hai nghi thức cho lớp chuyên trở: UDP và TCP. Chúng ta
trớc hết tiếp tục tập trung UDP, đơn giản hơn hai, trớc khi bình luận về TCP trong chơng 12.
Hình 11.1 trình mối quan hệ UDP cho những nghi thức khác và những lớp TCP/IP
protocol : những lời nói dối UDP giữa lớp ứng dụng và lớp IP và, tơng tự TCP, những sự
phục vụ nh trung gian giữa những chơng trình ứng dụng và những thao tác mạng.
Vị trí hình 11.1 UDP trong TCP/IP protocol

Một nghi thức lớp chuyên trở thông thờng có vài trách nhiệm. Một sẽ tạo ra một truyền
thông từ quá trình tới quá trình (một quá trình là một ứng dụng đợc chạy lập trình); UDP sử
dụng chuyển những số để hoàn thành điều này. Trách nhiệm khác sẽ cung cấp những cơ chế
điều khiển ở mức chuyên trở. UDP làm cho nhiệm vụ này ở một chính cực tiểu mức. Không
có cơ chế điều khiển luồng và không có acknowledgment cho những gói nhận đợc.
UDP, tuy nhiên,
cung cấp điều khiển lỗi tới phạm vi nào đó. Nếu UDP phát hiện ra một lỗi trong gói nhận
đợc, nó yên lặng thả nó.
Lớp chuyên trở cũng cung cấp một cơ chế kết nối cho những quá trình. Những quá trình
phải có thể gửi những dòng dữ liệu cho lớp chuyên trở. Nó là trách nhiệm lớp chuyên trở ở
nhà ga gửi để làm kết nối với receiver, chặt dòng vào trong những đơn vị có thể chở đi,
number chúng, và gửi cho chúng một bởi một. Đó là trách nhiệm mà lớp chuyên trở ở
kết thúc nhận đợc để đợi cho đến khi tất cả khác nhau những đơn vị thuộc về tới cùng quá
trình có đến, kiểm tra và đi qua mà là lỗi tự do, và chuyển giao chúng tới nhận đợc xử lý nh
một dòng. Sau khi toàn bộ dòng đã đợc gửi, lớp chuyên trở đóng kết nối. UDP không làm
bất kỳ (cái) nào (của) ở trên. Nó có thể chỉ nhận một bộ phận dữ liệu của những quá trình và
chuyển giao nó, unreliably, tới cái máy thu. Bộ phận dữ liệu phải (thì) đủ nhỏ để trùng
hợp một gói UDP.
Nếu UDP là bất lực nh vậy, tại sao một quá trình muốn sử dụng nó? Với những sự bất lợi
đến là vài lợi thế. UDP là một nghi thức rất đơn giản sử dụng một tối thiểu (của) ở trên đầu.
Nếu một quá trình muốn gửi một thông báo nhỏ và không chăm sóc nhiều về tiền nợ, CNTT

cảng. Trong TCP/IP protocol, những số cảng là những số nguyên giữa 0 và 65,535.
Chơng trình khách hàng tự định nghĩa với một số cảng, đợc chọn nhẫu nhiên bởi phần
mềm UDP chạy trên (về) chủ nhà khách hàng. Đây là chóng tàn chuyển ghi số.
Quá trình ngời phục vụ phải cũng tự định nghĩa với một số cảng. Số cảng này, tuy nhiên,
không thể (thì) đợc chọn ngẫu nhiên. Nếu máy tính ở (tại) vị trí ngời phục vụ chạy một quá
trình ngời phục vụ và gắn một ngẫu nhiên số nh số cảng, quá trình ở (tại) vị trí khách hàng
mà muốn truy cập ngời phục vụ đó và sử dụng những dịch vụ (của) nó sẽ không biết số
cảng. Tất nhiên, một giải pháp sẽ gửi một gói đặc biệt và đòi hỏi số cảng (của) một ngời
phục vụ đặc biệt, nhng (cái) này yêu cầu ở trên đầu hơn. TCP/IP đã quyết định sử dụng phổ
thông chuyển ghi số cho những ngời phục vụ: những (điều) đó là những số đợc gọi nổi tiếng
chuyển. Có vài ngoại lệ tới quy tắc này: cho ví dụ, có những khách hàng mà là những số đợc
gán nổi tiếng chuyển. Chúng ta sẽ nói về về sau này khi chúng ta thăm dò máy dịch vụ
khách hàng paradigm, trong chơng 15. Mỗi quá trình khách hàng biết rằng nổi tiếng
chuyển số (của) quá trình ngời phục vụ tơng ứng. Cho ví dụ, trong khi quá trình khách hàng
daytime, đợc bàn luận về ở trên, có thể sử dụng một chóng tàn tạm thời cảng ghi số
52.000 tới bản thân idenufy, daytime, (mà) quá trình ngời phục vụ phải sử dụng (mà)
nổi tiếng (lâu dài) chuyển ghi số 13. Hình 11.3 cho thấy khái niệm này.
Nó cần phải rõ ràng bởi bây giờ IP mà những số địa chỉ và cảng chơi những vai trò khác
nhau trong việc lựa chọn nơi đến chung cuộc (của) dữ liệu. Địa chỉ IP nơi đến định nghĩa
chủ nhà giữa những chủ nhà khác nhau trên thế giới. Sau khi chủ nhà đã đợc lựa chọn, số
cảng định nghĩa một trong những quá trình trên (về) chủ nhà đặc biệt này (nhìn thấy hình
11.4)
Những phạm vi IANA
IANA có chia cắt những cảng (mà) những số vào trong ba rung chuông: nổi tiếng,
registered, và động (hoặc riêng t) nh hình 11.5 đợc đa vào
- Nổi tiếng chuyển. Những cảng hạn chế từ 0 đến 1,023 gán và điểu khiển bởi IANA.
Những (điều) đố là nổi tiếng chuyển.
- Đợc đăng ký chuyển. Những cảng hạn chế từ 1,024 đến 49,151 không gán hoặc sự l-
ờng gạt - hát tiếp nhau bởi IANA. Chúng có thể chỉ đợc đăng ký với IANA để ngăn
ngừa sự sao lại.

- Nơi đến chuyển ghi số. Là cảng ghi số chủ nhà đợc sử dụng bởi quá trình chạy trên
(về) nơi đến. Nó cũng là 16 bit dài (lâu). Nếu chủ nhà nơi đến là ngời phục vụ (một
khách hàng gửi một yêu cầu), số cảng, trong đa số các trờng hợp, là một nổi tiếng
trong ghi số. Nếu chủ nhà nơi đến là khách hàng (một ngời phục vụ gửi một sự đáp
lại), số cảng, trong đa số các trờng hợp, là một aphemeral chuyển ghi số. Trong
trờng hợp này, những sự sao chép ngời phục vụ (mà) aphemeral chuyển ghi số
nó nhận trong gói yêu cầu thời gian thực.
- Length. (Cái) này là một lĩnh vực 16 bit mà định nghĩa toàn bộ Length (của)
gói dữ liệu ngời dùng, dữ liệu dấu cộng đầu mục. 16 bit có thể định nghĩa a toàn bộ
Length aphemeral (của) 0 tới 65,535 bytes. Làm sao đỉnh -e, cực tiểu
Length là 8 bytes, mà chỉ báo gói dữ liệu ngời dùng aphemeral với đầu mục
duy nhất và không có dữ liệu nào. Bởi vậy, Length (của) dữ liệu có thể giữa 0 và
65,507 (65,535 - 20 - 8) bytes (20 bytes cho đầu mục IP và 8 bytes cho đầu mục
UDP).
Lĩnh vực Length trong một gói dữ liệu ngời dùng UDP thật sự (thì) không phải là cần
thiết. Một dữ liệu - đậu xanh ngời dùng đợc đóng gói trong một gói dữ liệu IP. Có lĩnh vực
khác trong gói dữ liệu IP mà định nghĩa tolal length. Có lĩnh vực khác trong gói dữ liệu
IP mà định nghĩa Length (của) đầu mục. Nếu nh vậy chúng ta trừ giá trị (của) lĩnh vực
(thứ) hai từ trớc hết, chúng ta co thể suy diễn Length (của) gói dữ liệu UDP mà đợc đóng
gói trong một gói dữ liệu IP.
Tuy nhiên, những ngời thiết kế (của) nghi thức UDP cảm thấy đó là nhiều officient hơn
mà cho nơi đến UDP để tính toán Length (của) dữ liệu từ thông tin cung cấp trong gói dữ
liệu ngời dùng UDP hơn là hỏi IP phần mềm để cung cấp điều này bên trong cho - gói dữ
liệu th UDP layer, nó đã đợc thả đầu mục IP.
- Tổng kiểm tra. Lĩnh vực này đợc sử dụng để phát hiện ra những lỗi qua toàn bộ gói dữ liệu
ngời dùng (dữ liệu dấu cộng đầu mục). Tổng kiểm tra đợc bàn luận về trong mục (khu vực)
tiếp theo.
==========o0o==========o0o===========o0o==========o0o===========
11.3 tổng kiểm tra
Chúng ta có đã tallked về khái niệm (của) tổng kiểm tra và cách mà nó đợc tính toán

7. Thả pseudoheader và bất kỳ sự lót đợc thêm vào.
8. Chuyển giao gói dữ liệu ngời dùng UDP tới phần mềm IP cho sự bọc trong nang.
Ghi chú cái đó (của) những hàng trong pseudoheader không làm cho bất kỳ
diffirence nào trong tổng kiểm tra là calcultion. Đồng thời, việc thêm những năm 0
không thay đổi kết quả. Cho điều này reason, phần mềm mà tính toán rằng tổng kiểm tra
có thể dễ dàng thêm toàn bộ đầu mục IP (20 bytes) vào gói dữ liệu UDP, đợc đặt bytes đầu
tiên tới zêrô, đợc đặt lĩnh vực TTL tới zêrô, thay thế tổng kiểm tra IP UDP Length, và
tính toán tổng kiểm tra. Kết quá cũng là nh thế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status