Nguyễn Vũ Tùng – lớp cao học luật ứng dụng – 26UD03041
Đề 12: Anh/chị hãy đánh giá tình hình giải quyết tranh chấp về hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại một Tòa án cụ thể. Chỉ ra nguyên
nhân của những bất cập và kiến nghị hoàn thiện.
PHẦN MỞ ĐẦU
Hợp đồng chuyển nhượng về quyền sử dụng đất là một trong những yếu tố
quan trọng để xác định quyền sử dụng đất và khả năng sử dụng tài sản liên quan
đến vấn đề đất đai nói chung. Trong thời gian qua, các vấn đề tranh chấp về hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã và đang có xu hướng ngày càng tăng
với tính chất ngày càng phức tạp. Việc phải làm rõ ràng các vấn đề về hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ giúp cho hướng giải quyết các vụ án liên
quan đến yếu tố này theo hướng chính xác hơn.
1
Nguyễn Vũ Tùng – lớp cao học luật ứng dụng – 26UD03041
1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
1.1. Khái niệm
Khái niệm về hợp đồng quyền sử dụng đất được quy định tại Điều 500 Bộ
Luật Dân Sự (BLDS) 2015 như sau:
“Hợp đồng về quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó
người sử dụng đất chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho,
thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất hoặc thực hiện quyền khác theo quy định
của Luật đất đai cho bên kia; bên kia thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng
với người sử dụng đất.”
Đối với BLDS 2005, Điều 697 quy định khái niệm về hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất như sau:
Nguyễn Vũ Tùng – lớp cao học luật ứng dụng – 26UD03041
đất và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật về đất đai và quy
định khác của pháp luật có liên quan.”
Khi so sánh với BLDS 2005, BLDS 2015 đã chung nhất hóa các yêu cầu
về nội dung của hợp đồng quyền sử dụng đất. Đối với BLDS 2005, được quy
định cụ thể và gọi là “hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Điều 698 BLDS 2005 quy định về nội dung hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất:
“Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bao gồm các nội dung sau
đây:
1. Tên, địa chỉ của các bên;
2. Quyền, nghĩa vụ của các bên;
3. Loại đất, hạng đất, diện tích, vị trí, số hiệu, ranh giới và tình trạng đất;
4. Thời hạn sử dụng đất của bên chuyển nhượng; thời hạn sử dụng đất còn lại
của bên nhận chuyển nhượng;
5. Giá chuyển nhượng;
6. Phương thức, thời hạn thanh toán;
7. Quyền của người thứ ba đối với đất chuyển nhượng;
8. Các thông tin khác liên quan đến quyền sử dụng đất;
9. Trách nhiệm của các bên khi vi phạm hợp đồng.”
1.4.
Quyền và nghĩa vụ của các bên
BLDS 2005 quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất như sau:
Điều 699 quy định về nghĩa vụ của bên chuyển nhượng đất:
“Nghĩa vụ của bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất Bên chuyển nhượng
nhượng quyền sử dụng đất, nghĩa vụ này tương ứng với quyền của bên chuyển
nhượng.
1.5.
Hiệu lực của chuyển quyền sử dụng đất
Điều 503 BLDS 2015 quy định về hiệu lực của chuyển quyền sử dụng đất
như sau:
“Việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký theo quy
định của Luật đất đai.”
4
Nguyễn Vũ Tùng – lớp cao học luật ứng dụng – 26UD03041
2. THỰC TIỄN TÌNH HÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ HỢP
ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI TÒA ÁN
TỈNH THÁI NGUYÊN
2.1. Giới thiệu chung về địa giới hành chính của tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Bộ, tiếp giáp với thủ đô Hà
Nội và là tỉnh nằm trong quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội.
Năm 2019, Thái Nguyên là đơn vị hành chính Việt Nam đông thứ 27 về số
dân và đứng thứ 3 các tỉnh trong vùng Trung du miền núi phía Bắc, xếp thứ 14
về Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), xếp thứ 12 về GRDP bình quân đầu
người, đứng thứ chín về tốc độ tăng trưởng GRDP. Với 1.286.751 người dân.
Sau 10 năm dân số tỉnh Thái Nguyên tăng 163.635 người, tỷ lệ tăng dân số bình
quân là 1,36%/năm. GRDP toàn tỉnh đạt 108.000 tỉ Đồng (tương ứng với 4,800
tỉ USD), GRDP bình quân đầu người đạt 83 triệu đồng (tương ứng với 3.700
USD), tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 9%.
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Bên cạnh đó là cơn sốt nhà đất
vẫn chưa có dấu hiệu ngừng lại do nhu cầu học tập, làm việc tại thành phố ngày
càng nhiều, trong khi đó, do vừa trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nên
giờ đây, các ngân hàng đang ngày càng thắt chặt việc cho vay. Điều này khiến
không ít các đối tượng là môi giới, “cò” đất có sẵn tiềm lực tài chính cùng sự
hiểu biết về luật pháp, đã có những động thái “lách luật” hoặc lợi dụng sự thiếu
hiểu biết của nhiều người có nhu cầu mua bán đất đai để trục lợi, gây hại trực
tiếp không chỉ về mặt tài chính cho cả người mua và người bán. Hoặc cũng có
các trường hợp tranh chấp giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất do những
khúc mắc, bất đồng giữa những người từng là thân quen, bạn bè. Những vụ kiện
cáo kéo dài thường gây mất thời gian, tiền bạc của cả đôi bên.
Dưới đây là một ví dụ về bản án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất tại Thái Nguyên.
Ví dụ 1: * Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/11/2011, bản tự khai, biên bản
lấy lời khai và quá trình giải quyết vụ án,nguyên đơn bà Ngô Thị Đ trình bày:
Gia đình bà có một mảnh đất dọc đường cái thuộc thửa đất số 80, tờ bản
đồ số 15 thuộc tờ bản đồ 299 xã Phúc Chu có diện tích 430m2 bà đã được
UBND huyện Định Hóa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày
25/10/1993. Nguồn gốc đất là của bố mẹ bà là ông Ngô Quang D và bà Lê Thị
Th khai phá từ năm 1970, có trồng trẩu, xoan, mía, trồng đỗ trên đất, năm 1975
cho gia đình vợ chồng bà Nhiếp Thị Mi và ông L mượn làm chỗ để xe trâu, làm
chuồng trâu, đến năm 1976 bà Ma Thị H (mẹ vợ ông T) ra ở giáp phần đất
này. Năm 1978 khi ông L và bà M về Trung Quốc ở thì bà H tiếp tục quản lý sử
dụng, do lúc này gia đình bố, mẹ bà chưa có nhu cầu quản lý, sử dụng vì vậy
cũng không có ý kiến gì. Năm 1990 dự định đổi phần đất tranh chấp này cho bà
H, nhưng không thành, cùng năm đó ông D đi miền Nam sinh sống, bà Th ở
phần đất phía trong, ở tại thửa đất số 09, diện tích đất có tranh chấp bố, mẹ
đã cho bà vì vậy không ai có ý kiến gì. Năm 1990 – 1991 anh T lấy chị H, là
con gái bà H rồi dựng nhà tre, ra ở riêng trên phần đất nàycủa bà do bố mẹ
cho, có chặt cây trẩu, bụi tre, gia đình bà có biết nhưng ông T đã làm xong, bà
Về phía bị đơn ông Triệu Văn T trình bầy:
Nguồn gốc 430m2 đất thổ cư thuộc thửa đất số 80, tờ bản đồ số 15 bản đồ
299 (nay nằm trong trong tổng diện tích 1.186,3 m2 tại thửa 135 bản đồ địa
chính xã Phúc Chu) do gia đình mẹ vợ ông (bà H) khai phá trồng đỗ, lạc từ
năm 1975 khi đó bà M và ông L cùng ở đấy. Khi ông L và bà M về Trung Quốc
ở thì mẹ vợ ông, bà H tiếp tục quản lý sử dụng, trồng màu trên diện tích đất
này. Ông kết hôn với bà H năm 1990 thì năm 1991 được bà H cho đất (không
có giấy tờ gì), vợ chồng ra phát cây, chặt tre, làm nhà ở trên diện tích đất này
từ năm 1991. Trong quá trình quản lý, sử dụng đất đến năm 1993 ông có làm
thủ tục kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không thấy có
giấy tờ gì, ông hỏi trưởng xóm thì ông Lộc Văn V nói bị thất lạc, (nay ông V đã
chết) tuy nhiên ông vẫn quản lý sử dụng và không có tranh chấp với ai, nên
không hỏi nữa. Năm 1996 ông và gia đình làm nhà bếp đất trình tường, đến
năm 2002 xây nhà kiên cố và cần vay tiền Ngân hàng tìm không thấy sổ đỏ, vì
vậy mới đi kê khai và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên
vào ngày 20/5/2002. Theo kê khai năm 1993 là 430m2 đất thổ cư thuộc thửa
đất số 80, tờ bản đồ số 15 bản đồ 299 xã Phúc Chu nhưng Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất lại ghi là thửa số 480 diện tích 480 m2 (400 m2 thổ cư và 80
m2 đất màu) tại thửa số 15 là không đúng với đơn xin cấp đất và số thửa, diện
tích đất tại sổ đăng ký ruộng đất năm 1993 vì vậy đã bị thu hồi đề xem xét cấp
lại.
7
Nguyễn Vũ Tùng – lớp cao học luật ứng dụng – 26UD03041
Ông T xác định quá trình quản lý sử dụng đất từ năm 1991 cho đến năm
2010 không có tranh chấp gì với ai, hàng năm ông nộp thuế đất theo quy định,
ông san đất ở chân đồi, chuyển 03 ngôi mộ đi (một ngôi mộ ở vị trí giữa gian
nhà khách hiện nay) làm mặt bằng, làm nhà xây kiên cố, xây tường rào, trồng
xã Phúc Chu yêu cầu giải quyết tranh chấp diện tích đất này từ năm 2001 là
không đúng. Quá trình san đất, cải tạo đất, xây dựng nhà cửa không ai đến
tranh chấp. Nay bà Đ kiện đòi vợ chồng bà phải trả lại 430m2 đất thổ cư tại
thửa số 80, tờ bản đồ số 15 bản đồ 299 xã Phúc Chu bà không chấp nhận còn
8
Nguyễn Vũ Tùng – lớp cao học luật ứng dụng – 26UD03041
bà Đ có khởi kiện đất ở đâu, khi nào thì tùy bà Đ, bà cũng không có ý kiến,
không yêu cầu gì.
Anh Đ, anh Đ, chị Trvắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình làm
việc với Tòa án, anh xác định diện tích đất tranh chấp nêu trên là của bố, mẹ,
khi sinh ra đã sống và ở trên diện tích đất này không có tranh chấp với ai, năm
2002 đất đã được cấp cho hộ gia đình, chị Tr mới về làm dâu, ở nhà ông T. Nay
có tranh chấp tùy bố, mẹ xem xét quyết định, anh, chị không có ý kiến gì thêm.
Người làm chứng
Bà Ma Thị H xác định lời trình bầy của anh T, chị H là đúng, chồng chết
từ năm 1973, diện tích đất tranh chấp là của bà và bố mẹ khai phá, có cô chú M
– L cùng ở với gia đình, cùng khu liền nhau. Sau khi cô chú M, L về Trung Quốc
thì bà tiếp tục quản lý sử dụng, làm vườn trồng chuối, mía, đỗ, lạc, chuồng
trâu, sau đó cho con gái H và con dể T làm nhà ra ở từ năm 1991 cho đến nay
(khi cho cũng không có giấy tờ gì), không có việc đổi đất với bà Đ, không có
tranh chấp gì với bà Đ, nguồn gốc đất là của gia đình khai phá, không phải của
ông D, bà Th, không mượn đất của ai. Nay diện tích đất tranh chấp anh T đã
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không còn là đất của bà, là của
vợ chồng anh T, chị H có tranh chấp với bà Đ thì tùy tòa xem xét giải quyết bà
không có ý kiến gì.
Ông Ngô Quang D và bà Lê Thị Th vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong
quá trình làm việc với Tòa án, ông bà xác định phần đất tranh chấp có nguồn
đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bà Đ.
Đại diện UBND huyện Định Hóa giữ nguyên quan điểm đã nêu tại Công
văn số: 605/UBND – TNMT ngày 19/8/2013 Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cấp cho hai hộ gia đình là trùng nhau về vị trí thửa đất, không đúng quy
định tại khoản 3 phần II Thông tư số 302/TT-ĐK ngày 28/10/1989 của Tổng cục
quản lý ruộng đất, hướng dẫn việc cấp giấy CNQSD đất và điểm 1 mục 4 phần
I Thông tư số 346/1998/TT- TCĐC ngày 16/3/1998 của Tổng cục Địa chính về
hướng dẫn việc cấp giấy CNQSD đất vì vậy việc thu hồi Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của bà Đ, ông T là đúng.
Tại phần tranh luận: Các bên đương sự không có tranh luận gì. Trước khi
nghị án, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể
từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội
đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết
vụ án đã tuân theo pháp luật tố tụng. Việc cấp giao tống đạt văn bản tố tụng,
việc xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ, thủ tục tố tụng, thực hiện quyền,
nghĩa vụ của đương sự đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Cần làm rõ thêm về cây trồng, tài sản có trên
đất của bà Đắc có những gì. Đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để
thu thập thêm tài liệu chứng cứ.
Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến thu thập tài liệu chứng cứ, tiến hành
hòa giải nhưng không thành. Vì vậy vụ án được đưa ra xét xử công khai ngày
hôm nay.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa. Tòa án nhận định:
10
Nguyễn Vũ Tùng – lớp cao học luật ứng dụng – 26UD03041
Ông D, bà Th và bà Đ xác định trên đất có chuồng trâu, có trồng cây
trẩu, xoan, cây tre nhưng bà H, ông T, bà H không thừa nhận và chỉ xác định có
cây trồng ngắn ngày của gia đình như mía, chuối, lạc và có nền chuồng trâu, có
bụi tre của gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy qua xem xét thẩm định tại chỗ,
thực tế cây trồng, tài sản có trên đất trước thời điểm ông T bà H quản lý, sử
dụng, làm nhà hiện nay chỉ còn gốc tre đã mục nhưng lại thuộc thửa số 82 diện
tích 110 m2 không thuộc thửa đất đang tranh chấp. Tài sản trên đất theo bà Đ
khai có trẩu, xoan nhưng vào thời điểm ông T, bà H chặt cây, phát quang làm
11
Nguyễn Vũ Tùng – lớp cao học luật ứng dụng – 26UD03041
nhà bà cũng không mời chính quyền địa phương lập biên bản về việc tài sản
của bà bị chặt phá, bà Đ cũng không có tài liệu chứng cứ gì chứng minh. Các
tài sản nhà ở, công trình phụ, chuồng trại chăn nuôi, cây trồng có trên đất hiện
nay bà Đ đều thừa nhận của vợ chồng ông T, bà H vì vậy ý kiến của ông D, bà
Th và bà Đ là không có căn cứ.
Qua xác minh quá trình đăng ký, quản lý sử dụng đất cho thấy:
Tại sổ đăng ký ruộng đất năm 1993 xã Phúc Chu, tại trang 438 bà Đ đã kê
khai thửa đất với tổng diện tích 1.260m2 trong đó có 430m2 đất thổ cư thuộc
thửa đất số 80, tờ bản đồ số 15 ngày 25/10/1993 đã được UBND huyện Định
Hóa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C460652 vào sổ 00433. Ngay
từ khi kê khai, đăng ký và được được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
bà Ngô Thị Đ đã không trực tiếp quản lý, sử dụng bà Đ thừa nhận nhưng bà
khai có cây trồng của bố mẹ trên đất nhưng không có căn cứ để chứng minh .
Thực tế cho thấy từ năm 1975 người sử dụng đất là bà H, đến năm 1991 người
trực tiếp quản lý sử dụng thửa đất này là ông T. Ông T đã xây dựng công trình,
vật kiến trúc khác như nhà ở, nhà bếp, công trình phụ, chuồng lợn, nhà xưởng
trên diện tích đất này mà bà Đ không có ý kiến gì, bà Đ cho rằng năm 2001 bà
diện tích đất tại sổ đăng ký ruộng đất năm 1993. Cùng một vị trí đất, thửa đất
lại cấp Giấy CNQSD đất cho hai hộ gia đình là không đúng quy định của pháp
luật, vi phạm điểm 1 mục 4 phần I Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày
16/3/1998 của Tổng cục Địa chính về hướng dẫn việc cấp giấy CNQSD đất. Vì
vậy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình ông Tín và bà Đắc
đều đã bị thu hồi để xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Với các vấn đề đã được chứng minh, làm rõ nêu trên thì việc bà Ngô Thị Đ
khởi kiện, yêu cầu ông Triệu Văn T phải trả lại diện tích 430m2 đất thổ cư tại
thửa số 80, tờ bản đồ số 15 bản đồ 299 xã Phúc Chu cho bà Đ và ý kiến của
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Đ là không có căn cứ, không
được chấp nhận, việc xác định tài sản có trên diện tích đất tranh chấp đã được
thực hiện, không cần xem xét thêm. Hội đồng xét xử xét thấy cần bác toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thi Đ đối với ông Triệu Văn T là phù hợp, đúng
quy đinh của pháp luật. Cần công nhận cho ông T và gia đình tiếp tục quản lý
sử dụng diện tích đất là 430m2 đất thổ cư tại thửa số 80, tờ bản đồ số 15 bản
đồ 299 xã Phúc Chu và có quyền làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất theo
quy định.
Đối với 110 m2 đất màu thuộc thửa số 82 tờ bản đồ số 15 bản đồ 299 xã
Phúc Chu mà ông Tín và gia đình ông T cũng đang quản lý, sử dụng, đã xây
tường bao từ năm 2014 cho đến nay, giáp phần đất có tranh chấp, bà Đ đã
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25/10/1993 nhưng bà
không khởi kiện ông T, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ kiện này. Đây
là quyền tự định đoạt, quyền của đương sự vì vậy không đặt ra xem xét giải
quyết trong vụ án này. Nếu sau này có tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng
vụ kiện khác.
Về án phí: Bà Đ thuộc diện hộ nghèo của xã Phúc Chu năm 2018, vì vậy
cần miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Đ
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39, 147, 271,273 Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 500 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 100,
nghĩa vụ liên quan; báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tròn kể
từ ngày tuyên án.Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anhTriệu
Đức Đ, anh Triệu Đức Đ, chị Triệu Thị Tr; báo cho biết có quyền kháng cáo
trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Có thể thấy đây là một trong những vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất
điển hình do giữa những người tranh chấp đôi khi không nhận thức rõ được
pháp luật về đất đai nói riêng và luật dân sự nói chung, do đó dẫn đến những
ngộ nhận sai lầm về quyền sử dụng đất.
2.3.
Nguyên nhân của những bất cập trong giải quyết tranh chấp hợp
đồng quyền sử dụng đất
2.3.1. Tính “hình thức” của việc hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã
Đối với các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất, thường được
hướng theo ban đầu là các bên cố gắng hòa giải tại các cơ sở, mà ở trong vụ án
14
Nguyễn Vũ Tùng – lớp cao học luật ứng dụng – 26UD03041
đã đề cập ở trên là tại Ủy ban nhân dân cấp xã. Nhưng hầu hết các nỗ lực hòa
giải đều sớm thất bại, và thường các bên đương sự muốn nhanh chóng đưa nhau
ra Tòa để giải quyết. Thậm chí nhiều trường hợp, các đương sự thiếu hiểu biết
pháp luật còn sẵn sàng sử dụng các biện pháp xấu nhằm “khủng bố tinh thần”
đối phương để tạo được lợi thế nhất định khi lấy lời khai trước Tòa. Điều này
cho thấy các hoạt động hòa giải của Ủy ban nhân dân cấp xã đang hoạt động
thiếu hiệu quả.
2.3.2. Giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục hành chính không triệt
để
Việc giải quyết tranh chấp đất đai của UBND hiện nay cũng đã bộc lộ
Nhà nước bởi không chỉ nhanh chóng giúp các bên đương sự tìm được tiếng nói
chung, mà còn giúp công tác xét xử trở nên nhanh hơn, không kéo dài gây khó
khăn cho cả cơ xét xử lẫn những người tham gia tranh chấp. Tuy nhiên, xét thấy
tình hình thực tế là công tác hòa giải bắt buộc lại đang mang nặng tính hình
thức, không hiệu quả, không phù hợp với những vụ kiện phức tạp. Do đó, nên
xem xét không bắt buộc phải qua bước hòa giải của Ủy ban nhân dân xã cho các
vụ kiện có tính chất phức tạp, mà thay vào đó các bên đương sự sẽ trực tiếp tới
Tòa án để giải quyết nhằm tránh những hệ lụy gặp phải nếu kéo dài quá trình
giải quyết vấn đề.
3.2.
Tăng cường công tác quản lý nhà nước về giao dịch quyền sử
dụng đất
Các cấp chức năng nên xem xét ban hành nhiều văn bản quy định về giá
đất; về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; về mức giao đất
ở; về hạn mức công nhận đất cho thửa đất có vườn, ao gắn với nhà ở; về thủ tục
hành chính trong giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi
đất; về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất… Ngoài ra, xem xét ban hành
nhiều chỉ thị thực hiện một số giải pháp cấp bách trong công tác quản lý đất đai,
giải phóng mặt bằng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Cùng với đó, các ngành chức năng cũng cần đẩy mạnh công tác tuyên
truyền Luật Đất đai với nhiều hình thức khác nhau. Qua đó, giúp cho cán bộ,
16
Nguyễn Vũ Tùng – lớp cao học luật ứng dụng – 26UD03041
đảng viên và nhân dân trong địa bàn hiểu rõ hơn về những quyền, nghĩa vụ của
người quản lý, sử dụng đất, đồng thời phát hiện những nội dung không phù hợp