(Luận văn thạc sĩ) Áp dụng các hình phạt chính không tước tự do từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 61

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG BÍCH SƠN

ÁP DỤNG CÁC HÌNH PHẠT KHÔNG TƯỚC TỰ DO TỪ
THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG BÍCH SƠN

ÁP DỤNG CÁC HÌNH PHẠT KHÔNG TƯỚC TỰ DO TỪ
THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 8.38.01.04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS ĐẶNG QUANG PHƯƠNG

HÀ NỘI, năm 2019


LỜI CAM ĐOAN



DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLHS

Bộ luật hình sự

UBND

Ủy ban nhân dân


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1.

Các hình phạt chính không tước tự do được áp dụng
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

43


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng, là
phương tiện không thể thiếu, bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình thường
của xã hội nói chung và của bình yên của xã hội nói riêng. Pháp luật vừa là
công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu, vừa tạo hành lang pháp lý an toàn, tin
cậy, thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Cùng với việc không ngừng

giam giữ người phạm tội, tăng cường tính răn đe, giáo dục trong cộng đồng,
góp phần hiệu quả vào công cuộc phòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp
luật khác [2]...
Lịch sử lập pháp hình sự cho thấy Bộ luật hình sự của nước ta càng
ngày càng được sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hơn, được thể hiện rõ nét khi so
sánh BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với BLHS năm 1999. Đối
với các hình phạt chính không tước tự do có nhiểu sửa đổi, bổ sung quan
trọng, như điều kiện áp dụng, đối tượng áp dụng, phạm vi áp dụng… được cụ
thể và mở rộng hơn. Điều đó nói lên vị trí, vai trò của các hình phạt chính
không tươc tự do trong hệ thống hình phạt của BLHS nước ta.
Về thực tiễn áp dụng các hình phạt không tước tự do trên toàn quốc
cũng như tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng có những thay đổi đáng kể cả về
nhận thức và thực tiễn xét xử. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vi phạm, sai lầm cần
được làm sáng tỏ, đặc biệt là nguyên nhân và điều kiện của những vi phạm,
sai lầm đó. Thành phố Hồ Chí Minh cũng không phải là ngoại lệ. Để khắc
phục những bất cập, vướng mắc trong quy định và áp dụng pháp luật về các


hình phạt chính không tước tự do, góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự
trong thời gian tới, đồng thời, nhằm đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng
chống tội phạm và bảo đảm quyền con người của người phạm tội thì việc
nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề lý luận về các hình phạt chính không tước
tự do, làm rõ những ưu điểm cũng như bất cập trong quy định và thực tiễn áp
dụng các hình phạt này trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh từ đó làm cơ sở
để đưa ra những kiến nghị hoàn thiện các quy định về các hình phạt chính
không tước tự do trong pháp luật hình sự Việt Nam là vấn đề cần thiết. Chính
vì những lý do trên, tác giả đã lựa chọn vấn đề “Áp dụng các hình phạt
chính không tước tự do từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài
luận văn tốt nghiệp thác sĩ chuyên ngành luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài

phạm tội theo luật hình sự Việt Nam, Hà Nội đã làm rõ những đặc thù của tội
phạm chưa thành niên thấy rằng một phần không nhỏ người chưa thành niên
thực hiện hành vi phạm tội chỉ để thỏa mãn nhu cầu, hứng thú không đúng
đắn của cá nhân, không quan tâm đến hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Kết quả
nghiên cứu cho thấy, các hình phạt chính không tước do thể hiện tinh thần
nhân đạo đối với người phạm tội, đặc biệt phù hợp với đối tượng này.
Bên cạnh đó, tác giả tìm hiểu và phân tích các tác phẩm của các tác giả
như: GS.TSKH. Lê Văn Cảm, Hình phạt và các biện pháp tư pháp trong luật
hình sự Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 8/2000; Một số vấn đề cơ
bản về hình phạt, Tạp chí Công an nhân dân, số 5/2001; Hình phạt và hệ
thống hình phạt, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 7/2007; GS. TSKH. Lê Cảm;
Nguyễn Văn Trượng, Một số vấn đề rút ra từ thực tiễn áp dụng hình phạt cải


tạo không giam giữ, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 4, tháng 2/2009; Hình phạt
tiền và thực tiễn áp dụng của tác giả Đỗ Văn Chỉnh, Tạp chí Tòa án nhân dân,
số 5, tháng 3/2009; TS Dương Tuyết Miên, Các hình phạt bổ sung trong
BLHS năm 1999 và hướng hoàn thiện, Tạp chí Tòa án nhân dân số 8, tháng
4/2009; Luận án Tiến sỹ “Các hình phạt bổ sung trong Luật hình sự Việt
Nam” của Trịnh Quốc Toản, Khoa Luật - ĐHQG Hà Nội … Giáo trình Luật
hình sự Việt Nam (phần chung) của tác giả Võ Khánh Vinh (2012), Nxb Công
an nhân dân; Bình luận khoa học BLHS năm 2015 được sửa đồi, bổ sung năm
2017 (Phần chung) của tác giả Nguyễn Ngọc Hòa (2017), Nxb Tư pháp, Hà
Nội.
Vấn đề liên quan các hình phạt không cách ly người bị kết án ra khỏi xã
hội còn được nhiều văn bản pháp lý quốc tế quan trọng đề cập đến như: Công
ước chống đối xử hoặc hình phạt tàn bạo, được thông qua bằng Nghị quyết số
39/46 ngày 10/2/1984 của Đại hội đồng Liên hợp quốc, Nxb Công an nhân
dân, năm 1999; Các quy tắc chuẩn, tối thiểu của Liên hợp quốc về các biện
pháp không giam giữ (các quy tắc Tôkyô, 1990), được thông qua bằng Nghị

phân tích những vi phạm, sai lầm và nguyên nhân; từ đó đưa ra các giải pháp
bảo đảm áp dụng đúng các hình phạt này.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã nêu, đối tượng nghiên cứu là
quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các hình phạt không tước tự do,
cũng như thực trạng áp dụng các hình phạt không tước tự do do trên địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh.


4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề xung quanh các hình
phạt không tước tự do đối với người phạm tội được quy định trong BLHS
năm 1999. Đồng thời, nghiên cứu, rút ra những điểm sửa đổi, bổ sung về các
hình phạt chính không tước tự do được quy định tại BLHS năm 2015. Không
nghiên cứu các hình phạt chính đối với pháp nhân thương mại phạm tội.
Luận văn phân tích thực tiễn áp dụng các hình phạt chính không tước tự
do trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến năm 2017 trên địa bàn Thành phố
Hồ Chí Minh.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật
lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về
Nhà nước và pháp luật, con người và tinh thần nhân đạo. Đồng thời, đề tài
luận văn đã phân tích và làm rõ các nội dung trên cơ sở lý thuyết về khoa học
luật hình sự và tố tụng hình sự.
Các phương pháp cụ thể gồm:
Phương pháp nghiên cứu lịch sử để tìm hiểu lịch sử hình thành và phát
triển các quy định về các hình phạt chính không tước tự do trong pháp luật
hình sự Việt Nam.
Phương pháp so sánh được sử dụng để làm rõ những đặc điểm giống và


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG CÁC HÌNH PHẠT CHÍNH
KHÔNG TƯỚC TỰ DO
1.1. Khái niệm và vai trò của các hình phạt chính không tước tự do
1.1.1. Khái niệm các hình phạt chính không tước tự do
Hình phạt là hình thức chủ yếu của trách nhiệm hình sự và là công cụ
pháp lý của Nhà nước để đấu tranh phòng chống tội phạm. Quy định về hình
phát được nêu rõ tại Điều 26, BLHS năm 1999, đồng thời kế thừa và phát
triển quy định về hình phát được làm rõ hơn tại Điều 30, BLHS năm 2015
quy định: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà
nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với
người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế
quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó” [20].
Dựa trên cơ sở các quan niệm về hình phạt đã nêu trong Luận văn, tác
giả đưa ra khái niệm khoa học về hình phạt như sau: Hình phạt là biện pháp
cưỡng chế nghiêm khắc nhất về hình sự của Nhà nước do Toà án có thẩm
quyền quyết định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật nhằm tước bỏ hay
hạn chế quyền, tự do của người bị kết án theo các quy định của pháp luật
hình sự
Hệ thống hình phạt trong Bộ luật Hình sự Việt Nam (được quy định từ
Điều 28 đến Điều 40) gồm 7 hình phạt chính và 7 hình phạt bổ sung. Hình
phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành
người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc
sống xã hội chủ nghĩa. Hình phạt chính bao gồm các biện pháp như: Cảnh
cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; trục xuất; tù có thời hạn; tù chung thân
và tử hình; Hình phạt chính được vận dụng riêng rẽ chứ không đồng thời áp


dụng đối với người phạm tội chỉ áp dụng một trong các hình phạt chính. Hình

phạt không tước tự do như sau: “Hình phạt chính không tước tự do là để thực
hiện biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, được quy định
trong BLHS và do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội nhằm tước bỏ hoặc
hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội mà không buộc họ phải cách ly ra
khỏi môi trường xã hội bình thường”.
Mục đích của hình phạt không tước tự do cũng giống như các hình phạt
nói chung được quy định tại điều 31, BLHS năm 2015: “Hình phạt không chỉ
nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý
thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm
tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật,
phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm” [20] và hướng tới giáo dục người
phạm tội nhận ra sai lầm của mình để từ đó ý thức tuân thủ pháp luật, chuẩn
mực xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội.
Chính sách pháp luật hình sự là hoạt động có căn cứ khoa học, nhất
quán và hệ thống của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm xây dựng cơ chế
điều chỉnh pháp luật hình sự có hiệu quả, sử dụng văn minh các phương tiện
pháp luật để đạt được mục đích của hình phạt, góp phần quan trọng trong đấu
tranh phòng, chống tội phạm; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; bảo
đảm quyền con người. Chính sách pháp luật hình sự là một trong các yếu tố
quan trọng tác động đến xu hướng áp dụng pháp luật hình sự.


Hình phạt không tước tự do mang đầy đủ những dấu hiệu chung của
hình phạt đồng thời có những dấu hiệu riêng biệt, có thể kể ra một số dấu hiệu
cơ bản như sau:
- Người bị kết án không bị cách ly khỏi xã hội. Người bị kết án tự cải
tạo với sự giám sát, giúp đỡ và giáo dục của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã
hội, chính quyền địa phương và gia đình. Xu hướng nhân đạo, hướng thiện
cũng thể hiện trong nhiều quy định của pháp luật hình sự, cơ sở pháp lý của
áp dụng pháp luật hình sự. Khi mới thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ

tước tự do
1.2.1. Khái niệm áp dụng các hình phạt chính không tước tự do
Hoạt động áp dụng hình phạt là một giai đoạn của quá trình áp dụng
pháp luật hình sự và chỉ có Tòa án mới được thực hiện thông qua việc Thẩm
phán và Hội thẩm nhân dân tiến hành đối với người phạm tội theo một trình tự
thủ tục đã được pháp luật quy định. Tòa án căn cứ vào kết quả điều tra, kết quả
thẩm vấn, tranh tụng để lựa chọn một trong những hình phạt cụ thể được quy
định trong pháp luật hình sự và xác định một mức hình phạt cụ thể đối với bị
cáo.
Khi thực hiện áp dụng hình phạt, Tòa án cần bảo đảm rằng hình phạt
phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm đối với xã hội mà tội
phạm đã thực hiện, bảo đảm tính xác định, tính lập luận và bắt buộc có lý do.
Người bị kết án không bị cách ly khỏi xã hội, họ được cải tạo, giáo dục,
nên việc áp dụng hình phạt không tước tự do được thực hiện trong môi trường
sống và hoạt động với các công dân bình thường khác. Như vậy, trong phạm
vi của luận văn, căn cứ vào nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn có thể nêu một


cách khái quát về khái niệm áp dụng hình phạt không tước tự do trong thực
tiễn hiện nay như sau: Áp dụng hình phạt không tước tự do là hoạt động của
Tòa án buộc người phạm tội phải chịu một trong các hình phạt không tước tự
do phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm do họ gây ra nhằm
bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
và công dân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và ngăn ngừa họ phạm tội
mới, cũng như phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội.
1.2.2. Nguyên tắc áp dụng các hình phạt chính không tước tự do
1.2.2.1. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là một nguyên tắc chủ đạo, quan
trọng và được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013, là nguyên tắc cơ bản đối
với tổ chức và hoạt động của bộ máy nước ta hiện nay nói chung và trong lĩnh

biện pháp tư pháp khác về người phạm tội, chống những biểu hiện phân biệt
đối xử giữa những người phạm tội có địa vị xã hội khác nhau “dân thì xử
nặng, quan thì xử nhẹ”.
1.2.2.3. Nguyên tắc nhân đạo
Nói tới truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, không thể không
nhắc đến những tư tưởng, quan điểm đạo đức mang giá trị nhân văn, thể hiện
đạo lý về tình thương con người bao trùm trên các lĩnh vực khác nhau của đời
sống xã hội. Trong việc xây dựng nền tảng của hệ thống pháp luật nói chung
và pháp luật hình sự nói riêng, tư tưởng nhân đạo càng được thể hiện sâu sắc
hơn bao giờ hết.
Trong Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),
có thể thấy tư tưởng nhân đạo được phản ánh rõ nét, là tư tưởng bao trùm,


xuyên suốt trong quan điểm, đường lối đấu tranh phòng chống tội phạm. Tư
tưởng này cũng được xác định là kim chỉ nam trong suốt lịch sử lập pháp qua
các thời kỳ khác nhau và trong BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),
tư tưởng nhân đạo một lần nữa được thể hiện rõ nét và sâu sắc, thể hiện được
bản chất giai cấp của nhà nước ta trong từng chế định pháp luật.
Nguyên tắc này không những góp phần cụ thể hóa Điều 20 Hiến pháp
năm 2013 “mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp
luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy
bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức
khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm” [21] mà còn được ghi nhận tại Điều 5
Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền: “Không ai có thể bị tra tấn hoặc bị trừng
phạt đối xử vô nhân đạo, tàn bạo” [40].
Trong hệ thống hình phạt, trong đó các hình phạt chính được sắp xếp
theo một trật tự nhất định từ hình phạt nhẹ đến hình phạt nặng, từ hình phạt ít
nghiêm khắc đến hình phạt nghiêm khắc nhất, mặt khác trong các hình phạt
khác nhau có nhiều hình phạt không tước tự do, điều đó thể hiện được tinh

các biện pháp khác không phát huy được tác dụng. Đây là nguyên tắc rất quan
trọng định hướng cho hoạt động áp dụng pháp luật của hội đồng xét xử, đồng
thời bảo đảm tốt nhất lợi ích cho người phạm tội dưới 18 tuổi, giúp họ có cơ
hội tối đa không bị tách khỏi gia đình và cộng đồng; giúp họ có nhiều hơn cơ
hội nhận được sự giúp đỡ chân tình, quý báu của gia đình, cộng đồng và xã
hội để họ sớm nhận ra lỗi lầm, sớm trở thành người có ích cho xã hội.
1.2.2.4. Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật
Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật và trước cơ quan thi hành án trên
thực tế là nguyên tắc có thể bị vi phạm và ảnh hưởng tiêu cực và rất dễ phát


sinh, kéo theo không chỉ bản thân những người có liên quan trong việc chấp
hành nghĩa vụ thi hành án không được hưởng sự công bằng bình đẳng mà còn
làm cho tính nhân đạo, tính dân chủ của hoạt động áp dụng các hình phạt
không tước tự do bị sai lệch. Sự bình đẳng trong nguyên tắc này là sự bình
đẳng trong việc vận dụng các dấu hiệu cấu thành tội phạm đối với một hành
vi phạm tội, đối với hình phạt cũng như các biện pháp tư pháp khác về người
phạm tội, chống những biểu hiện phân biệt đối xử giữa những người phạm tội
có địa vị xã hội khác nhau “dân thì xử nặng, quan thì xử nhẹ”. Nguyên tắc này
không chỉ là nguyên tắc của BLHS khi xử lý hành vi phạm tội, mà còn là
nguyên tắc đối với các đạo luật khác; không chỉ các cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng mà đối với toàn xã hội, cần phải có thái độ công bằng
đối với người phạm tội dù họ là ai. Khi khẳng định nguyên tắc “mọi người
phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật”, nhưng không phải vì thế mà cho
rằng không có sự phân hóa “nghiêm trị ai, khoan hồng đối với ai” và điều này
càng thể hiện nội dung của khái niệm “bình đẳng, công bằng” không đồng
nhất với khái niệm “bình quân, cào bằng”.
1.2.2.5. Nguyên tắc kết hợp giáo dục, cải tạo với cưỡng chế
Hình phạt không chỉ có nội dung trừng trị mà còn có cả nội dung giáo
dục, cải tạo. Chúng ta chỉ có thể nói đến hình phạt khi có sự tồn tại của hai

của Nhà nước đối với tội phạm. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử,
các cơ quan tiến hành tố tụng phải luôn luôn quán triệt nguyên tắc này để xử
lý tội phạm. Nguyên tắc này còn là cơ sở để quy định các chế định, các quy
định khác về tội phạm và hình phạt trong cả Phần thứ nhất và Phần thứ hai
của BLHS. Quán triệt và thực hiện đúng nguyên tắc này còn là cơ sở để thực
hiện các nguyên tắc khác.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status