i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và có kế thừa các
công trình nghiên cứu trước đó có liên quan đến đề tài.
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2015
Cao học viên
Nguyễn Thị Xoan
ii
LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ
trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác. Trong suốt
thời gian từ khi bắt đầu học tập đến nay, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm,
giúp đỡ của Quý thầy cô, gia đình và bạn bè.
Để có thể hoàn thành được luận văn thạc sỹ này, tôi xin chân thành cám ơn
quý thầy cô giáo Khoa sau Đại học, Trường Đại học Thương Mại đã tận tâm giảng
dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập tại
trường. Đặc biệt tôi xin trân thành cám ơn TS. Võ Tá Tri đã trực tiếp hướng dẫn và
chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn. Bên cạnh đó tôi
cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và nhân viên Sở Nông nghiệp và Phát
là 13.094,58 ha: Trong đó, diện tích các công ty thuê để sản xuất kinh doanh là
10.778,69 ha (chiếm 82,3%), diện tích công ty tổ chức liên doanh, liên kết SX có
176,79 ha chiếm tỷ lệ 1,35%, phần lớn diện tích ĐLN được các công ty khoán
cho các HGĐ, cá nhân quản lý và sử dụng chiếm 56% (7.326,4ha), chi tiết theo
biểu sau:.................................................................................................................46
Bảng 2.3. Thực trạng quản lý đất đai trong các công ty lâm nghiệp.................47
Bảng 2.5. Tình hình tài chính của các công ty trước và sau đổi mới.................62
Bảng 2.7. Doanh thu và thu nhập bình quân của các công ty lâm nghiệp.........74
Bảng 2.8. Lao động và phân công lao động trong các CTLN (Năm 2014)........75
Bảng 2.9: Tình hình hoạt động kinh doanh của CTLN cả nước........................78
Hình 2.5. Diện tích SXKD và diện tích làm nhiệm vụ công ích..........................82
iv
CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH
CHUYỂN ĐỔI LÂM TRƯỜNG QUỐC DOANH SANG CÔNG TY LÂM
NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG THEO ĐỊNH HƯỚNG..........94
TÁI CƠ CẤU NGÀNH LÂM NGHIỆP VIỆT NAM.........................................94
Phụ lục 01. Bảng tổng hợp loại đất của công ty TNHH MTV Đak Tô................i
Phụ lục 02. Bảng tổng hợp loại đất của công ty TNHH MTV LN Sông Kôn tỉnh
Bình Định.................................................................................................................. I
PHỤ LỤC
v
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Thực trạng giao đất và cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho các CTLN
........................................................................... Error: Reference source not found
found
Hình 2.4. Mô hình giao, cho thuê đất hiện nay.........Error: Reference source not
found
Hình 2.5. Diện tích SXKD và diện tích làm nhiệm vụ công ích..........................82
vii
CÁC CHỮ VIẾT TẮT (Sắp xếp theo A,B,C)
NLTQD
CNXH
LTQD
DNNN
TCC
BQL
BVR
CTLN
CBCNV
XĐGN
KT-XH
CTTNHH 1 TV
CNQSDĐ
DVMTR
ĐLN
ĐNN
HGĐ
HTX
KD
LSNG
LN
Lâm nghiệp
Lâm trường
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Quản lý rừng bền vững
Quy hoạch
Quyền sử dụng đất
Quyền sử dụng rừng
Rừng đặc dụng
Rừng sản xuất
Doanh nghiệp
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt có vai trò quan trọng trong
nền kinh tế quốc dân và trong đời sống xã hội. Trong luật Bảo vệ và phát triển rừng
có ghi "Rừng là tài nguyên quý báu của đất nước có khả năng tái tạo, là bộ phận
quan trọng của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn đối với nền kinh tế quốc dân,
gắn liền với đời sống của nhân dân với sự sống còn của dân tộc.
Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên 33,12 triệu ha, trong đó diện tích có rừng
là 12,61 triệu ha và 6,16 triệu ha đất trống đồi núi trọc. Diện tích đất lâm nghiệp
(LN) phân bố chủ yếu ở trên các vùng đồi núi của cả nước là điều kiện thuận lợi để
phát triển LN. Từ khi bước vào thời kỳ cải tạo và xây dựng CNXH, Đảng và Nhà
nước ta đã rất quan tâm và có chủ trương xây dựng, phát triển nghành LN.
Để thực hiện được những chủ trương đó, một trong những nội dung quan
trọng là xây dựng và phát triển các nông lâm trường quốc doanh (NLTQD), trong
nhiều thập kỷ qua, NLTQD được xem là một trong những lực lượng nòng cốt thực
hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời góp phần vào phát triển kinh tế
còn chậm gây khó khăn cho công tác quản lý đất đai cũng như thực hiện các quyền
của người sử dụng đất, dẫn đến tranh chấp, lấn chiếm. Bên cạnh đó, các CTLN còn
chưa phát huy hết lợi thế rừng và đất lâm nghiệp; việc áp dụng khoa học kỹ thuật
tuy đã phát triển nhưng chưa đồng đều nguyên nhân chủ yếu do vấn đề về kinh phí,
một số cơ chế chính sách còn bất cập.
Có nhiều nguyên nhân làm cho ngành lâm nghiệp tỉnh Bắc Giang chưa thực sự
phát triển và chưa khai thác hết lợi thế của nghành song theo tôi nguyên nhân quan
trọng bắt nguồn từ những hạn chế nội tại của mô hình LTQD. Đó là lý do tôi chọn
vấn đề “Chính sách chuyển đổi cơ cấu Lâm trường quốc doanh trên địa bàn
tỉnh Bắc Giang theo định hướng Tái cơ cấu nghành Lâm nghiệp ở Việt Nam
hiện nay” làm đề tài cho luận văn cao học của mình.
2.Tổng quan nghiên cứu
Ngoài những văn kiện của Đảng và Nhà nước, liên quan tới vấn đề chuyển đổi
cơ cấu LTQD còn một số công trình nghiên cứu có giá trị của các cơ quan, Viện
nghiên cứu, địa phương, tiêu biểu như:
3
- Báo cáo “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp đổi mới quản lý nhà
nước đối với nông, lâm trường quốc doanh” - Lê Đức Thịnh - Viện Chính sách và
Chiến lược Phát triển nông nghiệp nông thôn, 2009; Báo cáo mới dừng lại ở nghiên
cứu thực trạng hoạt động của các nông lâm trường sau chuyển đổi theo Nghị quyết
28/NQ-TW và Nghị định 200/2004/NĐ-CP để đề xuất một số giải pháp làm cơ sở
để xây dựng chính sách cho các lâm trường mà chưa tập trung nghiên cứu theo định
hướng chuyển đổi như thế nào, giữ nguyên LTQD hay chuyển đổi theo hình thức
CTLN.
- Nghiên cứu: “Tổng quan về lâm trường quốc doanh hiện trạng, các vấn đề
và khuyến nghị” của Lê Văn Bách – Ban Chính sách, Tổng cục Lâm nghiệp năm
2011 đã nêu lên hiện trạng các LTQD, thành tựu, hạn chế và khuyến nghị đối với
Quảng Nam, Phú Yên, Kon Tum, Đắc Lắc….Tổng công ty Giấy Việt Nam; Đề án
xây dựng lộ trình sắp xếp đổi mới các LTQD về thời gian, kế hoạch thực hiện và dự
kiến kết quả đạt được.
Tuy nhiên, các nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở tầm vĩ mô dưới góc độ phân
tích thực trạng, hạn chế và tồn tại của chính sách vĩ mô mà chưa đi nghiên cứu sâu
tại một tỉnh cụ thể, đặc biệt đối với tình Bắc Giang là một tỉnh đang trong thời kỳ
chuyển đổi cơ cấu kinh tế, việc sắp xếp, đổi mới các nông, lâm trường quốc doanh
đang là vấn đề nóng được tỉnh hết sức quan tâm và yêu cầu phải tìm ra giải pháp cụ
thể cho việc sắp sếp đổi mới các nông, lâm trường quốc doanh.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Từ việc nghiên cứu, tổng kết các vấn đề lý luận từ các chính sách chuyển đổi
cơ cấu LTQD của cả nước, kết hợp phân tích thực trạng LTQD và định hướng phát
triển ngành LN trên địa bàn tỉnh Bắc Giang luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm
hoàn thiện chính sách chuyển đổi LTQD sang CTLN của tỉnh hiệu quả, bền vững.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
1. Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn của chính sách chuyển đổi
cơ cấu LTQD nói chung và trên địa bàn tỉnh Bắc Giang nói riêng theo định hướng
TCC ngành.
2. Phân tích và đánh giá thực trạng chính sách chuyển đổi cơ cấu LTQD trên
địa bàn tỉnh Bắc Giang.
5
3. Đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách chuyển đổi cơ cấu LTQD rên địa
bàn tỉnh Bắc Giang theo định hướng TCC ngành Lâm nghiệp.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Chính sách chuyển đổi cơ cấu LTQD trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
của một số Viện nghiên cứu, trung tâm, đề tài, chương trình và dự án đã thực hiện.
- Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu sơ cấp:
Khảo sát thực tiễn chung tình hình chuyển đổi cơ cấu LTQD trên địa bàn tỉnh
Bắc Giang, Thu thập số liệu các LTQD trước chuyển đổi và sau chuyển đổi để đánh
giá bức tranh toàn cảnh về quá trình chuyển đổi LTQD trên địa bàn tỉnh.
Tập trung nghiên cứu CTLN được chuyển đổi từ LTQD để nghiên cứu quá
trình quản lý, hoạt động sản xuất lâm nghiệp từ đó đưa ra những tồn tại và hạn chế
của quá trình chuyển đổi làm cơ sở đề xuất chính sách phù hợp để thúc đẩy lộ trình
chuyển đổi cơ cấu LTQD theo định hướng phát triển ngành Lâm nghiệp.
Quan sát, trao đổi và ghi chép những thông tin bổ sung phục vụ cho yêu cầu
phân tích thông tin của đề tài. Thu thập số liệu thông qua các hội nghị, hội thảo, các
chương trình làm việc.
Phần mềm Excel được sử dụng để thống kê hệ thống dữ liệu tại các địa điểm
nghiên cứu.
- Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác:
- Phương pháp tổng hợp, phân tích và so sánh: áp dụng chủ yếu trong việc
tổng hợp các tư liệu, thông tin đã có sẵn:
- Phân tích so sánh và đánh giá SWOT nhằm đánh giá thuận lợi, khó khăn, cơ
hội và thách thức để xác định “định hướng phát triển” của các CTLN nhà nước;
- Phương pháp chuyên gia để nhận xét, đánh giá, đề suất về cơ chế chính sách
và mô hình quản lý đối với CTLN (Chuyên gia Lâm nghiệp và thầy giáo hướng dẫn
Luận văn);
- Sử dụng các phương pháp: Phương pháp thống kê mô tả; Phương pháp phân
tích so sánh; Phương pháp toán kinh tế; Phương pháp đánh giá năng lực của tổ chức
(OCAT); Phương pháp phân tích môi trường kinh doanh (PESTLE); Phương pháp
đánh giá tác động của chính sách.
7
có thẩm quyền quyết định thành lập theo quy định của Pháp luật Việt Nam, hoạt
động trong lĩnh vực bảo vệ và Phát triển rừng. Lâm trường có năng lực pháp luật
dân sự, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản, có con dấu và tài khoản riêng.
Hiện nay, Lâm trường quốc doanh được hiểu là một tổ chức kinh tế do Nhà
nước thành lập, là một loại hình doanh nghiệp Nhà nước, được thực hiện chế độ
hạch toán kinh tế độc lập, là nơi có một tập thể công nhân viên chức được Nhà
nước giao vốn, được sử dụng một diện tích rừng và đất lâm nghiệp thuộc sở hữu
Nhà nước theo qui hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt để thực hiện các kế
hoạch nuôi trồng rừng, khai thác lâm sản, chế biến lâm sản và các kế hoạch kinh
doanh sản xuất khác do Nhà nước giao1.
Lâm trường quốc doanh được Nhà nước đầu tư vốn ban đầu, là đơn vị cơ sở
của ngành lâm nghiệp được Nhà nước giao quản lý và sử dụng một bộ phận quan
trọng là tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp; được đầu tư tập trung về nhân lực, vốn,
kỹ thuật, là lực lượng chủ yếu thực hiện các kế hoạch của Nhà nước trong lĩnh vực
LN, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội an ninh quốc phòng ở vùng miền núi,
dân tộc 2. LTQD là doanh nghiệp nhà nước do vậy, cũng như các doanh nghiệp nhà
nước khác, lâm trường phải hạch toán sản xuất kinh doanh, lấy mục tiêu là sản xuất
và tiêu thụ được nhiều sản phẩm lâm sản, đem lại nhiều lợi nhuận cho lâm trường
và cho Nhà nước. Lâm trường khác với các doanh nghiệp nhà nước khác là được
Bộ Kế hoạch và đầu tư, Đề tài: Tổ chức và chính sách đối với Lâm trường quốc doanh: Thực
trạng và giải pháp , 2001.
1
2
Nguyễn Văn Đẳng, Lâm nghiệp Việt Nam 1945-2000,, NXB nông nghiệp, 2001.
9
3
10
- Quá trình sản xuất rất dài: Kinh doanh rừng là một quá trình dài, hàng chục
năm mới có sản phẩm có giá trị hoặc giá trị sử dụng phù hợp với yêu cầu của thị
trường và xã hội. Do vậy, xác định chiến lược kinh doanh của LTQD phải có một
tầm nhìn dài hạn, phải quan tâm đến lợi ích lâu dài, phải xem xét đến các lợi ích dài
hạn để đạt tới mục đích tổng thể cuối cùng. Hơn nữa, chu kỳ sản xuất lâm nghiệp
dài hơn nhiều so với sản xuất công nghiệp nên độ rủi ro cao. Vì vậy, những chính
sách của Nhà nước cần tạo điều kiện để LTQD hoạt động có hiệu quả hơn.
- Quá trình tự nhiên và quá trình kinh tế xen kẽ nhau: Khác hẳn với quá trình
sản xuất công nghiệp, quá trình kinh doanh rừng có quá trình kinh tế và quá trình tự
nhiên. Quá trình kinh tế là thời kỳ có đầu tư lao động, tiền vốn; còn quá trình tự
nhiên là thời kỳ sản xuất ra sản phẩm với sự tác động của các yếu tố tự nhiên.
- Địa bàn sản xuất của các LTQD thường rất rộng và rất phân tán: Trước đây,
phạm vi hoạt động của một LTQD thường là một huyện miền núi, hoặc cả một vùng
miền núi của một tỉnh (vào khoảng 100.000 ha trở lên). Đến nay, qua nhiều lần quy
hoạch lại, giao đất, giao rừng, giảm bớt qui mô rừng tự nhiên thì diện tích thường
vào khoảng 20.000 ha đến 30.000 ha, ở vùng đất trống, đồi trọc cũng trên 5.000 ha.
Việc LTQD phải quản lý một diện tích đất rất lớn có dân cư sống xen kẽ nên gặp rất
nhiều khó khăn trong việc quản lý, bảo vệ rừng.
- Tính chất khu vực của kinh doanh rừng rất rõ ràng: Thể hiện ở phương
hướng kinh doanh của các LTQD ở các vùng sinh thái, vùng chuyên canh khác
nhau, mà ngay ở trong một LT cũng khác nhau do điạ bàn sản xuất của lâm trường.
- Tính chất thời vụ trong kinh doanh rừng rất rõ ràng: Tính chất này đòi hỏi
phải gắn liền với qui luật sinh trưởng của cây rừng và rừng, với hoạt động kinh
doanh rừng.
- Đất đai là một tư liệu sản xuất không thể thay thế được trong sản xuất Lâm
đều không có trách nhiệm với rừng và ĐLN dẫn đến tình trạng phá rừng và sử dụng
ĐLN kém hiệu quả.
1.1.1.3. Vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Lâm trường quốc doanh
a) Vai trò của Lâm trường quốc doanh: Vai trò của hệ thống LTQD trong
nền kinh tế và trong đời sống cũng có nhiều thay đổi qua các thời kỳ phát triển của
đất nước và được thể hiện ở các mặt:
12
- Các LTQD là những cơ sở có nhiệm vụ tạo lập những cơ sở nguyên liệu tập
trung cho yêu cầu công nghiệp hoá đất nước.
- Các LTQD có vai trò quan trọng trong việc quản lý những khu rừng có tác
dụng bảo đảm an ninh môi trường, sinh thái, bảo vệ đa dạng sinh học cho đất nước.
LTQD có nhiệm vụ sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn rừng do Nhà
nước giao, sử dụng có hiệu quả tài nguyên rừng, đất đai và các nguồn lực khác vào
mục tiêu kinh doanh và những nhiệm vụ do Nhà nước giao.
- Các LTQD có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội ở miền
núi, vùng đồng bào dân tộc, nhất là vùng sâu, vùng xa.
- Các LTQD có vai trò quan trọng đối với nhiệm vụ bảo đảm an ninh quốc
phòng, tăng cường quốc phòng ở vùng biên giới, hải đảo.
Ngoài ra các LTQD còn có vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm cho
người lao động, cơ giới hoá sản xuất trong lâm nghiệp,....
b) Chức năng của Lâm trường: Lâm trường quốc doanh là doanh nghiệp
nhà nước hoạt động trong ngành LN, chức năng của lâm trường là sản xuất kinh
doanh và hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường và có sự điều tiết của nhà
nước. Nhưng trong thực tế, Lâm trường được giao đất đai, tài nguyên rừng và địa
bàn hoạt động nên ngoài chức năng sản xuất kinh doanh, lâm trường còn hoạt động
một số hoạt động công ích khác như: Tham gia các hoạt động về y tế, giáo dục,
chăm lo xây dựng cơ sở hạ tầng và các dịch vụ công ích khác. Việc bảo vệ, gây
pháp nhân, hạch toán độc lập do Trung ương (trực tiếp Bộ Nông nghiệp, các Liên
hiệp xí nghiệp/Tổng công ty quản lý) hoặc địa phương quản lý.
Sau khi tiến hành đăng ký lại doanh nghiệp nông, lâm nghiệp nhà nước theo
Nghị định 388/HĐBT ngày 20/11/1991 và Luật doanh nghiệp nhà nước thì các
Nông trường quốc doanh lại được sáp nhập với các cơ sở chế biến và đổi tên thành
các Xí nghiệp nông - công nghiệp; trong khi đó các LTQD vẫn giữ nguyên tên gọi.
Cả hai đơn vị loại này đều có tư cách pháp nhân và thực hiện hạch toán độc lập.
Sau khi có Nghị quyết 28-NQ/TW, Nghị định số 170/2004/NĐ-CP, Nghị định
số 200/2004/NĐ-CP và các thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định của Chính phủ
về đổi mới, sắp xếp lại các Nông lâm trường thì Nông, LTQD được đăng ký lại và
có tên gọi chung là các doanh nghiệp nông, lâm nghiệp:
Các đơn vị trước đây là lâm trường đổi thành các CTLN hoặc Ban quản lý
14
rừng hoạt động theo Luật doanh nghiệp, trong các doanh nghiệp này có thể có các
các công ty hạch toán phụ thuộc.
Như vậy tính đến thời điểm năm 2011, các nông trường và lâm trường quốc
doanh, xí nghiệp nông - công nghiệp hạch toán độc lập trước đây đã được sắp xếp
chuyển đổi thành các Doanh nghiệp nông, lâm nghiệp và Ban quản lí rừng. Vì thế
trong đề tài này, khái niệm nông trường và lâm trường quốc doanh (NLTQD) được
hiểu là các doanh nghiệp nông, lâm nghiệp (DNNLN) và Ban quản lí rừng.
1.1.2. Doanh nghiệp nhà nước và công ty lâm nghiệp
1.1.2.1. Doanh nghiệp nhà nước
Theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước được Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003, và có
hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2004; thì “Doanh nghiệp Nhà nước là tổ
chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi
phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách
Luật Đất đai, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật
Khuyến khích đầu tư trong nước...và văn bản dưới luật cùng với các cơ chế, chính
sách về tài chính, tín dụng...đã tạo môi trường pháp lý thuận lợi và đem lại lợi ích ngày
càng nhiều hơn, chắc chắn hơn trong quản lý và sản xuất kinh doanh rừng của các
CTLN, đây là yếu tố rất cơ bản để các CTLN nhà nước được đổi mới và phát triển.
Khoa học kỹ thuật và công nghệ đã có nhiều thành tựu mới tác động tích cực
đến các hoạt động BVR, phát triển rừng như về giống cây trồng bao gồm từ việc
chọn loài cây, tạo giống cây trồng, chăm sóc, nuôi dưỡng rừng trồng để trong thời gian
ngắn nhất, với chi phí thấp và hợp lý nhất có thể khai thác sản phẩm. Công nghệ thông
tin giúp cho CTLN nắm bắt kịp thời những thông tin về kỹ thuật, thị trường, giá cả để
từ đó lựa chọn và quyết định phương án KD rừng có hiệu quả nhất.
Thị trường lâm sản nhất là thị trường gỗ nguyên liệu cho SX ván dăm, bột giấy,
hàng dân dụng cao cấp đang mở rộng không chỉ cho hiện tại mà còn cho cả tương lai,
đây là cơ hội tốt để các CTLN xây dựng phương án sản xuất kinh doanh ổn định, lâu dài.
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo cơ hội cải thiện môi trường đầu tư, xâm nhập thị
trường lâm sản thế giới, tiếp thu khoa học, công nghệ tiên tiến và đầu tư tài chính
nhất là áp dụng giống cây trồng mới, sử dụng thiết bị, công nghệ trong khai thác,
chế biến đặc biệt về quản lý lâm nghiệp nói chung và quản lý CTLN nói riêng.
1.1.2.3. Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của các công ty Lâm nghiệp
I.1. Điểm mạnh
I. Điểm mạnh và điểm yếu
I.2. Điểm yếu
16
- Là hệ thống tổ chức sản xuất kinh - Các CTLN được chuyển đổi từ LTQD
doanh rừng lớn nhất so với các tổ chức đã được nhà nước bao cấp trong sản
kinh tế khác và HGD; có quỹ đất rừng xuất kinh doanh với thời gian quá dài
sách quản lý RTN thiếu minh bạch, ổn
- Các CTLN hoạt động trên địa bàn định và thiếu cơ chế đặc thù.
vùng núi, lao động chủ yếu vẫn bằng - Lao động giảm mạnh, không tự tổ
17
thủ công nên có điều kiện thu hút lao chức sản xuất ở các khâu quan trọng
động phổ thông phục vụ cho SX nhất là nhất là bảo vệ, trồng rừng và khai thác
sử dụng lao động là đồng bào dân tộc gỗ phải sử dụng lao động thuê ngoài
thiểu số.
II.1. Cơ hội
hoặc khoán cho HGĐ là chủ yếu thay
thế công nhân trong công ty.
II Cơ hội và thách thức
II.2. Thách thức
- Các CTLN vẫn có ý nghĩa và giữ vai - Địa bàn hoạt động của các CTLN,
trò, vị trí nhất định trong phát triển kinh phân bố ở vùng núi, nhiều nơi có địa
tế-xã hội của các địa phương nói chung hình phức tạp trong khi năng lực quản
và trong các hoạt động sản xuất lâm lý của CTLN còn hạn chế, mà nhu cầu
nghiệp nói riêng điều đó được thể hiện SDĐ, SDR của cồng đồng địa phương
trong các văn kiện của Đảng, các còn rất lớn nên tình trạng đất đai, tài
chương trình hành động và kế hoạch nguyên rừng của CTLN bị lấn chiếm,
của Chính phủ, các chính sách, quy xâm hại tất yếu sẽ còn xảy ra, trong khi
hoạch, kế hoạch của các địa phương.
dưỡng RT để trong thời gian ngắn nhất, thấp sẽ là một thách thức lớn trong quá
với chi phí thấp và hợp lý nhất có thể trình phát triển. Hiện tại sự canh tranh
khai thác sản phẩm. Công nghệ thông không chỉ ở sản lượng sản phẩm mà còn
tin giúp cho CTLN nắm bắt kịp thời ở sự đa dạng phong phú về chủng loại
những thông tin về kỹ thuật, thị trường, và khắt khe về chất lượng sản phẩm,
giá cả để từ đó lựa chọn và quyết định nhưng hiện tại năng lực cạnh tranh này
phương án KD rừng có hiệu quả nhất.
của các CTLN còn rất yếu.
- Thị trường lâm sản nhất là thị trường - Ngoài sản phẩm lâm sản các CTLN
gỗ nguyên liệu cho SX ván dăm, bột còn cung ứng giá trị DVMTR cho xã
giấy, hàng dân dụng cao cấp đang mở hội nhưng chưa được xã hội thừa nhận
rộng không chỉ cho hiện tại mà còn cho và chi trả đầy đủ, trong khi đó mọi
cả tương lại. Đây là cơ hội tốt để các nghĩa vụ vẫn phải thực hiện như các
CTLN xây dựng phương án sản xuất doanh nghiệp khác, thậm chí có khi còn
kinh doanh ổn định, lâu dài.
cao hơn (như thuế tài nguyên).
- Hội nhập kinh tế quốc tế tạo cơ hội cải - Chính sách quản lý sử dụng RSX là
thiện môi trường đầu tư, xâm nhập thị RTN thiếu ổn định, chủ trương “sớm
trường lâm sản thế giới, tiếp thu khoa chấm dứt khai thác rừng tự nhiên” sẽ
học, công nghệ tiên tiến và đầu tư tài tạo ra sự thay đổi rất lớn về phương
chính nhất là áp dụng giống cây trồng hướng SXKD của nhiều CTLN, nhất là
mới, sử dụng thiết bị, công nghệ trong CTLN chủ yếu quản lý RSX là RTN,
khai thác, chế biến và quản trị KD rừng. phải cơ cấu lại tổ chức quản lý, SXKD.
- Được sự quan tâm của các tổ chức - Nhận thức về vị trí, vai trò của CTLN
quốc tế trong việc theo dõi, đánh giá còn có những ý kiến khác nhau, trong