Nghiên cứu văn bia huyện Tiên Du Tỉnh Bắc Ninh - Pdf 61

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

TRƢƠNG VĂN THẮNG

NGHIÊN CỨU VĂN BIA HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Hán Nôm

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

TRƢƠNG VĂN THẮNG

NGHIÊN CỨU VĂN BIA HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Hán Nôm
Mã số: 60 22 01 04

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Hữu Mùi
Hà Nội - 2015


LỜI CẢM ƠM
Trƣớc hết tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô trong bộ môn Hán


Trƣơng Văn Thắng


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài. .......................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................. 2
3. Đối tƣợng nghiên cứu – Phạm vi nghiên cứu – Phƣơng pháp nghiên cứu .... 3
4. Đóng góp của luận văn ................................................................................... 5
5. Bố cục của luận văn ....................................................................................... 5
6. Các quy ƣớc trình bày trong luận văn ............................................................ 6
PHẦN NỘI DUNG .......................................................................................... 7
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VĂN BIA HUYỆN TIÊN DU .................. 7
1.1. Vài nét về huyện Tiên Du .......................................................................... 7
1.1.1. Địa lý tự nhiên và địa lý hành chính ....................................................... 7
1.1.2. Các điều kiện văn hoá xã hội. ............................................................... 11
1.1.3. Truyền thống giáo dục khoa cử............................................................. 18
1.2. Những đặc điểm cơ bản của văn bia huyện Tiên Du ................................ 23
1.2.1. Hiện trạng văn bia huyện Tiên Du. ....................................................... 23
1.2.2. Đặc điểm văn bia huyện Tiên Du.......................................................... 28
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1................................................................................... 50
CHƢƠNG 2. GIÁ TRỊ VĂN BIA HUYỆN TIÊN DU ................................ 52
2.1. Văn bia huyện Tiên Du góp phần nghiên cứu lịch sử địa phƣơng. .......... 52
2.1.1. Ghi chép về các nhân vật địa phƣơng. .................................................. 52
2.1.2. Ghi chép về các nhân vật lịch sử………………………………….......54
2.1.3. Ghi chép về các dòng họ tại địa phƣơng……………………………...56
2.1.4. Tìm hiểu sự thay đổi diên cách địa phƣơng .......................................... 57
2.1.5. Tìm hiểu Phật giáo địa phƣơng. ............................................................ 58
2.2. Văn bia huyện Tiên Du góp phần tìm hiểu phong tục tập quán tín ngƣỡng

Kinh Bắc xƣa. Đồng thời, đây còn là những cứ liệu khá chính xác để tìm hiểu
quá trình vận động và phát triển của làng xã cổ truyền Việt Nam, góp phần bổ
sung cho chính sử.
Văn bia huyện Tiên Du sớm đã đƣợc các nhà nghiên cứu quan tâm ở các
góc độ khác nhau, hoặc là dịch thuật một số văn bia phục vụ việc xếp hạng di
tích nào đó; hoặc chỉ khai thác theo thể loại nhƣ Hậu thần, Hậu phật… Nhƣng
cho tới nay, chúng tôi vẫn chƣa thấy một công trình nào nghiên cứu về văn
bia của huyện Tiên Du một cách toàn diện. Vấn đề xác định số lƣợng của văn
bia hiện còn, số lƣợng thác bản đƣợc sƣu tầm, lƣu giữ và các địa điểm đặt văn
bia hiện vẫn còn chƣa chính xác, sự chênh lệch giữa xã này với xã khác trong
huyện, giữa huyện Tiên Du với huyện khác, sự trùng lặp về thác bản giữa hai
đợt sƣu tầm. Tình trạng này đã gây ra không ít khó khăn cho các nhà nghiên
cứu khi muốn sử dụng, khai thác nội dung văn bia của huyện Tiên Du.
Vì vậy có thể thấy việc nghiên cứu văn bia huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh
có ý nghĩa cấp thiết. Qua việc thống kê số lƣợng chính xác văn bia, xác định

1


địa điểm thực của văn bia hiện nay, cũng nhƣ việc chỉ ra những đặc trƣng cơ
bản về mặt hình thức và giá trị về mặt nội dung của văn bia huyện Tiên Du để
giúp nghiên cứu và phục vụ nghiên cứu là việc cần thiết, nằm trong chuyên
môn của ngành Hán Nôm.
Với những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề: Nghiên cứu văn bia huyện
Tiên Du tỉnh Bắc Ninh làm đề tài Luận văn Thạc sĩ thuộc chuyên ngành Hán
Nôm.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Văn bia huyện Tiên Du từ lâu đã thu hút đƣợc sự quan tâm, chú ý, tìm
hiểu của nhiều nhà nghiên cứu. Tuy nhiên cho tới nay, chỉ có một công trình
nghiên cứu về Văn bia Kinh Bắc khá toàn diện của Phạm Thùy Vinh đề cập

KHXH, 1993 do GS. TSKH Nguyễn Quang Hồng chủ biên, cuốn sách cũng
đã giới thiệu, tóm tắt nội dung hơn 10 văn bia của huyện Tiên Du.
Có thể thấy chỉ có 1 luận án/cuốn sách, 4 bài viết và một số bản dịch,
đoạn tóm tắt sơ lƣợc về văn bia huyện Tiên Du. Các công trình này, hoặc là
giới thiệu văn bia huyện Tiên Du nằm trong thành phần trong văn bia xứ Kinh
Bắc, hoặc chỉ đơn thuần là các bản dịch, bản tóm tắt sơ lƣợc, hay thông qua
một số đoạn trong văn bia mà giới thiệu về các di tích, nhân vật nào đó. Hoàn
toàn chƣa có một công trình chuyên khảo nào nghiên cứu văn bia huyện Tiên
Du tỉnh Bắc Ninh một cách hoàn chỉnh và có hệ thống.
3. Đối tƣợng nghiên cứu-Phạm vi nghiên cứu-Phƣơng pháp nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của chúng tôi trong luận văn là các thác bản văn
bia ở 13 xã và thị trấn huyện Tiên Du hiện đang đƣợc lƣu giữ tại VNCHN,
bao gồm: Phú Lâm, Cảnh Hƣng, Đại Đồng, Hiên Vân, Lạc Vệ, Liên Bão,
Minh Đạo, Nội Duệ, Phật Tích, Tân Chi, Tri Phƣơng, Việt Đoàn, Hoàn Sơn
và thị trấn Lim. Các bản dập này do EFEO thực hiện vào những năm trƣớc
cách mạng tháng 8 (1945), sau đó là do VNCHN in dập từ năm 1992 tới nay.
3


Ngoài ra chúng tôi cũng tiến hành điều tra, in dập các thác bản còn sót tại địa
phƣơng làm tài liệu nghiên cứu cho đề tài. Đồng thời tham khảo các văn bia
của huyện Tiên Du đƣợc chép trong các thƣ tịch lƣu trữ tại VNCHN.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi tiến hành khảo sát các thác bản
văn bia hiện đang lƣu trữ tại VNCHN theo địa giới hành chính huyện Tiên Du
hiện nay, có tham khảo với văn bia hiện còn ở một số di tích lớn. Từ đó chúng
tôi tiến hành nghiên cứu sự phân bố của văn bia huyện Tiên Du theo không
gian và thời gian, tìm hiểu đặc điểm và các giá trị của văn bia trong nghiên cứu
lịch sử, văn hoá xã hội huyện Tiên Du. Ngoài ra chúng tôi còn lập danh mục

Nghiên cứu văn bia huyện Tiên Du, luận văn có những đóng góp sau:
- Cung cấp cho độc giả cái nhìn toàn diện về văn bia huyện Tiên Du theo các
tiêu chí nhƣ: số lƣợng thác bản hiện còn, sự phân bố theo không gian, thời
gian, cùng những đặc điểm về hình thức văn bản.
- Phân tích, đánh giá giá trị tƣ liệu của văn bia huyện Tiên Du, không chỉ có
ý nghĩa đối với việc nghiên cứu lịch sử, văn hoá xã hội địa phƣơng mà còn
góp phần tìm hiểu lịch sử văn hoá xã hội cả nƣớc nói chung.
- Phần phụ lục chúng tôi lập thƣ mục văn bia huyện Tiên Du theo 8 yếu tố
nhằm cung cấp thông tin ban đầu cho độc giả khi muốn tìm hiểu văn bia
huyện Tiên Du, đồng thời phiên âm dịch nghĩa một số văn bia có tính chất
tiêu biểu đƣợc đặt tại các di tích lớn, kèm theo đó là ảnh thác bản hiện đang
đƣợc lƣu giữ tại VNCHN.
5. Bố cục của luận văn
Luận văn gồm có 4 phần: Phần mở đầu, Phần nội dung, Phần kết luận và
Phần phụ lục.
Phần Nội dung đƣợc chia làm 2 chƣơng:
Chƣơng 1: tổng quan về văn bia huyện Tiên Du.
Chƣơng 2: giá trị văn bia huyện Tiên Du.
Phần Phục lục bao gồm:
5


Phụ lục 1: bảng phân bố văn bia huyện Tiên Du theo không gian.
Phụ lục 2: bảng phân bố văn bia huyện Tiên Du theo thời gian.
Phụ lục 3: bảng chi tiết kích thước văn bia huyện Tiên Du.
Phụ lục 4: danh mục văn bia huyện Tiên Du.
Phụ lục 5: phiên âm, dịch nghĩa một số văn bia huyện Tiên Du, kèm theo ảnh
của thác bản hiện đang được lưu giữ tại VNCHN.
Phụ lục 6: một số hình ảnh về văn bia huyện Tiên Du.
6. Các quy ƣớc trình bày trong luận văn

Tiến sĩ

Ts

Thạc sĩ

Ths

6


PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VĂN BIA HUYỆN TIÊN DU
Tiên Du là huyện nằm ở phía bắc tỉnh Bắc Ninh, cách trung tâm tỉnh 5
km về phía nam, cách thủ đô Hà Nội 25 km về phía bắc. Đây là huyện có
cảnh quan địa mạo tƣơng đối đa dạng: nằm ở gần trung tâm đồng bằng Bắc
Bộ nhƣng lại có núi đồi xen lẫn đồng bằng màu mỡ phì nhiêu cùng hệ thống
các kênh rạch. Nhờ nằm gọn trong vùng văn hóa Kinh Bắc, có lợi thế về vị trí
địa lý và điều kiện tự nhiên, Tiên Du từng là tụ điểm của quá trình giao lƣu và
tiếp biến văn hóa Việt – Hán giai đoạn sớm, nên Tiên Du từ sớm trong lịch sử
đã giữ một vị trí quan trọng về kinh tế, văn hoá, giáo dục của Kinh Bắc xƣa
và tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Chính những yếu tố này đã tạo nên những đặc
điểm, giá trị riêng của văn bia huyện Tiên Du.
1.1.Vài nét về huyện Tiên Du
1.1.1. Địa lý tự nhiên và địa lý hành chính
1.1.1.1. Địa lý tự nhiên
Về diện tích: Tiên Du là một huyện có diện tích trung bình, theo số liệu
thống kê năm 2007, Tiên Du có diện tích 9.568, 65 ha [207].
Về địa giới: Huyện Tiên Du có giáp ranh với các địa phƣơng sau: Phía
bắc giáp thành phố Bắc Ninh và huyện Yên Phong; Phía nam giáp huyện

Đầu thế kỉ 20, tổng Khắc Niệm đƣợc chuyển về huyện Võ Giàng, sau đó
một thời gian lại đƣợc chuyển trả lại cho huyện Tiên Du.
Sau Cách mạng tháng Tám, khi cấp tổng bị bãi bỏ, đơn vị hành chính xã
cũ đƣợc giữ Nguyễn và trực thuộc huyện Tiên Du.
Năm 1948, các xã đƣợc thành lập trên cơ sở một số làng sát nhập lại.
Ngày 20 tháng 4 năm 1961, theo quyết định của Hội đồng Chính Phủ, xã
Phủ Đổng và xã Trung Hƣng (sau đổi là Trung Màu) đƣợc chuyển về huyện
Gia Lâm (Thành phố Hà Nội).

8


Ngày 14 tháng 3 năm 1963 Hội đồng chính phủ ra quyết định 25/QĐ
nhập hai huyện Tiên Du và Từ Sơn thành một huyện lấy tên là Tiên Sơn.
Cũng theo quyết định này, 2 xã Phú Lâm và Tƣơng Giang của huyện Yên
Phong đƣợc chuyển về huyện Tiên Sơn và chuyển 2 xã Đông Thọ và Văn
Môn của huyện Từ Sơn về huyện Yên Phong (nay là xã Tƣơng Giang thuộc
Thị xã Từ Sơn).
Ngày 4 tháng 6 năm 1969, Hội đồng chính phủ ban hành quyết định 84CP hợp nhất huyện Tiên Sơn và huyện Yên Phong thành một huyện lấy tên là
Tiên Phong. Nhƣng đến ngày 19 tháng 1 năm 1974, Hội đồng Chính Phủ ban
hành quyết định số 17-CP phê chuẩn đề nghị của UBND tỉnh Hà Bắc thôi
không hợp nhất huyện Tiên Sơn với huyện Yên Phong.
Ngày 3 tháng 5 năm 1985, Hội đồng Bộ trƣởng ban hành Quyết định số
130-HĐBT về việc điều chỉnh địa giới các huyện Tiên Sơn, Quế Võ và Thị xã
Bắc Ninh. Theo đó, xã Võ Cƣờng thuộc huyện Tiên Sơn đƣợc chuyển về Thị
xã Bắc Ninh.
Sau khi điều chỉnh lộ giới, huyện Tiên Sơn có 26 xã và 1 thị trấn. Đó là
các xã: Khắc Niệm, Hạp Lĩnh, Lạc Vệ, Tân Chi, Phú Lâm, Vân Tƣơng, Liên
Bão, Hiên Viên, Việt Đoàn, Minh Đạo, Cảnh Hƣng, Nội Duệ, Tƣơng Giang,
Hoàn Sơn, Phật Tích, Tri Phƣơng, Tam Sơn, Đồng Nguyễn, Tân Hồng, Đại

5. Minh Đạo, có 2 làng: Tử Nê và Nghĩa Chỉ (tên Nôm là Lỗ).
6. Liên Bão, có 6 thôn, làng: làng Chè (tức thôn Đống Trà), Hoài Thƣợng
(tên Nôm là Bịu Thƣợng), làng Dọc, Bái Uyên (tên Nôm là Bƣởi), Hoài Trung
(tên Nôm là Bịu giữa, còn gọi là Bịu Huyện), Hoài Thị (tên Nôm là Bịu Sim).
7. Lạc Vệ, có 6 làng: Xuân Hội, Hƣơng Vân, Nam Viên, An Động, Hộ Vệ,
Nội Viên.
8. Nội Duệ, có các thôn: Duệ Nam (tức Nội Duệ Nam), Lộ Bao, Đình Cả,
Duệ Khánh (tức Nội Duệ Khánh).
9. Phật Tích, gồm 5 làng: Vĩnh Phú, Cổ Miếu, Ngô Xá (tên Nôm là làng
Ngò), Phúc Nghiêm, Phật Tích.
10


10. Phú Lâm, có 5 làng: Đông Phù, Vĩnh Phục, Giới Tế, Tam Tảo, Ân Phú.
11. Việt Đoàn, có 5 thôn: Đông Sơn, Liên Ấp, Long Vân (tên Nôm là
Rồng), Long Khám, Đại Tảo.
12. Tri Phƣơng, có 4 thôn: Đinh (tên Nôm là Ve Đinh), Cao Đình (tên
Nôm là Đƣờng), Dũng Vi (tên Nôm là Ve Chợ), Làng Lƣơng.
13. Tân Chi, có 5 thôn: Chi Hồ (tên Nôm là Hồ), Tƣ Chi, Chi Đống, Văn
Trung, Chi Trung.
14. Thị trấn Lim, trƣớc đây là xã Vân Tƣơng, theo nghị định của Chính
phủ năm 1998 thành lập thị trấn Lim trên cơ sở diện tích tự nhiên và dân số
của xã Vân Tƣơng, thị trấn có 3 làng: Lũng Giang, Duệ Đông, Lũng Sơn.
Từ năm 1832 trở về trƣớc, huyện lỵ huyện Tiên Du đóng tại làng Đông
Sơn. Năm 1833 chuyển huyện lỵ về thôn Trung và thôn Thị thuộc xã Hoài
Bão, chung quanh đắp tƣờng đất, mỗi phía có chu vi dài 12 trƣợng, trồng tre
làm luỹ, mặt trƣớc có một cửa tại hƣớng Nam.
Từ năm 1963 khi hợp nhất hai huyện Tiên Du và Từ Sơn huyện lỵ đóng
tại chân núi Lim xã Vân Tƣơng. Hiện nay, huyện lỵ vẫn đóng ở chỗ cũ (nay là
thị trấn Lim).

Bên cạnh những tôn giáo, tín ngƣỡng truyền thống, ở Tiên Du còn có
một bộ phận ngƣời dân theo đạo Thiên Chúa giáo, tập trung tại các xã Liên
Bão, Phật Tích, Hoàn Sơn, Tri Phƣơng, Tân Tri, trong đó, nhà thờ sớm nhất
đƣợc xây dựng tại địa phƣơng là vào năm 1934 ở thôn Đống Trà xã Liên Bão.
Ngoài những tín ngƣỡng trên, Tiên Du còn có những phong tục hết sức
điển hình nhƣ tục Kết chạ. Kết chạ là tục có ở hầu hết các tỉnh đồng bằng và
trung du Bắc Bộ, nhƣng ở vùng Kinh Bắc xƣa, tục kết chạ mới đậm đặc hơn
cả. Tỉnh Bắc Ninh (theo địa bàn hành chính hiện nay) có ít nhất 30 chạ.
Không thể tìm thấy con số lớn nhƣ vậy ở các tỉnh, thành khác. Tiên Du nổi
tiếng với chạ hàng tổng Nội Duệ gồm tất cả 6 xã phƣờng của tổng: xã Lũng
Giang, xã Xuân Ổ, xã Nội Duệ, xã Nội Duệ Khánh, xã Nội Duệ Nam và giáo
phƣờng Tiên Du (gồm 3 làng: Lũng Giang, Lũng Sơn, Duệ Đông) [219, tr.30].
12


Ngoài ra còn có các cặp làng kết chạ với nhau: Lũng Giang - Tam Sơn, Lũng
Giang - Hoài Bão. Bên cạnh đó, một số làng còn kết chạ với các làng ở khu
vực ngoài huyện nhƣ: Viêm Xá - Hoài Thị, Bịu Trung - Phúc Đức, Khả Lễ Bái Uyên, Hạ Giang - Phù Lƣu, Tam Tảo - Xuân Dục...
1.2.2.2. Di tích lịch sử văn hoá và lễ hội truyền thống
Là vùng đất có địa hình địa mạo tƣơng đối phong phú, lịch sử phát triển
lâu đời, dân cƣ đông đúc, nơi giao của nhiều yếu tố văn hoá, nơi đây có một
hệ thống di tích vô cùng phong phú về số lƣợng, đa dạng về chủng loại nhƣ
đình, chùa, miếu, ban sơn thần, điện thờ, từ đƣờng, lăng mộ, nhà thờ đạo thiên
chúa v.v... Theo thống kê, huyện Tiên Du có 128 di tích các loại [207, tr.15],
với 58 di tích đã đƣợc xếp hạng, trong đó có các di tích nổi tiếng nhƣ chùa
Phật Tích, lăng Quận công Đỗ Nguyễn Thuỵ , Nguyễn Diễn v.v… Ngoài ra
nơi đây còn có núi non hùng vĩ nhƣ núi Nguyệt Thƣờng, Lạn Kha đƣợc nhắc
đến trong các câu chuyện Vương Chất xem cờ, Từ Thức gặp tiên v.v… đã góp
phần tô điểm cho cảnh sắc nơi đây. Có thể kể tới một số di tích nổi bật nhƣ:
Chùa Phật Tích: chùa Phật Tích xƣa có tên là Vạn Phúc tự, chùa tọa ở

ngai đá lại bày hai pho tƣợng đá nhỏ trong tƣ thế quỳ khoanh tay, nhƣng kích
thƣớc to hơn một chút hai pho trên bàn thờ. Đối xứng khu sinh phần là khu
nhà bia, có quy mô tƣơng đối lớn, đƣợc xây bằng đá ong, ở bên phải nhà bia
có một tấm bia lớn 4 mặt. Sau khu sinh phần là phần mộ.
Tiên Du là vùng đất đƣợc hình thành và phát triển qua hàng nghìn năm
lịch sử. Nơi đây gắn liền với các truyền thuyết về việc thần tiên du chơi, với
hàng trăm di tích lịch sử văn hoá, cùng với đó là hệ thống các lễ hội truyền

1

Nguyễn Diễn là một viên quan triều Lê, sống vào thời Cảnh Hƣng. Ông là ngƣời làng Đình Cả, xã Nội Duệ

huyện Tiên Sơn, xuất thân làm quan Thái giám trong phủ chúa Trịnh Sâm. Khi Lê Duy Mật dấy quân khởi
nghĩa, ông đƣợc cử làm trấn thủ kiêm đốc đồng xứ Thanh Hoá, tƣớc Hiếu Trung hầu. Sau vì có công đàn áp
cuộc khởi nghĩa nông dân do Lê Duy Mật cầm đầu ông đƣợc phong Bình Nhung đại tƣớng quân, sau khi chết
đƣợc phong Duệ Vƣơng, hƣởng hậu thần tổng Nội Duệ.

14


thống vô cùng đặc sắc mà không bất cứ nơi nào có đƣợc. Có thể kể tới các lễ
hội nhƣ:
Hội Lim: hội Lim, còn có tên khác là hội núi Hồng Vân, là lễ hội lớn
nhất của huyện Tiên Du, trƣớc đây hội đƣợc tổ chức vào ngày rằm tháng 8
Âm lịch, nhƣng sau này để tƣởng nhớ công ơn tƣớng công Nguyễn Đình Diễn,
quận công Đỗ Nguyễn Thuỵ góp công, góp của xây dựng chùa Lim, cùng với
bà Mụ Ả ngƣời làng Duệ Nam bỏ tiền mua hƣơng hoả, mở mang chùa Hồng
Ân, nên sau này hội đƣợc chuyển sang ngày 13 tháng Giêng. Hội Lim rất
phong phú đa dạng về nội dung, bao gồm nhiều nghi thức tế lễ và trò chơi,
diễn xƣớng dân gian nhƣ đánh vật, chọi gà, cờ ngƣời, tổ tôm điếm, đánh đu

tiếng cả vùng Kinh Bắc xƣa:
“Long3 thóc, Dọc4 tương”
Cho chúng ta biết từ Hội hè, đình đám của ngƣời Tiên Du xƣa:
“Ba năm hai cái hội chùa,
Nào ai có lỡ bỏ bùa cho ai.
Già già, trẻ trẻ, gái trai,
Đua nhau ăn mặc, hán hài đi xem.
Hội Lim ai thấy chẳng thèm,
Tổ tôm, bài điếm, giò nem thiếu gì.
Đồn sắp có dệt cửi thi,
Cao lâu trăm thức thiếu gì thức ngon.”
Đến các tập tục cũng đƣợc phản ánh trong đó:
“Làng Ngò5 vào đám đại trà
Vừa vào vừa giã vừa ra một ngày”.
Không những vậy, ca dao còn miêu tả tính cách, phẩm chất của con
ngƣời Tiên Du:
“Trai Cầu Vồng- Yên Thế, gái Nội Duệ6 - Cầu Lim7”.
2

Kẻ Rừng: Rừng Mành, Tam Tảo (xã Phú Lâm).

3

Long: Long Khám

4

Dọc: Liên Bão

5


7

Cầu Lim: thôn Lũng Giang, thị trấn Lim.

8

Dựa theo kết quả nghiên cứu của Đặng Văn Lung, Hồng Thao, Trần Linh Quý (1978) trong cuốn

Quan họ-nguồn gốc và quá trình phát triển thì 9 làng quan họ cổ của huyện Tiên Du là: Làng Lũng
Giang (Lim) thuộc thị trấn Lim; Làng Lũng Sơn (Lim), thị trấn Lim; Làng Duệ Đông, thị trấn Lim; Làng
Ngang Nội (Ngang), xã Hiên Vân; Làng Vân Khám (Khám), xã Hiên Vân; Làng Bái Uyên (Bƣởi), xã Liên
Bão; Làng Hoài Thị (Bựu Sim), xã Liên Bão; Làng Hoài Trung (Bịu Giữa), xã Liên Bão; Làng Hạ Giang, xã
Phú Lâm.

17


hoá của mọi tầng lớp nhân dân, nó gắn liền với những ngày xuân hội hè đình
đám; gắn liền với tình bạn thắm thiết thuỷ chung của những “bọn Quan họ”;
gắn liền với lời ăn tiếng nói; cách ứng xử đối đãi của ngƣời với ngƣời; hay nó
còn gắn liền với không gian hẹn hò, bầu bạn của con ngƣời nơi đây. Chính vì
vậy, Quan họ là một hình thức sinh hoạt văn hoá tổng hợp, bao gồm nhiều nội
dung nhƣ: hát Quan họ, tục kết bạn Quan họ, văn hoá hành vi Quan họ, lễ hội
Quan họ và tín ngƣỡng Quan họ, trong đó dân ca Quan họ là hoạt động chiếm
vị trí trung tâm. Hát quan họ nơi đây diễn ra trong nhiều không gian khác
nhau nhƣ đình, hội hè, nhà chứa Quan họ v.v…trong đó hát Quan họ tại các lễ
hội là phổ biến, bao trùm lên các không gian khác. Hát Quan họ trong các lễ
hội ở vùng quê này gắn liền với các lễ hội dân gian, nhƣ: hội Lim, hội Ó, hội
Bịu, ngƣời ta còn gọi các lễ hội này là hội Quan họ. Không chỉ là hát, là một

huyện vào năm Tự Đức thứ 3 (1849) [182]. Tục lệ xã ấp Tƣ Vi xã Chi Nê
[286] cũng chép “dân xã vào năm Tân Hợi niên hiệu Duy Tân thiết lập một
toà năm gian học xá”. Ngoài hệ thống các trƣờng do nhà nƣớc, dân làng xây
dựng thì còn có các trƣờng tƣ, do các ông đồ Nho hoặc những quan về hƣu
mở. Trong hệ thống các trƣờng này, phƣơng pháp và giờ giấc do ngƣời thầy
quy định, nội dung học chủ yếu là chữ Hán, các sách Tứ Thư, Ngũ kinh cùng
các sách khác phục vụ cho việc thi cử.
Về chế độ học tập: do lấy việc khoa cử làm mục đích, nên không định
thời gian học tập. Chƣơng trình học tập thƣờng tuỳ theo trình độ của thầy, trò
cũng nhƣ lứa tuổi, giới tính của học sinh. Trong quá trình học có diễn ra các
kỳ thi không chính thức nhằm mục đích sát hạch, lựa chọn những ngƣời có
thực học để tiếp tục bồi dƣỡng. Việc sát hạch này do các quan Đốc học, Giáo
thụ, Huấn đạo chủ trì, có mời những ngƣời văn hay chữ tốt đến tham dự. Cứ
vài năm việc sát hạch này lại diễn ra một lần, sau những lần sát hạch ấy
những ngƣời có tài năng, cần cù, chăm chỉ sẽ đƣợc tuyển chọn lên các trƣờng
của huyện, phủ học. Đến sát kỳ thi Hƣơng, quan Đốc học tỉnh lại một lần nữa
tổ chức sát hạch, chọn những ngƣời giỏi nhất để đại diện đi thi.
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status