ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN TRƯỜNG SƠN
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ NHÂN VẬT
TRONG TÁC PHẨM SỐ ĐỎ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ,
VĂN HỌC VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN TRƯỜNG SƠN
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ NHÂN VẬT
TRONG TÁC PHẨM SỐ ĐỎ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
Ngµnh: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 8.22.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ,
VĂN HỌC VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hà Quang Năng
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................... ii
MỤC LỤC .......................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC BẢNG ................................................................................. iv
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài .......................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề .............................................................................................. 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................. 5
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ................................................................... 5
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................. 6
6. Ý nghĩa và đóng góp của luận văn .............................................................. 6
7. Cấu trúc dự kiến của luận văn ..................................................................... 7
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT ..................................................................... 8
1.1. Hội thoại và các dạng thức hội thoại............................................................ 8
1.1.1. Khái niệm hội thoại ........................................................................... 8
1.1.2. Vận động hội thoại ............................................................................ 9
1.1.3. Các dạng thức hội thoại ................................................................... 11
1.2. Một số vấn đề chung về từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt ...................... 17
1.2.1. Khái niệm từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt .................................... 17
1.2.2. Phân loại từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt ...................................... 18
1.3. Từ thông tục ............................................................................................ 20
1.4. Thành ngữ trong tiếng Việt .................................................................... 21
1.5. Vài nét về cuộc đời, sự nghiệp và tiểu thuyết Số đỏ của nhà văn Vũ
Trọng Phụng .................................................................................................. 23
1.5.1. Cuộc đời và sự nghiệp của Vũ Trọng Phụng .................................. 23
1.5.2. Tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng ...................................... 25
iii
3.2.3. Vai trò của từ ngữ thông tục trong ngôn ngữ nhân vật của tiểu
thuyết Số đỏ ............................................................................................... 74
3.3. Vai trò của việc sử dụng thành ngữ trong ngôn ngữ nhân vật ở tiểu
thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng ................................................................ 75
3.4. Tiểu kết ................................................................................................... 80
KẾT LUẬN....................................................................................................... 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................... 85
NGUỒN TƯ LIỆU KHẢO SÁT CỦA LUẬN VĂN ..................................... 88
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Bảng thống kê tần số sử dụng ĐTNX trong lời thoại nhân vật của
tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng ............................................. 33
Bảng 2.2. Bảng thống kê số lượng và tần số xuất hiện các từ xưng hô có
nguồn gốc từ danh từ thân tộc và các từ các danh từ khác của
nhân vật trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng ..................... 42
Bảng 3.1. Bảng thống kê các từ ngữ thông tục được sử dụng trong tiểu
thuyết Sô đỏ của Vũ Trọng Phụng .................................................... 61
Bảng 3.2. Bảng thống kê các thành ngữ được sử dụng trong tiểu thuyết Số
đỏ của Vũ Trọng Phụng .................................................................... 76
iv
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nó có ý nghĩa gì trong việc thể hiện đề tài, nội dung từ tưởng tác phẩm và tài
năng của nhà văn? Đó là lí do chúng tôi chọn đề tài: “Đặc điểm ngôn ngữ
nhân vật trong tác phẩm Số đỏ của Vũ Trọng Phụng” cho công trình luận văn
của mình. Luận văn của chúng tôi sẽ tập trung khảo sát, nghiên cứu những đặc
điểm ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm Vũ Trọng Phụng vận dụng quan điểm
ngữ dụng sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm lí thuyết ngôn ngữ dưới ánh sáng ngữ
dụng học và thêm một lần nữa khẳng định tài năng, những đóng góp của nhà
văn vào thành công của nền văn học Việt Nam đương đại.
2. Lịch sử vấn đề
Việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến ngôn ngữ trong hoạt động giao
tiếp đã trở thành một trong những hướng nghiên cứu được nhiều nhà ngôn ngữ
học quan tâm. Những kết quả nghiên cứu ở lĩnh vực này được các nhà nghiên
cứu triển khai theo những hướng khác nhau, như: nghiên cứu về dụng học Pragmatics (J.L. Austin, 1965; Ch.W. Morris, 1966; J.R. Searle, 1969); nghiên
cứu về ngôn ngữ học xã hội - Socio - Lingiustics (Nikolski, 1920; E. Sapir, O.
Jespersen, 1922,...); hướng nghiên cứu về ngôn ngữ học văn bản - Text
Lingiustics (L. Bloomfield, 1926; E. Benveniste, 1960; A.A. Reormatxky,
1967,...). Ở hướng nghiên cứu dụng học, các nhà ngôn ngữ học xác định 4 vấn
đề: sự chiếu vật và chỉ xuất, nghĩa tường minh và hàm ẩn, hành động ngôn ngữ
và lí thuyết hội thoại. Trong các vấn đề đó, lí thuyết hội thoại (bàn về lĩnh vực
giao tiếp đối thoại) được xem là một vấn đề trọng tâm. "Ngôn ngữ chỉ sống
trong sự giao tiếp đối thoại giữa những người sử dụng ngôn ngữ. Sự giao tiếp
đối thoại chính là lĩnh vực đích thực của cuộc sống ngôn ngữ. Toàn bộ cuộc
sống của ngôn ngữ, trong bất kì lĩnh vực nào sử dụng nó (sinh hoạt, sự vụ, khoa
học, nghệ thuật v.v) đều thấm nhuần những quan hệ đối thoại" [32, tr.172].
Nghiên cứu ngôn ngữ hội thoại nói chung, ngôn ngữ nhân vật nói riêng không
thể tách nó khỏi lĩnh vực lời nói, tức khỏi ngôn ngữ với tư cách là hiện tượng
toàn vẹn cụ thể.
2
rất nhiều bài viết về ông. Điều này càng thêm khẳng định tài năng kiệt xuất, những
cống hiến của ông đối với nền văn học nước nhà cũng như sự yêu thích của các
nhà nghiên cứu đối với các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng.
Các công trình nghiên cứu về tác giả, tác phẩm của Vũ Trọng Phụng nói
chung và nghiên cứu về tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng nói riêng cho đến nay là
tương đối nhiều, song mỗi nhà nghiên cứu lại có cách đánh giá riêng, dưới
những góc nhìn riêng.
Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn trong cuốn “Nhà văn tiền chiến và quá
trình hiện đại hóa văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX cho tới 1945” (NXB Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2005) đã nhận xét: Vũ Trọng Phụng là một nhà văn tài
hoa trên cả hai lĩnh vực phóng sự và tiểu thuyết, song trước hết Vũ Trọng
Phụng là một “kiện tướng” về phóng sự, bởi xét về mặt thể tài thuần túy, phóng
sự của Vũ Trọng Phụng đã là một cái gì rất chín, rất thành thục không chê vào
đâu được. Sở dĩ nói Vũ Trọng Phụng đi xa hơn cả so với nhiều cây bút phóng
sự khác là ở chỗ trong khi miêu tả những sự đời ấy, ông biết làm cho nó lung
linh lên, thật đấy mà huyễn hoặc đấy, ma quái đấy. Những sự thật được ông
khai thác đôi khi tưởng như riêng lẻ, cá biệt song lại nói được bản chất sự vật”.
Trong cuốn “Đặc sắc văn chương Vũ Trọng Phụng”. (NXB Thanh Niên,
2008), tác giả Trần Đăng Thao cho rằng “cái tôi trần thuật của nhà văn họ Vũ
đã vươn đến giọng điệu bình luận sắc sảo, kín đáo, hay hàm ý trào phúng, phê
phán sâu cay và bộc lộ trực tiếp nhận thức của chính nhà văn trước sự vật và
hiện tượng”.
Có thể nói, các công trình nghiên cứu trên chủ yếu mới từ góc độ ngôn
ngữ, chưa có công trình nào nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong
tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng.
Như vậy, căn cứ vào tình hình thực tiễn nghiên cứu về đặc điểm ngôn
ngữ và về tác giả Vũ Trọng Phụng, chúng tôi chọn đề tài: “Đặc điểm ngôn ngữ
nhân vật trong tác phẩm “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng”
Trong luận văn này, chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài ở
việc tìm hiểu từ ngữ trong lời thoại nhân vật bao gồm từ xưng hô là đại từ, từ
5
xưng hô là danh từ thân tộc và các danh từ khác, việc sử dụng các từ ngữ thông
tục, các thành ngữ trong tiểu thuyết “Số đỏ” của nhà văn Vũ Trọng Phụng từ
góc độ ngữ dụng.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thống kê - phân loại được dùng để thống kê các câu văn
là lời thoại của nhân vật; các từ ngữ tiêu biểu trong ngôn ngữ nhân vật; phân
loại các lớp từ ngữ, tính tần số sử dụng của các từ ngữ. Phương pháp này vừa là
cơ sở để xác định đối tượng nghiên cứu (từ ngữ của ngôn ngôn ngữ nhân vật),
vừa cung cấp các số liệu làm minh chứng cho các luận điểm trong từng chương
của luận án.
5.2 Phương pháp so sánh phân tích diễn ngôn dùng để phân tích các ngữ
liệu trên các bình diện của diễn ngôn hội thoại, chỉ ra sự chi phối của các nhân
tố giao tiếp, của các phương châm hội thoại đến các tuyến nhân vật và ngôn
ngữ của họ; tổng hợp để rút ra đặc điểm khái quát về từ ngữ trong ngôn ngữ
của nhân vật trong tác phẩm, đối chiếu để chỉ ra sự giống và khác nhau trong
ngôn ngữ của nhân vật.
5.3 Phương pháp phân tích ngữ nghĩa - ngữ dụng được dùng trong tìm
hiểu nội dung ý nghĩa của từ ngữ và vai trò của chúng trong lời thoại của các
nhân vật tham gia giao tiếp trong tác phẩm.
6. Ý nghĩa và đóng góp của luận văn
6.1. Ý nghĩa lí luận
Có thể nói, đây là công trình nghiên cứu toàn diện, hệ thống và đầy đủ
đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm Số đỏ của Vũ Trọng Phụng ở bình
diện từ ngữ từ góc độ ngữ dụng.
tầm quan trọng của nó: “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ
biến của ngôn ngữ, có cũng là hình thức cơ sở cho mọi hoạt động ngôn ngữ
khác”[10, tr. 201]
Tác giả Nguyễn Đức Dân chỉ rõ hơn đặc điểm của hội thoại: “Trong giao
tiếp hai chiều, bên này nói, bên kia nghe và phản hồi trở lại. Lúc đó vai trò của
hai bên thay đổi: bên nghe lại trở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe.
Đó là hội thoại. Hoạt động giao tiếp phổ biến nhất, căn bản nhất là hội thoại”
[12, tr. 76]
Theo tác giả Nguyễn Như Ý đã nhấn mạnh: “Hội thoại là hoạt động
giao tiếp bằng lời ở dạng nói giữa các nhân vật giao tiếp nhằm trao đổi các nội
dung miêu tả và liên cá nhân theo đích được đặt ra” [41, tr.122]. Theo Đỗ Thị
Kim Liên: “Hội thoại là một trong những hoạt động ngôn ngữ thành lời giữa
hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ cảnh nhất định mà họ có sự
sáng tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một
đích nhất định” [19, tr.18]. Trong nhiều tác phẩm văn học, cùng với ngôn ngữ
của tác giả là sự xuất tồn tại luân phiên, xem kẽ ngôn ngữ hội thoại của các
nhân vật.
8
Trong bất kể một tác phẩm văn học nào, hội thoại hầu như đều có mặt,
nó không xuất hiện độc lập mà luôn gắn liền với ngôn ngữ của tác giả, hoàn
thiện tác phẩm ở cả mặt nội dung và hình thức.
1.1.2. Vận động hội thoại
Để hình thành một cuộc hội thoại gồm có cấu trúc: sự trao lời, sự trao
đáp và sự tương tác. Để hình thành một cuộc giao tiếp hoàn chỉnh và đúng hình
thức thì đây là những điều kiện cần phải có.
Để thực hiện cuộc hội thoại, ban đầu người nói đưa ra phát ngôn của
mình hướng về phía người nghe nhằm phát đi thông tin và hướng tới một đối
tượng nhất định nào đó, hoạt động đó được gọi là trao lời “vận động trao lời
“Sp1: Ô kìa, con bé lạ nhỉ? Thế mày làm sao?
Sp2: U ạ, dễ thường tôi…dễ thường tôi chửa…”[1, tr.99]
Đây là lời trao đáp của Sp2 (nhân vật thị Mịch) thông báo với Sp1 (nhân vật
bà Đồ) về việc mình đã mang thai với Nghị Hách
Ví dụ 12:
“Sp1: Mẹ kiếp! Con Giời với chả con Phật!
Sp2: Cứ nói nhảm thế, chứ cậu ấy còn bé dại như thế, đã biết quái gì!”
[1, 400]
Trong ví dụ trên, lời trao đáp của Sp2(người vú nuôi) thể hiện thái độ phản
đối với hành vi cảm thán thể hiện sự bất bình, chê trách của Sp1(Xuân tóc đỏ)
trước lối sống của con trai bà Phó Đoan.
1.1.2.3. Sự tương tác
Trong quá trình hội thoại, các đối ngôn sẽ có ảnh hưởng lẫn nhau, tác động
đến cách ứng xử của nhau. Đây được xem là vận động tương tác xảy ra trong hội
thoại. Trước khi hội thoại giữa các đối ngôn tồn tại một khoảng cá ch nhất định về
sự hiểu biết lẫn nhau, về tâm lí, tình cảm… Sau khi hội thoại,nếu những khoảng
10
cách ấy được thu hẹp lại, rút ngắn lại, khi ấy có thể nói đã có một cuộc hội thoại
tích cực. Ngược lại, khoảng cách ấy vẫn giữ nguyên hoặc mở rộng ra, khi ấy cuộc
thoại có thể bị xem là tiêu cực. Tương tác là một kiểu quan hệ xã hội giữa người
với người. Có một hoạt động xã hội thì có sự tương tác. Tương tác bằng lời là một
kiểu tương tác, là hình thức giao tiếp bằng ngôn ngữ.
Ví dụ 13:
“Sp1: Nhục! Giời ơi! Nhục ơi là nhục!
Sp2: Ô hay! Đẻ làm gì thế? Đi phu thì đã làm sao?
Sp1: Nhục! Sức vóc học trò! Rồi ốm! Rồi chết!” [1, 28]
Đây là cuộc thoại giữa hai nhân vật: Phú và mẹ Phú. Cuộc thoại diễn ra với
Cái chổi cướng cái đinh rơi xuống đất. Nó cúi nhặt mồn vẫn đọc to:
- Hở đến nách và nửa vú là Ngây thơ! Hở… hở là… Ngây thơ!” [28, tr. 54]
Đoạn văn là lời thoại của nhân vật “nó” với việc học thuộc những mẫu
thời trang mà nó được giao một cách nhanh nhất. Động từ dẫn: “Nó đọc thật
to” “mồm vẫn đọc to” của một thằng ma cà bông đang tìm cách đặt chân vào
giới thượng lưu lúc bấy giờ. Trong truyện “Người tù được tha” cũng có
đoạn thoại sau:
“Lần đầu trong đời, cụ phán Uyên dám nói ra miệng mấy câu tưởng
không khi nào cụ dám nói:
- Các ông nói rất phải. Nó chết như thế cố nhiên là hơn chết vì hóc
xương gà! Kể ra cho đúng thì nó là người cũng đáng phục, có chí khí lỗi lạc
khác nhiều người, khác tôi. Tôi sống thế này là hèn nhát cực điểm, vinh thân
phì ra thế chứ có biết hy sinh là cái quái gì! Xã hội toàn những người như tôi
cả thì cũng hỏng bét! Thôi thì… giữa lúc đau đớn, các ông khuyên tôi nên lấy
thế làm vinh, tôi cũng xin lấy thế làm vinh chứ sao! Thì tôi cũng xin kiêu ngạo
vì đã là bố nó, để mong khuây khỏa được đôi chút...” [27, tr. 157]
12
Đây là đoạn thoại giữa cụ phán Uyên và những người dân, nhưng có thể
thấy ông cụ đang độc thoại với chính mình. Ông đang kể về về cái chết của cậu
con trai với những lời lẽ tự hào. Và ai cũng ngạc nhiên về mấy câu nói hùng
hồn bất ngờ của cụ phán mà tính nhút nhát là không còn ai chẳng biết. Trong
mắt cụ thì cậu con trai chính là anh hùng, là vĩ nhân.
Dạng đơn thoại còn tồn tại ở kiểu cấu trúc mệnh lệnh sai khiến:
“Châu trừng mắt nhìn một lượt ba người chức vị, rồi nghẹn ngào hỏi:
- Anh Phách tôi có mệnh hệ gì phải không?
Lý trưởng đành rút giấy công văn để dưới đèn ra đưa cho Châu.”[27, tr. 153]
Đơn thoại không có bất kì lời đáp đồng ý nào nhưng đem lại hiệu quả
câu trao, mỗi lời trao là một lời đáp, không có hiện tượng đè lên nhau.
Ở dạng song thoại, có thể không có lời dẫn và từ dẫn mà được biểu hiện
bằng hình thức “gạch ngang đầu dòng”.
- Thế là xong, tôi đã đóng một vai trò tàn nhẫn hết sức!
- Thế nào?
- Tôi đã bảo Oanh thế này: “Tôi chỉ còn thương hại cô mà thôi! Cô hỏi
tôi có giận không? Có yêu đâu mà giận! Sao xưa kia, cô đã khinh tôi như thế?
Bây giờ khổ sở, cô mới hận, mới quay lại yêu tôi…Cái yêu như thế hỏi có giá
trị gì? Có ai lại vớt lại một bát nước mà ta đã hắt xuống đất?” Oanh xúc cảm
quá mạnh nên không nói được gì cả. oanh nấc lên mộ cái thì tôi bỏ mặc ra
về”[27, tr.78]
Hoặc có đoạn:
- Cứ ỡm ờ mãi!
- Xin một tị! Một tị tỉ tì ti thôi!
- Khỉ lắm nữa!
- Lẳng lơ thì cũng chẳng mòn…
- Thật đấy. Chính chuyên cũng chẳng sơn son để thờ? Nhưng này!
Duyên kia ai đợi mà chờ? Tình kia ai tưởng mà tơ tưởng tình….[28, tr.6]
Ở dạng song thoại xuất hiện một hiện tượng: Về hình thức nó là đối
thoại, nhưng về mặt nội dung lại là tự nói với mình, nhằm thể hiện suy nghĩ
14
cảm xúc của mình. Dạng này diễn ra phổ biến ở nhiều tác phẩm: Tự do, Lấy vợ, Số
đỏ…Đây là dạng thoại được vận dụng do hệ quả của song thoại. Có đoạn sau:
Sau khi vợ anh ra phố mua bán, Doãn bèn hỏi tôi: - Chắc anh rất ngạc
nhiên khi thấy một người như tôi mà đi lấy một người vợ như thế ấy? Tôi vội
vàng ngừng đũa. Làm ra vẻ ngạc nhiên: - Sao? Sao anh lại hỏi tôi thế nhỉ? Có
lẽ sự vờ vĩnh của tôi không được tự nhiên mấy nên anh Doãn mỉm cười mà
ruột của Quỳnh đã biết.
Bà Phán cũng dọa:
- Chính thế, chị ạ. Học thức thì... đõ tú tài ấy. Con nhà thì... tử tế. Tính
nết thì... ngoan ngoãn. Ờ, chị ạ, ngoan lắm, ít có đấy, không chơi bời gì
cả.”[27, tr. 60]
Ở đoạn này có đến ba nhân vật tham gia hội thoại, nội dung chủ yếu
xoay quanh việc làm mai cho Quỳnh và Liêm. Các nhân vật tư do bày tỏ ý kiến
của mình và hướng câu trả lời về phía người trao thoại.
“- Không sợ! Cái đó là người ta bày ra làm đồi chơi, không có ma. Ta
ngồi xa xa ở đây vậy.
- Nhà này là nhà ai hở anh?
- Nhà một ông giáo sư già, đõ cử nhân, bạn dạy học của anh.
- Thế ông ấy đâu?
- Ông ấy đi xa một tuần lễ, nhờ anh đến đây trông hộ.
- Lạ nhỉ?
- Chính thế đấy.
- Người ngủ dưới nhà hẳn là đầy tớ?
- Bẩm vâng ạ.
- Sợ nó biết...
- Bẩm không ạ! Nó ngủ thì ắt nó không biết và đã nó có biết thì cũng
không dám nói với ai, vì nó sợ nói với ai thì chủ nó sẽ đuổi nó!” [27, tr. 65]
Cuộc hội thoại xuất hiện ba nhân vật giao tiếp gồm: Liêm, Quỳnh và
người đầy tớ. Nội dung xoay quanh việc Liêm đưa Quỳnh đến nhà một người
bạn đi công tác xa và đang nhờ Liêm trông coi hộ. Các nhân vật đều tư do thể
hiện suy nghĩ và ý kiến của mình.
16
1.1.3.4. Đa thoại
Trong hội thoại khi xuất hiện lời của nhiều nhân vật đan xen vào với