Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền các xã miền núi đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Bắc Giang hiện nay. - Pdf 13

Mục lục
Trang
Mở đầu
1
Chơng 1: Cơ sở lý luận về chất lợng đội ngũ cán bộ công
chức chính quyền các xã miền núi đặc biệt
khó khăn 7
1.1. Chính quyền cấp xã và vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, công
chức chính quyền cấp xã 7
1.2. Khái niệm, tiêu chí đánh giá và những yếu tố tác động đến chất l-
ợng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã 22
1.3. Yêu cầu khách quan của việc nâng cao chất lợng đội ngũ cán bộ,
công chức chính quyền cấp xã thuộc khu vực miền núi đặc biệt
khó khăn 38
Chơng 2: thực trạng chất lợng đội ngũ cán bộ, công
chức chính quyền các xã miền núi đặc biệt
khó khăn trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
47
2.1. Thực trạng chất lợng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền các
xã miền núi đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 47
2.2. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế của đội ngũ cán bộ,
công chức chính quyền các xã miền núi đặc biệt khó khăn địa
bàn tỉnh Bắc Giang 75
Chơng 3: Quan điểm và các giải pháp nâng cao chất lợng
đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền các
xã miền núi đặc biệt khó khăn trên địa bàn
tỉnh Bắc Giang 85
3.1. Quan điểm nâng cao chất lợng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền
các xã miền núi đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 85
3.2. Những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lợng đội ngũ cán bộ,
công chức chính quyền cấp xã miền núi đặc biệt khó khăn trên

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc" và
"huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng".
Từ sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần VI (tháng 12 năm
1986) nền kinh tế nớc ta từng bớc chuyển sang vận hành theo cơ chế thị tr-
ờng. Giữa các vùng trong cả nớc có sự khác biệt về trình độ phát triển kinh
tế - xã hội.
Nhằm mục tiêu nâng cao nhanh đời sống vật chất tinh thần cho đồng
bào cấp xã đặc biệt khó khăn vùng sâu, vùng xa, tạo điều kiện để đa nông
thôn các vùng này thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển
và hòa nhập vào sự phát triển chung của cả đất nớc, Đảng, Nhà nớc ta đã có
nhiều chính sách u tiên, quan tâm đặc biệt đối với sự phát triển của cấp xã
miền núi. Để thực hiện thắng lợi các chính sách đó, vấn đề chất lợng đội
ngũ cán bộ cơ sở có ý nghĩa quyết định.
Tại Hội nghị lần 3 Ban Chấp hành Trung ơng Đảng khóa VIII đã
khẳng định: "Cán bộ là nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng,
gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nớc, của chế độ".
Theo chủ trơng của Đảng, chúng ta đang tiếp tục thực hiện hai
nhiệm vụ chiến lợc là xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc.
Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nớc ta
thành nớc công nghiệp, có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế
hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực l-
ợng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững
chắc, dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Từ nay đến năm
2020 ra sức phấn đấu đa nớc ta trở thành một nớc công nghiệp.
Văn kiện Hội nghị 7 Ban Chấp hành Trung ơng 9 đặt ra mục tiêu cụ
thể về phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống đồng bào
các dân tộc. "Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số tại chỗ có phẩm
chất và năng lực đáp ứng đợc yêu cầu của địa phơng, củng cố hệ thống
chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh" [26, tr.36].

bộ, công chức chính quyền các xã miền núi đặc biệt khó khăn trên địa
bàn tỉnh Bắc Giang hiện nay".
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề nâng cao chất lợng và quản lý đội ngũ cán bộ công chức đợc
nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Đặc biệt, đề cập đến vấn đề cán bộ
công chức chính quyền cấp xã có các công trình, các bài viết của các tác giả:
Lê Đình Chếch: Về Nhà nớc xã hội chủ nghĩa và công tác cán bộ chính
quyền cấp xã ở Hải Hng, Luận văn thạc sĩ Triết học, Hà Nội, 1994.
PGS.TS Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm chủ biên: Luận cứ
khoa học cho việc nâng cao chất lợng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
TS Thang Văn Phúc và TS Chu Văn Thành đồng chủ biên: Chính quyền
cấp xã và quản lý nhà nớc cấp xã của Viện Khoa học Tổ chức Nhà nớc, Ban
Tổ chức Cán bộ Chính Phủ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.
TS Nguyễn Văn Sáu và GS Hồ Văn Thông chủ biên: Cộng đồng làng xã
Việt Nam hiện nay, của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2001; Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính
quyền cấp xã ở nớc ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003.
Nguyễn Thị Hậu: Nâng cao chất lợng đội ngũ cán bộ công chức chính
quyền cấp xã ở tỉnh Phú Thọ hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội, 2003.
Mạc Minh Sản: Hoàn thiện pháp luật về cán bộ chính quyền cấp cơ sở
theo yêu cầu xây dựng nhà nớc pháp quyền ở nớc ta hiện nay, Luận văn thạc
sĩ Luật học, Hà Nội, 2003.
PGS Hà Quang Ngọc: Đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở: thực trạng và
giải pháp, Tạp chí Cộng sản số 2/1999.
GS.TSKH Vũ Huy Từ: Một số giải pháp tăng cờng năng lực đội ngũ
cán bộ cơ sở, Tạp chí Quản lý nhà nớc số 5/2002.
Th.S Dơng Hơng Sơn, Nâng cao chất lợng đội ngũ cán bộ, công chức
chính quyền cấp xã ở tỉnh Quảng Trị hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2004.

5. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, luận văn còn sử dụng các phơng pháp nghiên cứu cụ thể:
phơng pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học và một số phơng
pháp khác.
6. Đóng góp về lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Đóng góp về lý luận:
- Góp phần hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng
Hồ Chí Minh của Đảng và Nhà nớc về cán bộ, công tác cán bộ và xây dựng
đội ngũ cán bộ công chức chính quyền cấp xã vùng núi, vùng sâu, vùng xa đặc
biệt khó khăn.
- Đánh giá đúng thực trạng chất lợng đội ngũ cán bộ công chức chính
quyền cấp xã miền núi đặc biệt khó khăn và quá trình xây dựng đội ngũ này
trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lợng đội ngũ cán bộ công
chức chính quyền cấp xã miền núi đặc biệt khó khăn.
ý nghĩa thực tiễn của luận văn:
- Luận văn có thể cung cấp thêm các luận cứ khoa học giúp các cấp
lãnh đạo của tỉnh Bắc giang trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ công
chức chính quyền cấp xã vùng núi đặc biệt khó khăn.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy và
nghiên cứu ở Trờng Chính trị tỉnh, các Trung tâm chính trị huyện, ủy ban Dân
tộc miền núi hoặc làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
luận văn gồm 3 chơng, 7 tiết.
Chơng 1
Cơ sở lý luận về chất lợng đội ngũ cán bộ, công chức
chính quyền các xã miền núi đặc biệt khó khăn
1.1. chính quyền cấp xã và vị trí, vai trò của đội ngũ cán

nớc và cộng đồng.
- Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp quyết định các vấn đề kinh tế - xã
hội ở địa phơng. Tính hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà nớc của chính
quyền cấp xã đóng vai trò quan trọng, chủ yếu trong việc cung cấp các dịch
vụ công phục vụ nhân dân và bộ máy nhà nớc. Từ đó, chính quyền cấp xã
giúp cho cơ quan nhà nớc cấp trên có những căn cứ để hoạch định các chính
sách phát triển kinh tế - xã hội sát với yêu cầu của đời sống thực tế.
- Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp nắm bắt tâm t, nguyện vọng của
nhân dân địa phơng để kịp thời phản ánh với cơ quan nhà nớc cấp trên, giúp
Nhà nớc đề ra các biện pháp phù hợp với đặc điểm của mỗi địa phơng. Thực tế
ở một số địa phơng nh Thái Bình, Tây Nguyên cho thấy, nếu không đi sâu
sát nắm bắt nguyện vọng của nhân dân sẽ nảy sinh nhiều vấn đề rất phức tạp,
dễ bị kẻ xấu lợi dụng, gây chia rẽ trong nội bộ nhân dân, phá vỡ mối quan hệ
máu thịt giữa Đảng với nhân dân.
Chính quyền cấp xã là trung tâm của hệ thống chính trị ở cơ sở; là địa
bàn gắn trực tiếp nhất với cuộc sống nhân dân. Tất cả các tổ chức quyền lực
nhà nớc cấp trên cuối cùng đều phải thông qua vai trò của hệ thống chính
quyền cấp xã và nếu không có chính quyền cơ sở vững mạnh các tổ chức
chính quyền cấp trên khó có thể phát huy tác dụng. Các quan hệ của nhân dân
với Đảng, với Nhà nớc thể hiện trớc hết và trực tiếp thông qua quan hệ của
nhân dân với chính quyền cấp xã. Sức mạnh của hệ thống chính trị đợc chứng
minh qua sức mạnh của chính quyền cơ sở. Cơ sở và chính quyền cơ sở là yếu
tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp đổi mới của cả nớc nói chung và
công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng.
Nh vậy, chính quyền cấp xã là trung tâm của hệ thống chính trị cơ sở,
là một trong các cấp chính quyền của nhà nớc ta, bao gồm HĐND và UBND
là những cơ quan quyết định và tổ chức thực hiện những chủ trơng, biện pháp
liên quan đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và đời
sống của nhân dân ở địa phơng theo quy định của Hiến pháp, pháp luật.
1.1.1.2. Đặc điểm của chính quyền cấp xã

Cấp xã là cấp cuối cùng trong hệ thống hành chính 4 cấp. Tính đến
tháng 10 năm 2002 nớc ta có 8.971 xã [38, tr.6].
Qua 15 năm đổi mới chúng ta đã thu đợc nhiều thành tựu về kinh tế.
Nó là nền tảng cho việc đổi mới hệ thống chính trị, trong đó có đổi mới tổ
chức và hoạt động của chính quyền cơ sở. Đổi mới hệ thống chính trị trở thành
xúc tác, động lực cho đổi mới kinh tế thu đợc kết quả. Một trong những yếu tố
góp phần nâng cao vai trò của chính quyền cơ sở trong việc quản lý xã hội là
Đảng, Nhà nớc ta đã xác định đợc tiêu chí phân loại đơn vị hành chính cấp xã
trên cơ sở các điều kiện tự nhiên, xã hội, địa lý, phong tục, tập quán.
Theo Nghị quyết số 22 - NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 27-11-1989 về
một số chủ trơng, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi thì cấp xã
đợc phân loại thành:
- Các xã miền xuôi.
- Các xã miền núi: biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa.
Việc phân chia này có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện chính
sách dân tộc và miền núi của Đảng và Nhà nớc ta.
Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm nhiều dân tộc cùng sinh
sống, kề vai sát cánh với nhau trong suốt quá trình dựng nớc và giữ nớc. Các
dân tộc thiểu số nớc ta c trú xen kẽ trên địa bàn rộng lớn, có vị trí chiến lợc
đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng và bảo vệ môi tr-
ờng sinh thái. Mỗi dân tộc có sắc thái văn hóa riêng, góp phần tạo nên sự đa
dạng, phong phú của nền văn hóa Việt Nam thống nhất.
Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng
Đảng ta luôn xác định vấn đề dân tộc có vị trí chiến lợc quan trọng trong sự
nghiệp cách mạng nớc ta. Đảng ta luôn nghiên cứu những đặc trng, cơ bản của
khu vực miền núi - nơi sinh sống của phần lớn đồng bào dân tộc thiểu số
nhằm đa ra chủ trơng chính sách phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng chính
quyền cơ sở phù hợp đối với khu vực này.
Trong bài phát biểu tại Hội nghị cán bộ miền núi ngày 1-6-1962 Hồ
Chí Minh nhấn mạnh: "Miền núi đất rộng, ngời tha, tình hình vùng này không

- Hai phần ba (2/3) diện tích đất đai của đơn vị có độ dốc 25
0
trở lên
(là rừng và đất rừng).
- Kinh tế - xã hội chậm phát triển so với đồng bằng.
- Đất đai sản xuất vừa có ruộng nớc (thung lũng bằng, bậc thang) vừa
có sản xuất trên đất dốc.
- Đời sống có nhiều khó khăn, giao thông đi lại không thuận lợi nh
đồng bằng.
- C dân là dân tộc thiểu số và dân tộc đa số sống xen ghép hoặc các
dân tộc thiểu số sống ghép với nhau hoặc sống riêng từng dân tộc trên một địa
bàn miền núi.
Do bị chi phối bởi yếu tố địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội đặc thù nên
các xã miền núi ở nớc ta có những nét khác biệt so với các xã vùng đồng bằng
và đô thị biểu hiện qua các đặc điểm sau đây:
- Các xã miền núi đợc hình thành bởi cộng đồng dân c đa sắc tộc. Trên
phạm vi địa bàn xã có nhiều dân tộc thiểu số cùng sinh sống. Điều đó cũng tác
động đến cơ cấu đội ngũ cán bộ trong chính quyền. Chính quyền cấp xã miền núi
còn phải thờng xuyên tiếp nhận, giải quyết những vấn đề dân tộc .
- Các xã miền núi đợc phân bố trên địa bàn hết sức rộng lớn nhng chủ
yếu là đồi núi, đất canh tác chiếm tỷ lệ thấp, lũ lụt, hạn hán cùng với nạn phá
rừng đầu nguồn làm đất đai bị xói mòn, kém màu mỡ, điều kiện tự nhiên rất
phức tạp, thách thức lớn cho chính quyền địa phơng trong tổ chức, thực hiện
phát triển kinh tế - xã hội.
- Các xã miền núi có đội ngũ cán bộ chính quyền tơng đối ổn định và
trình độ hạn chế hơn so với các xã miền xuôi và đô thị, đa số chỉ có trình độ
văn hóa cấp I và cấp II, hầu hết cán bộ cấp xã cha đợc đào tạo, bồi dỡng về
chuyên môn nghiệp vụ. Tuyệt đại đa số cán bộ xã ở những xã đặc biệt khó khăn
ở vùng miền núi phía Bắc là ngời dân tộc thiểu số và cán bộ nữ chiếm tỷ lệ rất
nhỏ. Điều đó dẫn đến nhiều hạn chế trong việc nâng cao năng lực của mình.

cấp bách, đặc biệt là vấn đề kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, để vùng
còn kém phát triển, nhất là vùng cao, biên giới, hải đảo, vùng đồng
bào dân tộc ít ngời, vùng sâu, vùng căn cứ cách mạng có bớc tiến
nhanh hơn, dần dần giảm bớt sự chênh lệch quá lớn về trình độ phát
triển kinh tế - xã hội giữa các vùng, coi đây là một trọng tâm chỉ
đạo của các ngành, các cấp [21, tr.90].
Từ những vấn đề trên đây là cơ sở lý luận và thực tiễn để chúng ta xây
dựng tiêu chí, xác định từng khu vực với những đặc trng về trình độ phát triển
kinh tế - xã hội, từ đó có chủ trơng, chính sách phát triển kinh tế - xã hội phù hợp
với từng khu vực, đáp ứng nhiệm vụ thời kỳ CNH, HĐH đất nớc.
Tại Thông t 41/UB-TT ngày 8-1-1996 của ủy ban Dân tộc miền núi
quy định và hớng dẫn thực hiện tiêu chí từng khu vực ở vùng dân tộc và miền
núi dựa vào 5 tiêu chí: điều kiện tự nhiên và địa bàn dân c; cơ sở hạ tầng; các
yếu tố xã hội, điều kiện sản xuất; đời sống. Thông qua quá trình dân chủ, công
khai bình chọn từ nhân dân, các địa phơng đã xác định vùng dân tộc, miền
núi thành 3 khu vực theo trình độ phát triển trong đó khu vực III là khu vực
khó khăn nhất và đợc gọi là các xã MNĐBKK.
Các xã MNĐBKK là các xã có các điều kiện sau:
- Là các xã miền núi mà khoảng cách của các xã đến khu trục động
lực phát triển trên 20 km.
- Cơ sở hạ tầng cha đợc xây dựng hoặc còn tạm bợ. Giao thông rất khó
khăn, không có đờng ô tô vào xã, các công trình điện, thủy lợi, nớc sạch, trờng
học, bệnh xá, dịch vụ khác rất thấp kém hoặc không có.
- Các yếu tố xã hội cha đạt mức tối thiểu, dân trí quá thấp, tỷ lệ mù
chữ và thất học trên 60%, bệnh tật nhiều, tập tục lạc hậu, không có thông tin
- Điều kiện sản xuất rất khó khăn, thiếu thốn. Sản xuất mang tính tự
nhiên hái lợm, chủ yếu phát rừng làm nơng rẫy, du canh du c.
- Số hộ đói nghèo trên 60% số hộ của xã: Đời sống thực sự khó khăn,
nạn đói thờng xuyên xảy ra.
Theo số liệu điều tra của Viện Nghiên cứu Kinh tế và phát triển, tính

- Nớc ta khi bớc vào thời kỳ mới vừa đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, vừa xây dựng và hoàn chỉnh Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
vừa tiến hành xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Chính vì vậy, chúng ta cần phải xây dựng một đội ngũ cán bộ có chất lợng
đồng bộ, phù hợp với những yêu cầu mới đặt ra, đặc biệt là đội ngũ CBCC
CQCX.
Để làm đợc điều đó trớc hết chúng ta cần phải làm rõ khái niệm về đội
ngũ CBCC CQCX.
Thứ nhất: Quan niệm về CBCC CQCX
* Quan niệm về cán bộ: Từ "cán bộ" xuất hiện trong đời sống xã hội
nớc ta khoảng mấy chục năm gần đây; đợc dùng phổ biến trong thời kỳ kháng
chiến chống Pháp. Từ đó đến nay từ "cán bộ" đợc sử dụng trong nhiều lĩnh
vực khác nhau: có nhiều từ điển có khái niệm "cán bộ" nhng tựu chung lại có
thể quan niệm một cách chung nhất: "Cán bộ là khái niệm chỉ những ngời có
chức vụ, vai trò và cơng vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động, ảnh hởng
đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý,
điều hành, góp phần định hớng sự phát triển của tổ chức" [39, tr.20].
* Quan niệm về công chức:
Nhiều quốc gia quan niệm công chức là những nhân viên công tác, đợc
hởng lơng ngân sách, bị quy định bởi quy chế hoặc luật công chức, là ngời
làm việc trong hệ thống chính quyền nhà nớc.
Công chức là bộ phận rất quan trọng trong nền hành chính quốc gia.
Tuy nhiên, do đặc điểm cấu trúc của hệ thống chính trị nớc ta nên quan niệm
về công chức ở Việt Nam cũng có đặc thù.
Trong một số nghị quyết của Đảng cũng nh một số văn bản pháp quy,
mặc dù cha ra định nghĩa rõ ràng nhng đã có đề cập đến khái niệm về công
chức. Theo Pháp lệnh cán bộ công chức 1998 (đã đợc sửa đổi, bổ sung năm
2000 và 2003) thì công chức đợc hiểu là:
Công dân Việt Nam, trong biên chế do đợc Nhà nớc tuyển dụng, bổ
nhiệm hoặc đợc giao nhiệm vụ thờng xuyên, làm việc liên tục trong các cơ

+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND.
+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND.
- Công chức cấp xã có:
+ Trởng ban công an (nơi cha bố trí lực lợng công an chính quy).
+ Chỉ huy trởng quân sự;
+ Văn phòng - thống kê;
+ Địa chính - xây dựng;
+ Tài chính - kế toán;
+ T pháp - hộ tịch;
+ Văn hóa - xã hội;
Từ những phân tích trên có thể đa ra khái niệm nh sau: Cán bộ, công
chức chính quyền cấp xã là công dân Việt Nam, trong biên chế, đợc hởng lơng
từ ngân sách nhà nớc theo quy định của pháp luật, làm việc tại HĐND và
UBND cấp xã do đợc bầu để giữ chức vụ, hoặc đợc tuyển dụng giao giữ chức
danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã.
Để nâng cao hiệu lực hoạt động của chính quyền cấp xã đội ngũ cán bộ
công chức chính quyền cấp xã không những cần phải có nhiệt tình cách mạng, có
phẩm chất tốt, đạo đức tốt mà còn cần phải có tri thức, trình độ chuyên môn
nghiệp vụ, năng lực công tác để hoàn thành nhiệm vụ. Đặc biệt là đối với đội ngũ
cán bộ công chức chính quyền cấp xã ở khu vực MNĐBKK.
1.1.2.2. Vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã
Vốn quý nhất của Đảng, Nhà nớc và nhân dân ta là đội ngũ cán bộ.
Cán bộ là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự thành công hay
thất bại của sự nghiệp cách mạng. Lênin chỉ rõ: "Trong lịch sử cha hề có một
giai cấp nào giành đợc quyền thống trị nếu không đào tạo ra đợc trong hàng
ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, ngời đại biểu tiên phong có đủ khả năng
tổ chức và lãnh đạo phong trào [30, tr.478]. Năm 1922, khi đã giành đợc chính
quyền, Lênin khẳng định: "Nghiên cứu con ngời, tìm ra những cán bộ có bản
lĩnh. Hiện nay đó là then chốt, nếu không thế thì tất cả mệnh lệnh và quyết
định chỉ là mớ giấy lộn" [31, tr.449].

xã thuộc khu vực dân tộc, miền núi vẫn đợc tiến hành thờng xuyên, liên tục, nh-
ng kết quả mang lại cha cao. Chính sách đào tạo, sử dụng cán bộ đối với chính
quyền cấp xã miền núi cha đợc nghiên cứu đầy đủ, thực hiện tùy nghi, thiếu nhất
quán. Vì vậy, cho đến nay vẫn cha hình thành đợc đội ngũ CBCC có năng lực
phù hợp, am hiểu sâu sắc thực tế và tâm huyết với sự nghiệp phát triển kinh tế,
văn hóa, xã hội ở các xã miền núi nói chung và MNĐBKK nói riêng.
- Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã là những ngời hàng ngày trực
tiếp tiếp xúc với dân, đa chủ trơng, đờng lối của Đảng, chính sách pháp luật
của Nhà nớc vào cuộc sống và biến thành hành động cách mạng của quần
chúng.
Đối với các xã MNĐBKK - do trình độ dân trí rất thấp, để đa đợc đờng
lối của Đảng, pháp luật của Nhà nớc vào thực tế cuộc sống thì đội ngũ CBCC
CQCX phải làm tốt công tác tuyên truyền, động viên, tổ chức cho đồng bào
các dân tộc thực hiện đờng lối, chủ trơng chính sách của Đảng và pháp luật
Nhà nớc.
Công tác tuyên truyền, động viên, tổ chức cho đồng bào dân tộc phải
đạt mục tiêu: không ngừng củng cố khối Đoàn kết dân tộc. Bác Hồ kính yêu
căn dặn: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành
công". Lời dạy của Bác vẫn giữ nguyên giá trị trong cách mạng XHCN ở miền
núi và vùng dân tộc thiểu số trong giai đoạn mới.
Thực hiện t tởng của Hồ Chí Minh, việc xây dựng đội ngũ CBCC miền
núi, vùng dân tộc thiểu số luôn gắn bó chặt chẽ giữa công tác cán bộ với công
tác tuyên truyền, động viên quần chúng các dân tộc, coi đây là điều kiện để
mỗi cán bộ hoàn thành đợc nhiệm vụ của mình. Điểm quan trọng nhất của
công tác tuyên truyền, động viên quần chúng ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu
số là phải chiếm đợc lòng tin của đồng bào. Một khi cán bộ tạo đợc lòng tin
đối với đồng bào, thì mọi việc sẽ đợc đồng bào nghe theo và thực hiện một
cách nghiêm chỉnh. Song trái lại với điều đó, có thể chỉ vì một hành vi nhỏ sẽ
làm mất đi hoàn toàn niềm tin đối với họ và họ có thể chuyển từ chỗ là lực l-
ợng ủng hộ trở thành ngời đối lập với cán bộ. Cho nên ngời cán bộ phải tích

1.2. Khái niệm, tiêu chí đánh giá và những yếu tố tác động
đến chất lợng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã
1.2.1. Khái niệm chất lợng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền
cấp xã
Theo Từ điển tiếng Việt thì "chất lợng" hiểu ở nghĩa chung nhất là "cái
tạo nên phẩm chất, giá trị của một con ngời, sự vật, sự việc" [36, tr.44].
Đối với một con ngời sống trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa. Chất lợng của cá nhân đó đợc hiểu là tổng hợp những phẩm chất nhất
định về sức khỏe, trí tụê khoa học, chuyên môn nghề nghiệp, phẩm chất đạo
đức, ý chí, niềm tin, năng lực; luôn gắn bó với tập thể, với cộng đồng và tham
gia một cách tích cực vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc.
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc yêu cầu chất l-
ợng đối với mỗi ngời trong xã hội nói chung vốn đã cao thì yêu cầu đối với
chất lợng CBCC càng cao hơn - đòi hỏi ngời CBCC có những trình độ phẩm
chất theo yêu cầu nh nêu ở trên thì ngời cán bộ phải gơng mẫu, đi tiên phong
về lý luận và thực tiễn, chấp hành nghiêm chỉnh chủ trơng, đờng lối, chính
sách, pháp luật của Đảng và Nhà nớc; giữ vững tiêu chuẩn và t cách của ngời
cán bộ.
Mỗi cán bộ công chức không tồn tại một cách biệt lập mà phải đợc đặt
trong một chỉnh thể thống nhất của đội ngũ CBCC. Vì vậy, quan niệm về chất
lợng đội ngũ CBCC phải đợc đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa chất lợng
của từng cán bộ với chất lợng của cả đội ngũ. Chất lợng của cả đội ngũ không
phải là sự tập hợp giản đơn số lợng mà là sự tổng hợp sức mạnh của toàn bộ
đội ngũ. Sức mạnh này bắt nguồn từ phẩm chất vốn có bên trong của mỗi cán
bộ và nó đợc tăng lên gấp bội bởi tính thống nhất của tổ chức; của sự giáo dục,
đào tạo, phân công, quản lý, của kỷ luật.
Nh vậy có thể nói chất lợng đội ngũ CBCC bao gồm:
- Chất lợng của từng cán bộ; cụ thể là phẩm chất chính trị, đạo đức;
trình độ năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Chất lợng của từng cán
bộ là yếu tố cơ bản tạo nên chất lợng của cả đội ngũ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status