SKKN 4/4: Kinh nghiệm hướng dẫn ôn thi TN 12 - phần NLXH - Pdf 61

Đề tài:
KINH NGHIỆM HƯỚNG DẪN ÔN THI TỐT NGHIỆP 12
PHẦN LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
_______________________
Phần thứ nhất: ĐẶT VẤN ĐỀ
Bắt đầu từ năm 2009, đề thi tốt nghiệp THPT môn ngữ văn, bên cạnh những
phần tái hiện kiến thức văn học, nghị luận văn học, còn có một phần bắt buộc thí sinh
thành lập văn bản nghị luận khoảng 400 chữ bàn về một vấn đề mang tính thời sự của
đời sống xã hội. Cấu trúc này áp dụng cho cả hệ phổ thông và hệ bổ túc THPT. Thang
điểm đánh giá cho phần câu này khá cao, chiếm 3/10 điểm của toàn bài thi. Theo
hướng dẫn của bộ GD-ĐT và thông tin từ các cơ quan truyền thông thì đề thi Ngữ văn
năm 2010 cũng sẽ nằm trên trục cấu trúc của đề thi năm 2009. Như vậy có nghĩa
trong đề bài thi môn ngữ văn năm nay chắc chắn sẽ có dạng câu này, mà người ta
thường gọi đó là nghị luận xã hội. Nhưng thực tế trong kỳ thi Tốt nghiệp năm 2009,
số lượng thí sinh làm được bài này không nhiều, nếu có làm được thì chất lượng cũng
không cao. Vì sao vậy ? Cần phải làm gì trước thực tế này ? Đó là những câu hỏi
đang đặt ra cần giải quyết của giáo viên đang trực tiếp giảng dạy và ôn thi tốt nghiệp
Ngữ văn 12 nói chung và ôn thi tốt nghiệp Ngữ văn 12 hệ bổ túc nói riêng.
Là người tham gia chấm thi tốt nghiệp năm 2009, năm 2010 trực tiếp giảng dạy
và ôn tập Ngữ văn cho học sinh lớp 12, chúng tôi thực sự trăn trở trước vấn đề này.
Sau một thời gian nghiên cứu tìm tòi và thể nghiệm, qua đề tài khiêm tốn này, chúng
tôi muốn đề xuất một số phương án ôn tập cho dạng bài làm văn nghị luận xã hội. Với
mục tiêu là tìm ra một hướng đi hiệu quả trong giảng dạy ôn thi tốt nghiệp THPT,
môn ngữ văn lớp 12 - hệ bổ túc.
- 1 -
*
* *
Phần thứ hai: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. Các khái niệm:
1. Nghị luận: đgt. Bàn bạc và đánh giá một vấn đề. (theo Từ điển tiếng Việt)

hay” (NXB GD – 1994) thì nghị luận xã hội có thể chia ra thành 6 chủ đề lớn như
sau:
- Nghị luận về một vấn đề đạo đức nhân sinh
- Nghị luận về một vấn đề chính trị
- Nghị luận về một vấn đề tư tưởng văn hóa
- Nghị luận về một vấn đề kinh tế
- Nghị luận về một vấn đề lịch sử
- Nghị luận về một vấn đề địa lý, môi trường
SGK Làm văn lớp 12 (NXB GD-1999) thì chia ra thành 3 chủ đề lớn:
- Bình luận chính trị
- Bình luận vấn đề xã hội
- Bình luận vấn đề tư tưởng văn hóa
Còn SGK Ngữ văn lớp 12 (NXB GD- 2009) lại chia thành 2 chủ đề lớn:
- Nghị luận về một tư tưởng đạo lý
- Nghị luận về một hiện tượng đời sống
- 3 -
Dù chia chủ đề như thế nào thì văn nghị luận xã hội đều tập trung bàn bạc, trao đổi
một vấn đề nào đó liên quan trực tiếp đến đời sống xã hội về vật chất hoặc đời sống
tinh thần của con người.
III. Những yêu cầu của bài văn nghị luận xã hội
1. Yêu cầu chung
Bài nghị luận xã hội dù ngắn hay dài đều phải đạt được những yêu cầu sau:
1. 1. Bài nghị luận xã hội phải thể hiện sự hiểu biết chính xác tường tận về vấn đề hay
hiện tượng xã hội được bàn bạc. Người viết nghị luận phải chỉ ra được thực chất cũng
như xu hướng vận động của vấn đề hay hiện tượng đó.
1. 2. Bài nghị luận xã hội đòi hỏi người viết phải có chính kiến, phải bộc lộ công khai
lập trường quan điểm, tư tưởng của mình. Một bài bình luận xã hội không thể thiếu
phần đề xuất những ý kiến, nhận định, đánh giá về vấn đề xã hội được đem ra bàn
bạc. Trên cơ sở đó, người viết có thể đề nghị một giải pháp thích hợp.
1. 3. Bài nghị luận xã hội đòi hỏi phải có tính thời sự cao. Nó phải hướng tới mục

Điều quan trọng là các em làm thế nào để viết ra được những hiểu biết đó, bàn bạc về
nó, có quan điểm, thái độ rõ ràng…bằng một văn bản đúng với yêu cầu về nội dung
và hình thức.
CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN
I. Vai trò vị trí của văn nghị luận xã hội :
1. Trong đời sống
Nghị luận xã hội là loại văn được ứng dụng hết sức rộng rãi trong đời sống . Ta
có thể dễ dàng bắt gặp nó trên bất kỳ một một phương tiện thông tin đại chúng nào,
- 5 -
nằm dưới dạng các bài bình luận, xã luận về một vấn đề nào đó, một hiện tượng nào
đó thuộc lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, v.v…hay những buổi trò chuyện, thuyết
giáo của các nhà giáo dục, bài giảng đạo đức của các mục sư, linh mục, tu sỹ… Dẫu
tồn tại dưới dạng nói hay dạng viết thì nghị luận xã hội luôn có một vị trí quan trọng
trong đời sống xã hội. Bởi nó giúp con người nhận thức một cách đầy đủ, cập nhật,
khách quan các vấn đề liên quan đến đời sống , để từ đó định hướng tốt cho sự phát
triển tích cực theo quy luật vận động của xã hội. Trung Quốc, nước láng giềng với ta
có một bề dày văn hóa đồ sộ và văn học đương nhiên có những thành tựu nổi trội trên
thế giới. Tuy vậy trong đề thi tuyển sinh Đại học môn Ngữ văn của họ lại chỉ hỏi về
nghị luận xã hội. Ở Việt Nam, việc cho thêm câu hỏi nghị luận xã hội vào đề văn là
một tín hiệu đáng mừng, thể hiện sự phát triển của đời sống xã hội và vị trí quan trọng
của loại văn này.
Nghị luận xã hội là một yêu cầu cần thiết trong đời sống đặc biệt là cho học sinh.
Bởi vì qua đó, có thể kiểm tra chính xác năng lực tư duy, óc sáng tạo, sự hiểu biết của
học sinh; mặt khác tránh tình trạng "đạo văn" hay lệ thuộc nhiều vào sách vở.
2. Trong nhà trường
Văn nghị luận nói chung, văn nghị luận xã hội nói riêng được đưa vào chương
trình phổ thông cả hai cấp học (THCS và THPT) với vị trí trọng yếu trong hệ thống
thể loại văn bản được lựa chọn đưa vào tìm hiểu và rèn luyện kỹ năng thành lập.
2. 1. Chương trình trung học cơ sở:
Nghị luận xã hội được hướng dẫn khá kỹ ở lớp 9 với phần khái luận lẫn cách

Ở phần văn học cũng được tích hợp một số văn bản dạng NLXH như:
- Về luân lý xã hội ở nước ta (Phan Châu Trinh)
- Đọc thêm: Tiếng mẹ đẻ - nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức (Nguyễn An Ninh)
- Tuyên ngôn độc lập (Hồ Chí Minh)
- Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác (Ăng Ghen)
Các ngữ liệu trong bài: phong cách ngôn ngữ chính luận cũng chọn dạng NLXH:
- Cao trào chống Nhật cứu nước (Trường Chinh)
- 7 -
- Việt Nam đi tới (Báo QĐNDVN năm 2007)
- Tinh thần yêu nước của nhân dân ta
Đến lớp 12 thì phần nghị luận XH được đề cập ngay từ đầu năm học với hai bài lý
thuyết cụ thể:
- Nghị luận về một tư tưởng đạo lý
- Nghị luận về một hiện tượng đời sống
Và bài viết làm văn số 1 cũng được ấn định là văn NLXH
Nhận xét: Như vậy nghị luận xã hội có vị trí hết sức quan trọng trong nhà trường phổ
thông. Ở đó học sinh không chỉ được tiếp cận dạng bài NLXH mà còn được luyện tập
thực hành thành lập văn bản một cách khá kỹ càng.
II. Thực trạng vấn đề
Như trên đã trình bày, vai trò vị trí, tầm quan trọng của NLXH lớn như vậy,
nhưng thực tế kết quả làm bài của HV đang có nhiều thách thức về mặt chất lượng.
Đa số học sinh chưa làm được bài nghị luận xã hội, hoặc làm rất kém, đặc biệt là học
viên Bổ túc. Bằng chứng là kết quả kỳ thi Tốt nghiệp năm 2009 vừa rồi hiếm có thí
sinh nào dành điểm cao cho bài làm cho câu này. Vì sao vậy? Có khá nhiều nguyên
nhân, nhưng tập trung vào mấy điểm sau:
- Do tuổi đời còn nhỏ, cơ hội va chạm với muôn mặt đời sống ít, nên dẫn đến vốn
hiểu biết xã hội của học viên hạn chế.
- Ý thức tiếp cận những vấn đề xã hội của các em chỉ mang tính quan sát mà không
mang tính nhận thức cho nên biết mà không nói được một cách kỹ càng.
- HV bổ túc là đối tượng con nông dân nghèo ít có điều kiện tiếp cận với các kênh

Điểm
Lớp
10-9 T.lệ
%
8-7 T.lệ
%
6-5 T.lệ
%
< 5 T.lệ
%
12 G
51 HV 0 0 7 14 % 11 22 % 33 65 %
12K
- 9 -
39 HV 0 0 4 10% 9 23 % 26 67%
Nhìn vào bảng thống kê ta thấy tỷ lệ HV đạt điểm trên trung bình quá thấp,
chưa đạt 40%. Lỗi vi phạm của HV chủ yếu là không biết cách làm bài, không xác
định được viết gì, viết như thế nào. Nói đúng hơn không biết cách xác định từng phần
nội dung cho bài viết của mình. Cho nên dẫn đấn tình trạng chung là kết cấu rời rạc,
thiếu tính hệ thống, lập luận lỏng lẻo không có tính logic, lý lẽ kém tính thuyết phục..
Như vậy vấn đề đặt ra cấp bách cần giải quyết trong việc ôn thi làm văn NLXH
đối với lớp 12 là ôn tập lý thuyết, hướng dẫn các cách thức làm bài, thực hành rèn
luyện kỹ năng làm văn NLXH
Chương III: NHỮNG GIẢI PHÁP ÔN TẬP
I. Hướng dẫn ôn tập lý thuyết
Lý thuyết làm văn NLXH không nhiều chủ yếu tập trung vào mấy đơn vị kiến
thức cơ bản sau:
- Khái lược về NLXH (bao hàm khái niệm, đặc điểm, yêu cầu của nghị luận xã
hội…)
- Cách làm bài NLXH

3. Nội dung cơ bản của bài làm:
- 11 -
- Giới thiệu,, giải thích tư tưởng đạo lý cần bàn
- Phân tích những mặt đúng, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến
vấn đề cần bàn
- Nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động về tư tưởng, đạo lý
4. Dàn bài khái quát
a) Mở bài
- Giới thiệu vấn đề được đưa ra bình luận.
- Nêu luận đề: dẫn nguyên văn câu chứa nội dung tư tưởng, đạo lý
- Giới hạn nội dung và thao tác nghị luận sẽ triển khai.
b) Thân bài
- Giải thích tư tưởng, đạo lí cần nghị luận (nêu các khía cạnh nội dung của tư
tưởng, đạo lí này).
- Phân tích, chứng minh, bình luận các khía cạnh ; bác bỏ, phê phán những sai
lệch (nếu có).
- Khẳng định chung, nêu ý nghĩa, liên hệ thực tế, rút ra bài học nhận thức và
hành động.
c) Kết bài
- Tóm tắt các ý, nhấn mạnh luận đề đã nêu ở đầu bài nhằm chốt lại bài viết hoặc
dẫn thơ, văn để mở rộng, gợi ý thêm cho người đọc về vấn đề đang bàn luận.
- Rút ra bài học
- Nêu cảm xúc, suy nghĩ hành động của bản thân về vấn đề.
B/NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG
- 12 -


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status