I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
PHM TH MAI
QUảN Lý NHà NƯớC Về TRậT Tự AN TOàN GIAO THÔNG
ĐƯờNG Bộ TRÊN ĐịA BàN THàNH PHố HảI DƯƠNG
Chuyờn ngnh: Ly luõn va lich s nha nc va phap luõt
Mó s: 60 38 01 01
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: GS. TS. PHM HNG THI
H NI 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi dưới sự hướng dẫn của GS.TS. Phạm Hồng Thái.
Các số liệu nêu ra trong luận văn là trung thực, đảm bảo
tính khách quan, khoa học. Các tài liệu tham khảo có
nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Tác giả luận văn
Phạm Thị Mai
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
2.1.
THỰC TRẠNG XÂY DỰNG, BAN HÀNH PHÁP LUẬT VỀ
TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ.........................24
2.1.1. Sơ lược về sự phát triển các văn bản pháp luật điều chỉnh Quản
lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ...........................24
2.1.2. Những hạn chế của hệ thống văn bản pháp luật.................................28
2.2.
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRẬT TỰ AN
TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ HẢI DƯƠNG............................................................................31
2.2.1. Khái quát chung về thực trạng vi phạm pháp luật về an toàn giao
thông đường bộ ở nước ta hiện nay....................................................31
2.2.2. Thực trạng vi phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông
đường bộ trên địa bàn Thành phố Hải Dương....................................35
2.2.3.
Thực trạng tai nạn giao thông trên địa bàn Thành phố Hải Dương...........38
2.2.4. Hoạt động của các cơ quan nhà nước đảm bảo an toàn giao thông
đường bộ trên địa bàn Thành phố Hải Dương....................................46
Chương 3: MỤC TIÊU VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG
............................................................................................................61
ATGTĐB:
An toàn giao thông đường bộ
CNH:
Công nghiệp hóa
CSGT:
Cảnh sát giao thông
GTĐB:
Giao thông đường bộ
TTAT:
Tai nạn giao thông
TTATGTĐB:
Trật tự an toàn giao thông đường bộ
UBND:
Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ
Bảng 3.1:
Bảng 3.2:
Bảng 3.3:
Số hiệu sơ đồ
Sơ đồ 3.1:
phố Hải Dương
Biển báo hạn chế tốc độ với các loại phương tiện
Biển báo tốc độ trên đường ngoài đô thị
Biển báo khoảng cách an toàn giữa các xe
Tên sơ đồ
Mục tiêu và biện pháp quản lý giao thông đô thị
39
78
78
78
Trang
64
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động giao thông vận tải là huyết mạch kinh tế của mỗi quốc gia,
nó phản ánh trình độ phát triển của xã hội và đáp ứng những nhu cầu kinh tế,
văn hoá, xã hội, đi lại, sinh hoạt của các tầng lớp dân cư. Trong đó giao thông
đường bộ luôn là mảng quan trọng bậc nhất trong toàn bộ hệ thống giao
thông, xét trên tất cả các phương tiện kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh quốc
phòng. Giao thông vận tải là nhu cầu không thể thiếu của con người, cùng với
sự phát triển của khoa học kỹ thuật, phương tiện giao thông ngày càng đa
các biện pháp mạnh trong giai đoạn hiện nay để phòng chống các vi phạm về
trật tự an toàn giao thông nhằm làm giảm và hạn chế tối đa các tai nạn giao
thông mang lại hạnh phúc cho mỗi gia đình.
Hiện nay tình hình trật tự an toàn giao thông ở nước ta diễn biến rất
phức tạp, tai nạn giao thông không ngừng gia tăng và len lỏi đến hàng vạn gia
đình từ thành thị đến nông thôn, gây thiệt hại đến lớn đến tính mạng và tài sản
của nhân dân. Lòng tin của quần chúng đối với công tác quản lý nhà nước về
trật tự an toàn giao thông ít nhiều bị xói mòn, đặc biệt là an toàn giao thông
đường bộ. Trên cơ sở đó, từ quá trình học tập và trong thực tế, bằng phương
pháp nghiên cứu thống kê, phương pháp phân tích kết hợp phương pháp logic
tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về trật tự an toàn
giao thông đường bộ trên địa bàn Thành phố Hải Dương” làm đề tài luận
văn thạc sĩ Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật. Từ lý luận và thực tiễn,
tác giả mong muốn tìm ra giải pháp có tính khả thi cao góp phần từng bước
hoàn thiện việc giữ gìn trật tự an toàn giao thông ở Thành phố Hải Dương
hiện nay theo hướng tích cực.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Giao thông đường bộ là vấn đề gần gũi với hoạt động đi lại của con
người. Đồng thời công tác quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông
2
đường bộ là điều mà người muốn nghiên cứu giao thông đường bộ quan
tâm hơn hết.
Thành phố Hải Dương đang trong quá trình đô thị hoá nhanh chóng,
lưu lượng người tham gia giao thông ngày càng tăng, tất yếu an toàn giao
thông đường bộ ở thành phố Hải Dương rất cần được quan tâm. Trên thực
tế ở Việt Nam có nhiều công trình khoa học, sách báo, tạp chí, của nhiều
tác giả đã công bố xoay quanh vấn đề về trật tự an toàn giao thông đường
lý nhà nước lĩnh vực GTVT, giao thông đô thị dưới góc độ của ngành luật
hành chính, đáng chú ý là các công trình sau:
- Nguyễn Thủy Anh (2003): "Đổi mới quản lý nhà nước về giao thông
công cộng trong đô thị lớn ở nước ta", Tạp chí Quản lý nhà nước, số 5/2003.
- Hoàng Đình Ban (2004) "Luật Giao thông đường bộ sau hai năm
nhìn lại", Tạp chí GTVT, số 3/2004.
- Lê Ngọc Tiến (2004) "Giáo dục pháp luật - biện pháp quan trọng
trong giảm thiểu tai nạn giao thông đường bộ", Tạp chí GTVT, số 7/2004.
- Nguyễn Thu Hằng (2009) “Thực trạng và giải pháp về trật tự an toàn
giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Hải Dương”. Tạp chí Khoa học công
nghệ và Môi trường, số 4/2009
- Sách của nhóm tác giả Trần Văn Luyện, Trần Sơn và Nguyễn Văn
Chính đồng chủ biên (2003), Trật tự an toàn giao thông đường bộ - Thực
trạng và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia. Sách đã phân tích khái niệm trật
tự an toàn giao thông đường bộ (TTATGTĐB), thực trạng và giải pháp bảo
đảm TTATGTĐB. Khái niệm TTATGTĐB mà các tác giả cuốn sách đưa ra có
giá trị tham khảo đối với việc thực hiện đề tài luận văn.
Như vậy, tuy đã có nhiều đề tài và công trình nghiên cứu về trật tự an
toàn giao đường bộ, nhưng đây là một vấn đề có nội hàm rộng nên các công
trình trên về cơ bản đã trình bày được vai trò, tác động ưu thế, cũng như
những mặt hạn chế của giao thông đường bộ và an toàn giao thông đường bộ
của Việt Nam trong thời gian qua, đồng thời cũng đưa ra những phương
4
hướng và giải pháp trong việc quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông.
Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay vấn đề trật tự an toàn giao thông lại trở
nên cấp bách hơn bao giờ hết, trật tự an toàn giao thông không chỉ riêng một
cá nhân hay một tổ chức mà là của toàn xã hội. Trật tự an toàn giao thông là
lĩnh vực an toàn giao thông đường bộ bằng công cụ pháp luật hiện nay.
+ Phân tích thực trạng trật tự an toàn giao thông đường bộ và thực trạng
thực hiện pháp luật trên lĩnh vực này của Thành phố Hải Dương, thời gian từ
năm 2010 đến nay. Qua phân tích thực trạng, luận văn rút ra ưu điểm, hạn chế
và chỉ ta những nguyên nhân hạn chế trong việc thực hiện pháp luật của
Thành phố trên lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ.
+ Đề xuất và luận chứng các giải pháp bảo đảm thực hiện tốt việc
quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ của Thành phố
Hải Dương hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn quản
lý nhà nước trên lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ là vấn đề có
nội dung rộng và phức tạp. Vì vậy trong phạm vi luận văn không thể xem
xét toàn diện tất cả các nội dung của vấn đề. Tác giả tập trung nghiên cứu
hoạt động quản lý của Thành phố Hải Dương, những tồn tại, vướng mắc,
nguyên nhân và giải pháp nâng cao hiệu quản quản lý về trật tự an toàn
giao thông đường bộ.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà
nước và pháp luật.
Luận văn cũng dựa trên cơ sở lý luận của khoa học luật chuyên ngành,
trực tiếp là cơ sở lý luận của bộ môn lý luận chung về nhà nước và pháp luật.
6
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận văn gồm 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao
thông đường bộ.
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về trật tự an toàn giao thông
đường bộ trên địa bàn Thành phố Hải Dương.
Chương 3: Mục tiêu và giải pháp bảo đảm quản lý nhà nước về trật tự
an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn Thành phố Hải Dương.
8
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRẬT TỰ
AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
1.1. KHÁI NIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRẬT TỰ AN TOÀN
GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
1.1.1. Khái niệm quản lý
Quản lý là nhu cầu khách quan của xã hội, ngay từ xã hội mông muội,
đến xã hội hiện đại ngày nay. Quản lý xuất hiện thì các học thuyết về quản lý
cũng ra đời, phát triển và không ngừng hoàn thiện. Mỗi học thuyết quản lý
nghiên cứu theo những "lát cắt" khác nhau. Học thuyết quản lý của Khổng Tử
là một trong các thuyết ra đời sớm nhất, cho đến ngày nay vẫn có ảnh hưởng
lớn đến thực tiễn quản lý ở cả các nước phương Ðông, và cả các nước phương
Tây. Khổng Tử không chỉ là nhà khoa học quản lý lỗi lạc, mà còn là nhà thực
tiễn quản lý tài ba, và là người đầu tiên trên thế giới mở trường tư dạy quản
lý. Những môn sinh của Ông có nhiều người xuất thân từ thân phận thấp hèn,
song có người làm tới chức Tể tướng, như Tử Du (Ngôn Yên); làm quan Đại
trượng phu, như Tể Dư, Nhiễu Cầu, Trọng Di (Tử Lộ), hoặc trở thành những
công mà xã hội trao cho nhà nước.
- Quản lý nhà nước là quản lý bằng pháp luật, theo pháp luật. Pháp luật
vừa là chuẩn mực của quản lý, vừa thể hiện và bảo đảm uy quyền trong quản
lý. Có thể khẳng định: Có nhiều học thuyết quản lý khác nhau; có học thuyết
xem nhẹ pháp luật, có học thuyết coi trọng pháp luật, song không có nhà nước
nào không quản lý bằng pháp luật. Không có pháp luật nhà nước không có
công cụ, uy quyền để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý.
Do pháp luật có vị trí quan trọng đặc biệt trong quản lý nhà nước nên
việc định ra pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, bảo vệ pháp luật được gắn
với những chức năng quản lý, quy trình quản lý của nhà nước, gắn với việc
thực hiện quyền lực nhà nước.
- Vì vai trò của pháp luật như trên nên quản lý nhà nước đối với xã hội
(quản lý dân cư, quản lý lãnh thổ, quản lý các mặt, các lĩnh vực khác nhau của
đời sống xã hội) cũng đồng nghĩa với quản lý nhà nước đối với xã hội. Và vì
12
vậy, nội dung của quản lý, hay hoạt động quản lý nhà nước bao gồm:
Một là, hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
Đây là hoạt động nhằm đặt ra các chuẩn mực pháp lý để điều chỉnh các hành
vi, hoạt động quản lý cụ thể nhằm tác động lên đối tượng quản lý, hướng đối
tượng quản lý theo những mục tiêu (khách thể quản lý) cụ thể.
Hoạt động xây dựng, ban hành pháp luật là hoạt động đầu tiên của chu
trình quản lý nhà nước, và với nội dung trên, trở thành hoạt động có tính chất
quyết định hiệu lực, hiệu quả quản lý, chi phối các hoạt động khác của quản
lý. Tất nhiên, hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước còn phụ thuộc vào chất
lượng các văn bản quy phạm pháp luật - sản phẩm của hoạt động ấy. Đó phải
là một hệ thống pháp luật có đầy đủ các thuộc tính hiện đại, như tính thống
nhất, đồng bộ, toàn diện, ổn định, minh bạch, phù hợp với trình độ phát triển
định, bằng một hệ thống thủ tục (thủ tục hành chính) mang tính pháp lý. Tuy
nhiên, những điều đó không làm mất đi tính chất sáng tạo của quản lý. Về
thực chất, hoạt động thực hiện pháp luật trong quản lý nhà nước là hoạt động
nhằm vận dụng, áp dụng sáng tạo pháp luật trong quá trình quản lý, phù hợp
với những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể xuất hiện trong quá trình quản lý.
- Về chủ thể quản lý: Trong giai đoạn tổ chức thực hiện pháp luật, việc
thực hiện nội dung quản lý chủ yếu thuộc về chức năng của các cơ quan quản
lý hành chính nhà nước, ở Trung ương là Chính phủ - cơ quan quản lý thẩm
quyền chung cao nhất, thực hiện quản lý toàn diện các lĩnh vực khác nhau của
đời sống xã hội; các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, là những
cơ quan quản lý thẩm quyền riêng, thực hiện quản lý một, một số lĩnh vực khác
nhau của đời sống xã hội. Cơ quan quản lý thẩm quyền chung ở địa phương là
Ủy ban nhân dân (UBND); giúp UBND thực hiện những chức năng quản lý cụ
thể có cơ quan chuyên môn (cơ quan tham mưu), với cấp tỉnh là các sở, với cấp
huyện là các phòng, và ở cấp cơ sở là các công chức chuyên môn.
14
Hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật được triển khai thông qua công
vụ của công chức hành chính nhà nước. Vì lẽ đó, hiệu lực, hiệu quả quản lý ở
giai đoạn này phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng đội ngũ công chức hành
chính, vào chất lượng công vụ của công chức. Chất lượng đó phụ thuộc phần
quan trọng vào chất lượng của pháp luật về công chức, công vụ. Vì lẽ đó,
Luật Công chức và Luật Công vụ luôn là những thể chế quản lý có vị trí quyết
định chất lượng thực hiện pháp luật trong quản lý. Ở Việt Nam, theo định
hướng xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc
soạn thảo ban hành Luật Công chức và Luật Công vụ đang là đòi hỏi cấp bách
của công cuộc cải cách hành chính, thực thi Chiến lược xây dựng và hoàn
thiện pháp luật, với quan điểm "xác định rõ cơ quan, công chức nhà nước chỉ
quản lý phải biết sử dụng đồng bộ, linh hoạt, sáng tạo các công cụ, phương
tiện quản lý. Vì lẽ đó, bên cạnh pháp luật, nhà nước phải biết sử dụng kết hợp
các công cụ, chuẩn mực quản lý khác, nhất là đạo đức, truyền thống dân tộc,
vừa tăng cường quản lý nhà nước, vừa coi trọng tính độc lập, tự chủ của các
cộng đồng, thực hiện xã hội hóa,... Qua việc vận dụng các hình thức và
phương pháp đó cũng góp phần để nhà nước hoàn thiện pháp luật, hoàn thiện
quy trình ra và thực hiện các quyết định quản lý cụ thể. Đây cũng là quan
điểm đã được Đảng ta khẳng định trong nhiều Nghị quyết Đại hội Đảng thời
kỳ đổi mới. Nghị quyết Đại hội VIII khẳng định: "Tăng cường pháp chế xã
hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam. Quản lý xã hội bằng
pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức" [23, tr.129].
- Tùy theo bản chất của chế độ nhà nước, theo mô hình và cơ chế quản
lý, quản lý nhà nước phải tuân theo những nguyên tắc nhất định. Trong nhà
nước xã hội chủ nghĩa, quản lý nhà nước được tiến hành bởi các cơ quan quản
lý hành chính nhà nước, và do đó phải tuân theo các nguyên tắc sau:
+ Các nguyên tắc có tính chính trị - xã hội, gồm: nguyên tắc Đảng lãnh
đạo trong quản lý hành chính nhà nước; nguyên tắc nhân dân lao động tham
gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà nước; nguyên tắc tập trung dân chủ;
nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc trong quản lý hành chính nhà nước;
17
nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.
+ Các nguyên tắc mang tính tổ chức - kỹ thuật, gồm nguyên tắc quản lý
theo địa phương; nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với nguyên tắc quản
lý theo chức năng và phối hợp quản lý liên ngành.
- Quản lý nhà nước là quản lý do nhà nước tiến hành trên cơ sở pháp
luật và bằng pháp luật. Do chỗ nhà nước là người đại diện xã hội thực hiện
quản lý toàn diện các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội nên bộ máy nhà
Từ sự phân tích trên về quản lý nhà nước có thể rút ra khái niệm quản
lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ (TTATGTĐB). Đó là:
toàn bộ các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm xác
lập cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý về TTATGTĐB, cũng như các hoạt
động tổ chức thực hiện và xử lý vi phạm pháp luật giao thông đường bộ nhằm
bảo đảm thiết lập và duy trì TTATGTĐB. Thông qua việc xác lập trật tự quản
lý nhà nước về giao thông đường bộ góp phần giữ vững trật tự, kỷ cương xã
hội, bảo đảm giao thông thông suốt, an toàn, góp phần thúc đẩy phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội.
1.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRẬT TỰ AN
TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
1.2.1. Đặc điểm về chủ thể quản lý nhà nước về TTATGTĐB
Quản lý nhà nước về TTATGTĐB có thể do nhiều chủ thể tham gia,
không thể chỉ do nhà nước, nhất là trong xu thế xã hội hóa. Tuy nhiên, trong hệ
thống chủ thể quản lý nhà nước về TTATGTĐB, nhà nước, trực tiếp là các cơ
quan quản lý hành chính nhà nước là chủ thể chủ yếu. Những cơ quan này thực
hiện quản lý với tư cách đại diện công quyền, mang quyền lực nhà nước. Vì lẽ
đó, các quyết định quản lý về TTATGTĐB có giá trị pháp lý, có tính chất bắt
buộc, cưỡng chế; đa số các quan hệ quản lý phát sinh trong quá trình quản lý là
những quan hệ hành chính, các bên chủ thể không có địa vị pháp lý bình đẳng;
phương pháp điều chỉnh là phương pháp quyền uy, mệnh lệnh - phục tùng.
Từ đặc trưng trên cho thấy hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước nói
19