(Luận văn thạc sĩ) Biện pháp bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn TP. Hồ Chí Minh - Pdf 61

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM AN HÒA

BIỆN PHÁP BẮT NGƯỜI THEO PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

HÀ NỘI - 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM AN HÒA

BIỆN PHÁP BẮT NGƯỜI THEO PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngành: Luật Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THANH DƯƠNG

HÀ NỘI - 2019

2.1.1. Tình hình, đặc điểm có liên quan và hoạt động bắt người ................... 29
2.1.2. Hoạt động bắt người ............................................................................. 30
2.1.3. Những hạn chế, khó khăn về việc áp dụng bắt người trên địa bàn thành
phố Hồ Chí Minh ............................................................................................. 38
2.2. Các giải pháp nhằm đảm bảo việc áp dụng đúng biện pháp bắt người ... 48
2.2.1. Nâng cao trình độ của cán bộ điều tra ................................................. 48
2.2.2. Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về bắt người .............................. 50
2.2.3. Nâng cao công tác phối hợp của các cơ quan tố tụng.......................... 56


2.2.4. Làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra việc áp dụng biện pháp bắt người
trong tố tụng hình sự nhằm đảm bảo các quyền cơ bản của công dân. ........ 57
KẾT LUẬN .................................................................................................... 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS

: Bộ luật hình sự

BLTTHS

: Bộ luật tố tụng hình sự

BPNC

: Biện pháp ngăn chặn

CQĐT

tranh với các loại tội phạm song tình trạng này không hề giảm. Tội phạm
truyền thống như giết người, cướp của, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, buôn ma
túy cho đến tội phạm công nghệ cao càng ngày càng tinh vi, táo tợn.
Mới đây nhất là các vụ giết người tại tỉnh Bình Dương khi án mạng có
hai hoặc ba nạn nhân bị kẻ sát nhân “xuống tay” không thương tiếc. Kẻ thủ ác
hoạt động có tổ chức, có phân công chặt chẽ. Bên cạnh đó, tại TP. Hồ Chí
Minh, lực lượng công an đã chặn bắt nhiều vụ buôn bán ma túy, ngăn chặn
“cái chết trắng” đang gieo rắc tại đô thị lớn nhất nước và còn là nơi trung
chuyển ma túy từ tam giác vàng gồm Thái Lan - Lào - Myanmar sang Việt
Nam và đi các nước khác.
Đứng trước tình hình và thực trạng này, Quốc hội cũng như các bộ
ngành liên quan như Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án
nhân dân tối cao đã thông qua các bộ luật, thông tư với những chế định luật
nghiêm khắc nhằm giữ vững tính nghiêm minh của pháp luật, mang tính răn
đe, vừa giáo dục nghiêm khắc. Tuy nhiên, với các loại đối tượng đang hoạt
động không hề sợ hãi pháp luật thì cần một công cụ chuyên chính của nhà
1


cầm quyền là các biện pháp ngăn chặn để trừng trị và “thanh lọc” các loại tội
phạm.
Trong số đó, bắt người là một trong những biện pháp ngăn chặn, mang
tính quyền lực của nhà nước để đảm bảo thể chế chính trị và ổn định xã hội.
Điều này được quy định rất kĩ lưỡng trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 bởi
là vấn đề nhạy cảm, ảnh hưởng đến quyền con người của công dân.
Thực tế những năm qua, tại một vài địa phương trong cả nước, việc áp
dụng biện pháp ngăn chặn như bắt người cũng còn hạn chế nhất định, vi phạm
nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, xâm phạm đến quyền con người,
quyền công dân đã được quy định trong Hiến pháp 2013.
Do đó, nắm vững biện pháp ngăn chặn như bắt người được quy định tại

để xảy ra oan sai. Đó còn là cách đảm bảo quyền công dân, quyền con người
được đề cao trong Hiến pháp 2013, quyền dân chủ theo xu thế của luật pháp
quốc tế.
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nhằm phát hiện những khó khăn, vướng mắc, thiếu sót trong quá trình
bắt người theo luật định, đề tài sẽ đánh giá thực trạng bắt người phạm tội tại
TP. Hồ Chí Minh từ năm 2014 đến năm 2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra.
Từ đó, đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả trong việc áp dụng
biện pháp bắt người phạm tội. Bởi việc bắt người luôn là vấn đề nhạy cảm
trong cuộc sống, ở mỗi quốc gia nói chung và tại Việt Nam nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
3


Luận văn của học viên tập trung vào hai nhiệm vụ sau đây:
Một là, làm rõ lý luận cơ bản và quy định của pháp luật về biện pháp
bắt người trong tố tụng hình sự Việt Nan.
Hai là, đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện việc bắt người đúng tội
danh, đảm bảo đúng nhân quyền và pháp chế xã hội chủ nghĩa.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đó là những điều luật quy định về biện pháp bắt người tại các Bộ luật
Tố tụng vào các năm: 1988, 2003 và 2015.
Qua đó, tác giả có sự đối chiếu, so sánh, phân tích và tổng hợp từ thực
trạng bắt người tại TP. Hồ Chí Minh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Áp dụng của BLTTHS 2015 về việc bắt người trên địa bàn.
- Phạm vi về không gian: địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
- Phạm vi thời gian: từ năm 2014 đến năm 2018.

Chương 2: Thực tiễn áp dụng biện pháp bắt người trên địa bàn Thành
phố Hồ Chí Minh và giải pháp đảm bảo việc áp dụng đúng biện pháp bắt
người.

5


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ BIỆN PHÁP BẮT NGƯỜI
1.1. Những vấn đề lý luận chung về biện pháp bắt người
1.1.1. Khái niệm biện pháp bắt người
Bộ luật Tố tụng hình sự quy định các biện pháp cưỡng chế nhà nước do
cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng, trong đó biện pháp ngăn chặn chiếm vị trí
rất quan trọng. Trong biện pháp ngăn chặn, đương nhiên có biện pháp bắt
người để trấn áp và phòng ngừa các loại tội phạm.
Ngoài ra, còn một số khái niệm khác về biện pháp ngăn chặn của các
nhà khoa học, cán bộ làm công tác thực tiễn phòng ngừa và đấu tranh chống
tội phạm.
Trong điều tra hình sự, bắt là biện pháp ngăn chặn, do các cơ quan điều
tra có thẩm quyền tiến hành, trong những trường hợp và theo trình tự, thủ tục
do luật Tố tụng hình sự quy định nhằm ngăn chặn tội phạm và tạo điều kiện
thuận lợi cho hoạt động điều tra.
Vì vậy, khi có căn cứ nhận định một người chuẩn bị phạm tội rất
nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, đang phạm tội hoặc đã phạm tội và đang
lẩn trốn…thì việc áp dụng biện pháp bắt người là tất yếu nhằm loại bỏ khả
năng các đối tượng tiếp tục phạm tội hoặc gây khó khăn cho hoạt động điều
tra.
Với ý nghĩa và tầm quan trọng của việc bắt người như vậy nên thời
gian qua, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật Tố tụng hình sự quy

7


riêng biệt quy định, không nhập chung như Bộ luật Tố tụng Hình sự năm
2003 trước đây đã từng đề cập.
Tác giả Võ Khánh Vinh của Học viện Khoa học xã Hội (Viện Hàn Lâm
khoa học xã hội Việt Nam) thì cho rằng: “…tố tụng hình sự được tiến hành
theo nguyên tắc trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự thuộc về cơ quan,
cá nhân có thẩm quyền. Như vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự,
những người tiến hành tố tụng hình sự có nghĩa vụ khởi động quá trình tố
tụng hình sự đối với vụ án mà không tùy thuộc vào có hay không yêu cầu của
người bị hại…” [32, tr.215].
Theo đó, phải có đầy đủ chứng cứ khẳng định chính bị can, bị cáo là
người đã gây ra vụ án hình sự, thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể
được quy định trong Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự thì mới được
bắt người.
Việc bắt người luôn tuân thủ theo những trình tự, thủ tục nghiêm ngoặt
nhất. Những điều này quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm
2015 dành cho cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát và Tòa án nhân dân ba cấp,
thống nhất từ Trung ương, tỉnh (thành phố trực thuộc Trung ương), đến cấp
huyện.
- Nguyên tắc áp dụng: Là sự điều chỉnh của pháp luật tố tụng hình sự,
đồng thời nó cũng là chính sách hình sự của Nhà nước. Hệ thống các nguyên
tắc cơ bản của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 được quy định và bổ sung dựa
trên nguyên tắc được quy định tại khoản 2 Điều 20 Hiến pháp 2013: “Không
ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê
chuẩn của Viện Kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang”, nhằm
khắc phục những hạn chế của Bộ luật Tố tụng hình sự 2003.
8


thiên thu tại ngoại”. Điều đó có nghĩa là, việc bắt người đi liền với tạm giam,
ở trong tù là một điều rất khó khăn với mọi người.
- Thứ nhất, tâm lý học tội phạm chỉ ra rằng, sau khi thực hiện hành vi
phạm tội, đối tượng thường có tâm lí lo sợ, muốn trốn tránh pháp luật nên tìm
mọi cách lẩn trốn, gây khó khăn trong quá trình tố tụng. Để ngăn ngừa mối
nguy hại với xã hội, Nhà nước buộc đối tượng phải bị xử lí theo pháp luật.
Việc bắt người trong những trường hợp này là phương tiện hữu hiệu ngăn
chặn tội phạm, không để nó xảy ra hoặc tiếp tục diễn ra trong thực tế. Nhằm
đạt mục đích đó, các cơ quan có thẩm quyền cần chủ động phát hiện kịp thời
những hành vi chuẩn bị phạm tội và những vụ tội phạm đang xảy ra cũng như
những người đang bị truy nã để áp dụng biện pháp bắt theo đúng quy định của
pháp luật.
- Thứ hai, cơ quan tố tụng phải làm theo trình tự, thủ tục quy định của
Luật. Khi một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì giữa họ và
Nhà nước nảy sinh quan hệ pháp luật hình sự và khi các cơ quan Nhà nước ra
quyết định khởi tố vụ án hình sự thì giữa họ và Nhà nước (mà đại diện là các
cơ quan đó) xuất hiện quan hệ pháp luật tố tụng hình sự. Việc tham gia tố
tụng hình sự của bị can là hết sức cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi cho việc
giải quyết vụ án. Đó không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ pháp lý của họ.
Khi bị can lẩn trốn, không chịu có mặt theo yêu cầu của cơ quan điều tra thì
việc giải quyết vụ án sẽ rất khó khăn, thậm chí bị gián đoạn. Vì vậy, khi có
những căn cứ do luật định thì cơ quan điều tra cần áp dụng biện pháp bắt để
tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của mình.

10


- Thứ ba, áp dụng biện pháp bắt người phạm tội là đảm bảo quan trọng
trong việc tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được quy định
trong Hiến pháp 2013. Do đó, người tiến hành tố tụng phải hết sức thận trọng,

quy định: Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 về tổ chức Tòa án và ngạch
Thẩm phán; Sắc lệnh 23/SL ngày 21/02/1946 thành lập Việt Nam Công an vụ.
Theo Sắc lệnh này thì lực lựợng Công an vụ có nhiệm vụ “Điều tra về những
hành động trái phép và truy tìm người can phạm để giúp Tòa án trong sự
trừng trị”; Sắc lệnh số 131/SL ngày 20/07/1946 về tổ chức bộ máy Tư pháp
Công an tại Điều thứ 2: “Tư pháp Công an có nhiệm vụ truy tầm tất cả các sự
phạm pháp (đại hình, tiểu hình hoặc vi cảnh), sưu tập các tang chứng, bắt
giao người phạm pháp cho các Tòa án xét xử trong phạm vi luật pháp ấn
định”[4]; Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp thì:
“Tư pháp Công an có nhiệm vụ bắt người phạm pháp và giao cho các Tòa án
xét xử” [5]. Nội dung của các văn bản trên thể hiện rõ quan điểm của Chính
quyền Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa là tôn trọng và bảo vệ quyền tự
do thân thể của nhân dân đối với các phần tử xâm phạm đến lợi ích và sự an
toàn của Nhà nước.
Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đã có những tư tưởng, nguyên tắc định
hướng cho việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giam, tạm giữ trong
Bộ luật Tố tụng hình sự 1988. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng thì việc bắt
người vẫn gặp nhiều khó khăn. Hiến pháp năm 1980 ra đời, hệ thống pháp
luật từng bước hoàn thiện, nhiều văn bản pháp luật được sửa đổi, bổ sung
hoặc ban hành mới.
12


Để phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của đất nước, Bộ luật Tố tụng
hình sự 1988 đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm: 1990, 1992, 2000. Các
quy định về bắt người đã được hoàn thiện hơn qua các lần sửa đổi, bổ sung.
Bởi nó đụng chạm đến quyền cơ bản của công da được pháp luật bảo hộ.
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 đã quy định một cách cơ bản tất cả
các vấn đề liên quan đến biện pháp bắt người. Theo đó, tại các điều 62, 63, 64
của chương 5 quy định biện pháp bắt người bao gồm ba trường hợp:

mang tính dự báo tốt bởi chưa có sự xuất hiện của các loại tội phạm có tổ
chức, có sữ kết hợp, tinh vi như sau này. Kĩ thuật lập pháp do đó chưa thể
tránh khỏi sự hạn chế cũng là điều dễ hiểu.
1.2.2. Quy định về của biện pháp bắt người trong Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2003
Xuất phát từ những diễn biến của tình hình phạm tội, từ yêu cầu của
công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, yêu cầu tăng cường pháp chế và
vấn đề bảo đảm các quyền cơ bản của công dân nên Bộ luật Tố tụng hình sự
2003 đã ra đời.
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25
tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10, Bộ luật Tố tụng hình
sự 2003 đã quy định ba trường hợp bắt người cụ thể với các nội dung, thẩm
quyền và thủ tục khác nhau. So với quy định tại Điều 68, Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 1988, thì đối tượng có thể bị tạm giữ được quy định tại Điều 86
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 rộng hơn, bao gồm: Người bị bắt trong
14


trường hợp khẩn cấp; người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang; người
phạm tội tự thú, đầu thú; người bị bắt theo quyết định truy nã. Thủ tục tạm
giữ bao gồm: Quyết định tạm giữ; các công việc mà người thi hành quyết
định tạm giữ phải thực hiện trước hoặc sau khi tạm giữ người.
Quy định về tạm giữ được quy định tại Quy chế về tạm giữ, tạm giam
ban hành kèm theo Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 7 năm 11 năm 1998,
bao gồm: Quy định về việc quản lý nhà tạm giữ, người bị tạm giữ; Quy định
về chế độ đối với người bị tạm giữ.
Để bảo đảm cho công tác kiểm sát giam giữ, tránh vi phạm quyền tự
do, bất khả xâm phạm về thân thể của công dân, tại khoản 3 Điều 86 của Bộ
luật Tố tụng Hình sự năm 2003 đã quy định: Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi

Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp
quyết định; Chánh án, Phó chánh án tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các
cấp.
+ Điều kiện áp dụng:
Khi bắt phải lập biên bản bắt người. Các quy định về thủ tục bắt người
chặt chẽ như trên nhằm đề cao trách nhiệm cá nhân của người ra lệnh bắt và
người thi hành lệnh bắt, bảo đảm bắt đúng người phạm tội cần bắt và những
quyền chính đáng của người bị bắt, đồng thời cũng nhằm loại trừ những hành
động của bọn lưu manh giả danh cán bộ đến bắt người hòng chiếm đoạt tài
sản của công dân.
- Điều 81, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định trường hợp “bắt
người trong trường hợp khẩn cấp”.
16


Hành vi chuẩn bị phạm tội nói trên mặc dù chưa trực tiếp xâm hại lợi
ích của Nhà nước và công dân nhưng nó đã đặt các lợi ích ấy vào tình trạng bị
đe dọa rất nghiêm trọng.
Có như vậy mới bảo đảm tính xác thực và giá trị của lời tố giác tội
phạm.
Trường hợp người bị hại hoặc người khác đã xác nhận về kẻ thực hiện
tội phạm nhưng họ không phải là người trực tiếp chứng kiến lúc tội phạm
đang diễn ra mà nghe người khác kể lại, mô tả lại đặc điểm nhận dạng của
người phạm tội, thì không được bắt khẩn cấp. Xét thấy cần ngăn chặn ngay
việc người đó trốn.
Những căn cứ để xét và đi đến quyết định cần bắt để ngăn chặn ngay
việc người phạm tội trốn gồm các trường hợp sau đây: đang có hành động bỏ
trốn hoặc đang chuẩn bị bỏ trốn; không có nơi cư trú rõ ràng; có nơi cư trú
nhưng ở quá xa; là đối tượng lưu manh, côn đồ, hung hãn; chưa xác định
được thân nhân người đó (căn cước lý lịch không rõ ràng).

người khác có ấu vết của tội phạm, khi gặp lại kẻ trước đó đã gây ra tội phạm
mà mình trực tiếp chứng kiến… thì cần lập tức báo ngay cho cơ quan điều tra
để kịp thời thẩm tra, xác minh và có biện pháp giải quyết. Nếu xét thấy có đủ
căn cứ và cần thiết thì cơ quan điều tra quyết định bắt khẩn cấp. Mọi công dân
cũng cần giúp cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo dõi, giám sát chặt chẽ
người bị nghi thực hiện tội phạm, không để cho họ có điều kiện chạy trốn,
phân tán, cất giấu hoặc tiêu hủy chứng cứ.

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status