Chính sách an ninh của Mỹ đối với khu vực Đông Nam Á dưới thời Tổng thống Barack Obama (2009 - 2012) - Pdf 61

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

TRẦN THỊ HUYỀN TRANG

CHÍNH SÁCH AN NINH CỦA MỸ
ĐỐI VỚI KHU VỰC ĐÔNG NAM Á DƯỚI
THỜI TỔNG THỐNG BARACK OBAMA (2009-2012)

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế

Hà Nội-2014


ĐẠI

HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

TRẦN THỊ HUYỀN TRANG

CHÍNH SÁCH AN NINH CỦA MỸ
ĐỐI VỚI KHU VỰC ĐÔNG NAM Á
DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG BARACK OBAMA (20092012)

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế
Mã số: 60 31 02 06

1.1.2.1.Tầm quan trọng về an ninh của khu vực Đông Nam Á đối với Mỹ .... 24
1.1.2.2.Yếu tố Trung Quốc............................................................................ 28
1.1.3.Vai trò của ASEAN............................................................................. 31
1.2.Cơ sở chủ quan: Sự thay đổi của nước Mỹ và quan điểm đối ngoại
của chính quyền Obama ............................................................................ 34
1.2.1.Tác động của khủng hoảng tài chính................................................. 34
1.2.2.Can thiệp quân sự nước ngoài ........................................................... 37
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CHÍNH SÁCH AN NINH CỦA MỸ ĐỐI
VỚI KHU VỰC ĐÔNG NAM Á DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG
BARACK OBAMA (2009-2012) ................................................................ 41


2.1. Mục tiêu của chính sách ...................................................................... 41
2.2. Các công cụ thực hiện chính sách ....................................................... 45
2.3. Các biện pháp triển khai chính sách .................................................. 49
2.3.1. Các tuyên bố mục đích ...................................................................... 50
2.3.2. Củng cố quan hệ đồng minh ............................................................. 51
2.3.2.1. Đồng minh Thái Lan ........................................................................ 51
2.3.2.1. Đồng minh Philippines .................................................................... 54
2.3.3. Mở rộng quan hệ với các đối tác mới ................................................ 59
2.3.3.1. Singapore ........................................................................................... 59
2.3.3.2. Indonesia ............................................................................................ 62
2.3.3.3. Malaysia ............................................................................................. 64
2.3.3.4. Việt Nam ............................................................................................. 66
2.3.4. Tăng cường sự hiện diện quân sự của Mỹ tại khu vực Đông
Nam Á ........................................................................................................ 70
2.3.5. Tăng cường can dự với ASEAN ........................................................ 75
2.3.6. Giải quyết các vấn đề an ninh nổi cộm ............................................. 78
2.3.6.1. Vấn đề biển Đông ............................................................................ 78
2.3.6.2. Vấn đề Myanmar ............................................................................. 84

ASB

Air- Sea Battle
Tác chiến Không - Biển

ASEAN

Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

ASEAN+1

ASEAN Plus One
ASEAN+ 1(ASEAN - Trung Quốc)

ASEAN+3

ASEAN Plus Three
ASEAN+3 (ASEAN - Trung Quốc - Nhật Bản - Hàn
Quốc)

ASEAN+6

ASEAN Plus Six
ASEAN+6 (ASEAN - Trung Quốc - Nhật Bản - Ấn Độ
New Zealand - Australia)

ASPI

Australian Strategic Policy Institute

European Union
Liên minh châu Âu

FMF

Foreign Military Financing
Viện trợ quân sự nước ngoài

FTA

Free Trade Area
Khu vực mậu dịch tự do

NAFTA

North American Free Trade Area
Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ

NASA

National Aeronautics and Space Administration
Cơ quan Hàng không và vũ trụ Mỹ

NATO

North Atlantic Treaty Organization
Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương

LMI



Trans Pacific Partnership
Quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương

USD

United State Dollar
Đô la Mỹ

RCEP

Regional Comprehensive Economic Partnership
Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực

RIMPAC

The Rim of the Pacific Exercise
Tập trận vành đai Thái Bình Dương


MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2009, Barack Obama trở thành vị Tổng thống thứ 44 của nước

Mỹ. Việc đổi chủ của Nhà Trắng kéo theo hệ quả muốn phân biệt bản thân và
những chính sách của người chủ mới với chính quyền tiền nhiệm. Khi Tổng
thống George.W.Bush bước chân vào Nhà Trắng, ông tuyên bố “không chơi
quả bóng nhỏ”, thực thi “chiến lược biến đổi cách mạng” và “sẽ thay đổi

quan hệ với các đồng minh và các đối tác quan trọng, trong đó có Việt Nam.
Tuy nhiên, sự can dự của Mỹ tạo ra cả cơ hội và thách thức. Hợp tác với Mỹ
sẽ giúp cho các quốc gia khu vực, trong đó có Việt Nam “lột xác” hoặc trở
thành nạn nhân của “trò đùa với lửa”2.Thực tế này đã phản ánh tính hai mặt
trong quan hệ quyền lực với các nước lớn. Việc nghiên cứu chính sách an
ninh của Mỹ đối với khu vực Đông Nam Á dưới thời Tổng thống Barack
Obama là một lựa chọn cần thiết, phù hợp trong bối cảnh quốc tế và khu vực
hiện nay, khi Trung Quốc tiến hành xâm lược lãnh hải, thềm lục địa Việt
Nam, gây căng thẳng và bất ổn định an ninh biển nói riêng và an ninh khu vực
và thế giới nói chung. Nghiên cứu tìm hiểu về đề tài: “Chính sách an ninh của
Mỹ đối với khu vực Đông Nam Á dưới thời Tổng thống Barack Obama (20092012)” sẽ mang lại cái nhìn toàn diện và cụ thể hơn về chính sách can dự của
Mỹ cùng những hệ quả của chính sách đối với khu vực và Việt Nam.
2. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Luận văn là một công trình nghiên cứu về chính sách an ninh của Mỹ
đối với khu vực Đông Nam Á giai đoạn 2009 - 2012 dưới góc độ nghiên cứu
của Việt Nam. Thông qua việc nghiên cứu, tác giả mong muốn tìm hiểu
Năm 2010, một bài viết trên tờ Hoàn cầu thời báo, Trung Quốc đã trích lời giáo sư Zhang Zhaozhong,
chuyên gia quân sự tại Học viện Quốc phòng Trung Quốc, cho rằng việc Mỹ gửi tàu USS George
Washington viếng thăm Việt Nam là một động thái nhằm khiêu khích Trung Quốc. Quan điểm của bài viết
cũng đã cáo buộc Việt Nam không nên đùa với lửa nếu không muốn trở thành nạn nhân của trò chơi quyền
lực giữa các nước lớn.
2

2


những ý đồ thực sự của Mỹ trong việc điều chỉnh chính sách an ninh đối với
khu vực Đông Nam Á, sự điều chỉnh này tạo ra những thay đổi địa - chính trị
như thế nào cũng như tác động của chính sách can dự Mỹ đối với lựa chọn

đối tác chiến lược và chiến lược tiềm năng gồm có 4 quốc gia: Singapore,
Indonesia, Malaysia và Việt Nam;
+ Yếu tố Trung Quốc đối với chính sách an ninh của Mỹ đối với khu
vực Đông Nam Á dưới thời Tổng thống Obama:Yếu tố Trung Quốc đã được
đề cập trong toàn bộ quá trình nghiên cứu và được coi là một yếu tố địa chính
trị có ảnh hưởng căn bản tới điều chỉnh chính sách của chính quyền Obama
đối với khu vực Đông Nam Á (2009-2012).
Phạm vi nghiên cứu
Về không gian, luận văn nghiên cứu sự điều chỉnh trong chính sách an
ninh của Mỹ đối với khu vực Đông Nam Á nói riêng và khu vực Châu Á-Thái
Bình Dương nói chung. Việc nghiên cứu chính sách châu Á-Thái Bình Dương
là cần thiết vì sự điều chỉnh của chính quyền Obama đối với khu vực Đông
Nam Á nằm trong tổng thể nội dung của chiến lược “xoay trục” sang châu ÁThái Bình Dương.
Về thời gian nghiên cứu: Đề tài lựa chọn phạm vi thời gian nghiên cứu
từ năm 2009 đến năm 2012.
Về mặt nội dung: Luận văn đề cập đến các vấn đề an ninh mà nước Mỹ
quan tâm đến khi điều chỉnh chính sách an ninh đối với khu vực Đông Nam
Á. Cụ thể, đó là các vấn để nổi cộm như: đảm bảo an ninh hàng hải, kiềm chế
Trung Quốc, can dự đối với các thể chế khu vực, thúc đẩy dân chủ và nhân
quyền... Đồng thời, tác giả cũng đánh giá những tác động của sự điều chỉnh
đối với các quốc gia ASEAN và các quan hệ hợp tác của khu vực Đông Nam
Á.

4


3. Lịch sử nghiên cứu
Mỹ là siêu cường thế giới, việc điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ
là một vấn đề nghiên cứu được quan tâm bởi nhiều học giả trên thế giới cũng
như tại Việt Nam.

implications for the United States” (2007), “ The role of Southeast Asia in US
strategy toward China” (2001); Trung tâm East-West Center: “Meeting the
China Challenge: The U.S. in Southeast Asian Regional Security Strategies”
(2005) cũng đi sâu tìm hiểu về chính sách của Mỹ đối với khu vực Đông Nam
Á.
Các công trình nghiên cứu cá nhân, phải kể đến “String of Pearls:
Meeting the Challenge of China’s Rising power Across the Asian littoral”
(2006) của Christophe.J.Pehrson đã đưa ra những đánh giá về động thái tăng
cường quân đội và dự báo việc mở rộng khả năng kiểm soát trên biển của
Trung Quốc, trên một khu vực rộng lớn từ đảo Hải Nam (Biển Đông) kéo dài
đến Ấn Độ Dương. Ông gọi đó là “chuỗi ngọc trai” của Trung Quốc, và xem
xét đây là một dấu hiệu quan trọng của sự trỗi dậy về quân sự Trung Quốc,
đồng thời đề xuất những điều chỉnh trong chính sách của Mỹ nhằm đối phó
với Trung Quốc. Nghiên cứu của Leszek Buszynski, “The South China Sea:
Oil, Maritime Claims, and U.S - China Strategic Rivalry” (2009), “Rising
Tension in the Southchina Sea: Prospects for a Resolution of the Issue”
(2010) đã đưa ra những đánh giá về các tranh chấp trên biển Đông và đi theo
hướng nghiên cứu tranh chấp trên biển Đông là cuộc cạnh tranh quyền lực
giữa Trung Quốc và Mỹ trong việc kiểm soát và sử dụng quyền lực biển.
Jame. J .Przystup, trong bài viết trên tờ Strategic Forum số 239, “The United

6


States and the Asia Pacific Region: National Interests and Strategic
Imperative” (2009) đã có những phân tích về các lợi ích chiến lược của Hoa
Kỳ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương đồng thời đánh giá những yêu cầu
chiến lược đối với sự điều chỉnh trong chính sách châu Á của chính quyền
Tổng thống Obama. Các nghiên cứu của Julia Amando III, nhà nghiên cứu
người Philippines “ASEAN in the Power web” đăng trên tờ The Diplomat số

(92), tháng 3/2013 có bài viết “Chính quyền Obama đối với Trung Quốc
trong lĩnh vực an ninh - quân sự” (Nguyễn Thị Thanh Thủy3) đã tập trung
nghiên cứu chính sách của Mỹ trên khía cạnh đánh giá vai trò của Trung
Quốc đối với sự điều chỉnh chính sách an ninh - quân sự của chính quyền
Obama, đồng thời có sự so sánh với chính sách của Tổng thống
George.W.Bush để thấy được những khác biệt giữa hai giai đoạn. Nghiên cứu
của Trần Khánh4, “Xu hướng và bản chất của quan hệ Mỹ - Trung thời kỳ sau
chiến tranh lạnh”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 1(96), 3/2014 đã khái quát
xu hướng tiến triển trong quan hệ Mỹ - Trung, trong đó đề cập nhiều đến triển
vọng G2 và quan hệ “nước lớn kiểu mới” và bản chất của mối quan hệ này.
Các nghiên cứu của Nguyễn Vũ Tùng5, đăng trên Tạp chí Châu Mỹ ngày nay,
“Cuộc thảo luận về sức mạnh thông minh và ảnh hưởng của nó tới chính sách
đối ngoại của Mỹ dưới chính quyền Obama”, (số 02, năm 2009); “Chiến lược
toàn cầu của Mỹ sau chiến tranh lạnh” (số 4, năm 2008) đã đưa ra những đánh
giá về đường lối ngoại giao của chính quyền Obama, phân tích những điểm kế
thừa và phát triển trong chính sách của Obama và chính quyền tiền nhiệm. Lê
Đình Tĩnh6, trong khuôn khổ bài viết “Đông Nam Á và chiến lược “tái cân
bằng” của Mỹ”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 3 (94), 9/2013 đã có những
PGS.TS.,Chủ nhiệm Bộ môn Châu Mỹ học, Khoa Quốc tế học, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn,
ĐHQGHN
4
PGS.TS.,Viện Nghiên cứu Đông Nam Á,Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam
5
PGS.TS.,Viện Nghiên cứu Chiến lược Ngoại giao, Học viện Ngoại giao
6
Phó Viện trưởng, Viện Nghiên cứu chiến lược, Học viện Ngoại giao
3

8


Quốc (Tờ Hoàn cầu thời báo), Australia (các công trình của ASPI), Indonesia
(Tờ Jakarta Post)…từ đó, có những so sánh nhất định để đưa ra những phân
tích và đánh giá có cơ sở.
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử
Phương pháp này có vai trò định hướng cho tác giả tìm hiểu những văn
bản, chính sách thể hiện quan điểm cũng như phương thức tiến hành chính
sách của giới lãnh đạo Hoa Kỳ đối với khu vực khu vực Đông Nam Á.
Phương pháp lịch sử đã bổ trợ rất nhiều cho phương pháp nghiên cứu sánh.
Qua việc thu thập, phân tích và xử lý các nguồn tài liệu, có thể thấy chính
sách an ninh Đông Nam Á dưới thời Tổng thống Barack Obama có cùng một
mạch tiếp xúc với chính sách châu Á - Thái Bình Dương. Đó đều là sự xem
xét trở lại chính sách ngoại giao và chính trị cường quyền của chủ nghĩa đơn
phương thời Tổng thống George.W.Bush, trong đó nhấn mạnh hợp tác, ngoại
giao, coi trọng việc tiếp xúc hiểu biết lẫn nhau và nhấn mạnh việc phát triển
cơ chế đa phương, không đơn thuần dựa vào liên minh quân sự song phương.
Tuy nhiên, thừa nhận vũ lực là biện pháp cuối cùng, Mỹ vẫn theo đuổi tham
vọng bảo vệ sức mạnh toàn cầu hùng mạnh nhất thế giới. “Các lực lượng vũ
trang (Mỹ) sẽ luôn luôn là hòn đá tảng của an ninh” và “chúng cần phải được
tăng cường, bổ sung” (NSS - 2010). Vì thế, nghiên cứu sự điều chỉnh chính
sách can dự của Tổng thống Obama đối với khu vực Đông Nam Á giai đoạn
2009 - 2012 cần đặt trong phạm vi nghiên cứu trước và sau nhiệm kỳ đầu của
Tổng thống để có thể đánh giá được những ý đồ thực sự và tác động của chính
sách can dự Mỹ đối với khu vực Đông Nam Á trong nhiệm kỳ 1 của Tổng
thống Obama.
- Phương pháp nghiên cứu phân tích và tổng hợp
10


Bên cạnh việc trình bày các nội dung chính sách, tác giả luận văn mong
muốn có thể phát triển đề tài theo chiều sâu. Do đó, phương pháp nghiên cứu

của chính quyền tiền nhiệm George. W.Bush, từ đó đưa ra được những đánh
giá về sự can dự của Mỹ đối với khu vực. Một số điểm khác biệt nổi bật đã
được khai thác trong chương 2 của luận văn là: việc chính quyền Obama tăng
cường can dự với ASEAN (Ký kết TAC, tham gia EAS); áp dụng mô hình
hợp tác “Place, not base” đối với các đối tác chiến lược và đối tác chiến lược
tiềm năng, cụ thể: Singapore, Indonesia, Malaysia và Việt Nam; kế hoạch cân
chỉnh lực lượng quân sự theo hướng hợp tác với các quốc gia thân hữu để sử
dụng các phương tiện quốc phòng sẵn có tại các quốc gia này, nỗ lực tái thiết
lập sự hiện diện quân sự Mỹ (trên cơ sở luân phiên) tại các căn cứ quân sự của
các đồng minh; Tham gia giải quyết các thách thức an ninh nổi cộm của khu
vực: vấn đề biển Đông; vấn đề Myanmar; các vấn đề an ninh cấp tiểu khu vực
(vấn đề sông Mê Công)…
Chương 3: Đánh giá tác động của chính sách an ninh của Mỹ đối với
khu vực Đông Nam Á trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Obama. Việc
chính quyền Obama điều chỉnh chính sách đối với khu vực Đông Nam Á, cho
thấy sự tăng cường mức độ hợp tác giữa Mỹ và các quốc gia khu vực, đặc biệt
trong lĩnh vực an ninh - quân sự. Xét trên một số khía cạnh, điều này góp
phần cân bằng ảnh hưởng của Trung Quốc khi Trung Quốc liên tục có những
động thái cứng rắn đe dọa tới tình hình an ninh khu vực. Nhận thức về sự can
dự của Mỹ như một yếu tố nhằm kiềm chế Trung Quốc sẽ là một vấn đề gây
chia rẽ đối với ASEAN, tạo ra những thách thức đối với các quan hệ bên
trong khu vực. Đối với Việt Nam, việc được chú ý trong chiến lược “xoay
trục” vừa là cơ hội, song cũng là thách thức. Việc cải thiện và phát triển quan
hệ Việt - Mỹ là phù hợp với nhu cầu an ninh và tình hình phát triển của cả hai
nước. Tuy nhiên, do những yếu tố địa chính trị, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ
sẽ là một mối quan hệ quan trọng nhưng phức tạp trong thời gian tới./.

12




8

Fareed Zakaria (2008), tldd, tr.5-7

13


trị toàn cầu. Trải dài từ tiểu lục địa Ấn Độ đến bờ biển phía Tây của Mỹ, châu
Á-Thái Bình Dương là khu vực rộng lớn, năng động và đang có nhiều thay
đổi. Sáu trên mười thị trường xuất khẩu lớn phát triển nhanh nhất của Hoa Kỳ
là ở châu Á, và 60% hàng hóa Mỹ xuất ra nước ngoài đi đến khu vực này9.
Ngoài ra châu Á-Thái Bình Dương là nơi có năm trong số tám quốc gia sở
hữu vũ khí hạt nhân (Hoa Kỳ, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Ấn Độ,
Pakistan)10, ba quốc gia có ngân sách quốc phòng lớn nhất11 và sáu trong số
các quốc gia có lực lượng quân đội lớn nhất thế giới (Hoa Kỳ, Trung Quốc,
Việt Nam, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc, Ấn Độ). Hai khu vực xung đột từ thời
chiến tranh lạnh (Eo biển Đài Loan, Hàn Quốc - Bắc Triều Tiên), căng thẳng
tiếp tục giữa Ấn Độ và Pakistan và tranh chấp lãnh thổ kéo dài từ vùng lãnh
thổ phía Bắc của Nhật Bản qua biển Đông cho tới Nam Á12. Trong bốn thế
kỷ, châu Á đã trở thành đối tượng của ảnh hưởng phương Tây, nhưng ngày
nay, các sự kiện ở châu Á đang góp phần quan trọng xác định an ninh và
thịnh vượng của thế giới nói chung. Công chúng Mỹ hiểu những xu hướng
này, Mỹ định nghĩa châu Âu là khu vực quan trọng nhất đối với Hoa Kỳ trong
các cuộc thăm dò dư luận được đưa vào chính sách đối ngoại cho đến năm
2011. Kể từ đó, các cuộc thăm dò cho thấy công chúng Mỹ đã xác định châu
Á là khu vực quan trọng cho lợi ích của Mỹ13.

Brock R.Williams (2013), “Trans-Pacific Partnership (TPP) Countries: Comparative Trade and Economic
Analysis”, CRS Report for Congress, Congressional Research for Congress, June 10

nguyên nhân khiến Hoa Kỳ cân nhắc lại chính sách “ưu tiên châu Âu trước
nhất” và cũng là cơ sở để Nhà Trắng tin rằng thế kỷ châu Á - Thái Bình
Dương đang đến và “tương lai chính trị sẽ được quyết định tại châu Á, không
phải là Afghanistan hay Iraq, và Hoa Kỳ hoàn toàn đúng đắn khi ở trung tâm
của hành động”14.
1.1.1.2. Xu thế hướng về Đông Nam Á của các cường quốc
trên thế giới
Sau cuộc chiến tranh Việt Nam, Mỹ rút khỏi Đông Dương và đến năm
1992 Mỹ tiếp tục rút khỏi hai căn cứ quân sự của Philipines là Clark và Subic.
Sự vắng mặt này đã tạo ra “khoảng trống quyền lực” tại khu vực.
Khoảng trống quyền lực mà Mỹ bỏ ngỏ đã tạo cơ hội cho nhiều quốc
gia bày tỏ tham vọng muốn lấp đầy nó, tiêu biểu nhất là Trung Quốc. Chiến
Remarks by Hillary Clinton, America’s Pacific Century, Foreign Policy, October 11, 2011
/>14

15


lược ngoại giao của Trung Quốc ở Đông Nam Á thay đổi nhiều từ sau cuộc
khủng hoảng kinh tế tài chính Đông Nam Á 1997. Về kinh tế, Trung Quốc đã
vượt Mỹ để trở thành đối tác thương mại lớn thứ ba của ASEAN, sau Nhật
Bản và EU15. Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN do Trung Quốc
và 5 quốc gia ASEAN (Singapore, Indonesia, Philipines, Malaysia và Thái
Lan) đề xướng chính thức đi vào hoạt động tháng 1 năm 2010, là khu vực
mậu dịch tự do lớn nhất thế giới xét về diện tích và dân số (1,9 tỷ người, trong
đó Trung Quốc là 1,3 tỷ người) và đứng thứ ba về tổng thu nhập quốc dân sau
khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ và khu vực mậu dịch tự do châu Âu16. Về
chính trị, Trung Quốc cùng với ASEAN đã thiết lập “mối quan hệ đối tác
chiến lược”17 hướng tới hòa bình và phát triển cùng ký kết hàng loạt văn kiện
pháp lý mang tính ràng buộc như: “Tuyên ngôn hành vi ứng xử của các bên ở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status