LUẬN ÁN: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền các xã miền núi đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Bắc Giang hiện nay - Pdf 15

LUẬN ÁN:
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
chính quyền các xã miền núi đặc biệt khó khăn trên
địa bàn tỉnh Bắc Giang hiện nay Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Đội ngũ cán bộ công chức chính quyền cấp xã ở vùng dân tộc và miền núi có
vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân,
phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống
của cộng đồng dân cư.
Đảng, Nhà nước luôn chăm lo giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất
lượng của đội ngũ cán bộ cấp xã vùng dân tộc và miền núi. Ngay từ những ngày đầu
cách mạng, Đảng ta đã chăm lo xây dựng lực lượng, đào tạo, bồi dưỡng và rèn luyện
cán bộ, trong có đội ngũ cán bộ dân tộc và miền núi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy:
"Cán bộ là cái gốc của mọi công việc" và "huấn luyện cán bộ là công việc gốc của
Đảng".
Từ sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần VI (tháng 12 năm 1986) nền
kinh tế nước ta từng bước chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường. Giữa các
vùng trong cả nước có sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế - xã hội.
Nhằm mục tiêu nâng cao nhanh đời sống vật chất tinh thần cho đồng bào cấp
xã đặc biệt khó khăn vùng sâu, vùng xa, tạo điều kiện để đưa nông thôn các vùng

Tại Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã xác
định:
Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực tổ chức và vận động
nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công
tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng,
không ức hiếp dân, trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng,
giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở [25, tr.167-
168].
Bắc Giang là tỉnh nghèo có 44 xã miền núi đặc biệt khó khăn, có nhiều dân
tộc, tôn giáo cùng sinh sống địa bàn, có vị trí địa lý phức tạp. Mặc dù đã được Đảng,
Nhà nước có nhiều chính sách ưu đãi về phát triển kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực

nhằm đưa các xã này thoát khỏi tình trạng nghèo đói nhưng do sự thiếu hụt trầm trọng
và yếu kém của đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và đội ngũ cán bộ cơ sở nói riêng
trong triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội nên hiệu quả thu được qua việc thực hiện các chính sách này là chưa cao.
Trong những năm qua việc tổng kết, đánh giá đưa ra các giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức chậm được tiến hành, chưa
có các giải pháp đồng bộ phù hợp với đặc thù đối với đội ngũ cán bộ công chức của
tỉnh nói chung, cán bộ, công chức chính quyền cấp xã vùng núi đặc biệt khó khăn
nói riêng.
Với lý do đó tác giả chọn đề tài: "Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức chính quyền các xã miền núi đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
hiện nay".
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề nâng cao chất lượng và quản lý đội ngũ cán bộ công chức được nhiều
nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Đặc biệt, đề cập đến vấn đề cán bộ công chức chính
quyền cấp xã có các công trình, các bài viết của các tác giả:
Lê Đình Chếch: Về Nhà nước xã hội chủ nghĩa và công tác cán bộ chính quyền
cấp xã ở Hải Hưng, Luận văn thạc sĩ Triết học, Hà Nội, 1994.

dưới giác độ Luật học. Vì vậy tác giả mạnh dạn nghiên cứu vấn đề này với lòng mong
muốn góp phần nhỏ bé vào luận giải những vấn đề mà lý luận và thực tiễn đã và đang
đặt ra.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Luận văn nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã miền núi đặc biệt khó khăn ở tỉnh Bắc
Giang.
Nhiệm vụ:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về cán bộ công chức chính quyền cấp xã, chất
lượng đội ngũ cán bộ công chức chính quyền cấp xã thuộc khu vực miền núi đặc biệt
khó khăn trên cơ sở hệ thống hóa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh của Đảng và quy định của Nhà nước ta.
- Phân tích làm rõ thực trạng đội ngũ cán bộ công chức chính quyền cấp xã của
cấp xã miền núi đặc biệt khó khăn của tỉnh Bắc giang qua đó rút ra những vấn đề cần
giải quyết.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức
chính quyền cấp xã vùng núi đặc biệt khó khăn nhằm đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công

nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Bắc Giang và xây dựng Nhà
nước pháp quyền XHCN ở nước ta hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền các xã
miền núi đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Bắc Giang từ năm 1999 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp
phân tích, tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học và một số phương pháp khác.
6. Đóng góp về lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Đóng góp về lý luận:
- Góp phần hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí

của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, là yếu tố quyết định sự thành công của
sự nghiệp cách mạng nước ta. Chính quyền cấp xã bao gồm HĐND và UBND, trong đó
HĐND "là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương đại diện cho ý chí, nguyện vọng
và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước
nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên". Còn UBND do HĐND bầu, là cơ
quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách
nhiệm trước HĐND cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên.
Xuất phát từ vị trí của chính quyền cấp xã trong hệ thống chính trị nên nó có vai
trò rất quan trọng trong cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước của nhân dân. Có thể
khẳng định chính quyền cấp xã là cầu nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước với nhân
dân.
- Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước. Vì vậy, cấp xã nói chung là cơ sở thực tiễn cho
việc xây dựng và kiểm nghiệm tính đúng đắn của đường lối chính sách của Đảng và
pháp luật của Nhà nước trong cuộc sống.
- Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp giải quyết các yêu cầu của nhân dân.
Trong thực tế cuộc sống, khi cần có sự can thiệp của chính quyền, thì nơi người dân tìm
đến đầu tiên chính là chính quyền cơ sở. Điều này đã đúc rút thành câu thành ngữ
"Quan thì xa, bản nha thì gần". Chính quyền cấp xã cũng là nơi trực tiếp đưa ra các giải

pháp cần thiết theo thẩm quyền để giải quyết những yêu cầu chính đáng của người dân,
tạo điều kiện cho người dân có cuộc sống bình yên, thực hiện có hiệu quả các quyền và
nghĩa vụ của mình trước nhà nước và cộng đồng.
- Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp quyết định các vấn đề kinh tế - xã hội ở
địa phương. Tính hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà nước của chính quyền cấp xã
đóng vai trò quan trọng, chủ yếu trong việc cung cấp các dịch vụ công phục vụ nhân
dân và bộ máy nhà nước. Từ đó, chính quyền cấp xã giúp cho cơ quan nhà nước cấp
trên có những căn cứ để hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội sát với
yêu cầu của đời sống thực tế.
- Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân

Hai là, tổ chức bộ máy của chính quyền xã khác với các đơn vị hành chính cấp
trên; ở xã chỉ có HĐND và UBND thực hiện việc quản lý địa phương. Trong đó HĐND
là cơ quan quyền lực nhà nước, là cơ quan đại diện cho ý tchí và nguyện vọng của nhân
dân địa phương và UBND là cơ quan chấp hành và đồng thời là cơ quan hành chính nhà
nước ở địa phương mà không có các cơ quan tư pháp: Viện kiểm sát và Tòa án. Vì thế,
chính quyền cấp xã phải quản lý nhà nước về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc
phòng theo thẩm quyền do pháp luật quy định.
Ba là, chính quyền cấp xã là cấp thấp nhất, trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ cụ
thể, là cấp đưa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tế
cuộc sống. Ngoài việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã nói chung,
chính quyền cấp xã còn phải căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương mình chủ
động đưa ra các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục nhân dân trong việc thực
hiện đường lối, chính sách của Đảng; vận động nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp
luật; chủ động đưa những tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất để tăng năng suất
lao động, phát triển ngành nghề mới, tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm của địa phương,
giải quyết việc làm, cải thiện đời sống của nhân dân địa phương.
1.1.1.3. Phân loại các đơn vị hành chính cấp xã
Cấp xã là cấp cuối cùng trong hệ thống hành chính 4 cấp. Tính đến tháng 10
năm 2002 nước ta có 8.971 xã [38, tr.6].
Qua 15 năm đổi mới chúng ta đã thu được nhiều thành tựu về kinh tế. Nó là nền
tảng cho việc đổi mới hệ thống chính trị, trong đó có đổi mới tổ chức và hoạt động của

chính quyền cơ sở. Đổi mới hệ thống chính trị trở thành xúc tác, động lực cho đổi mới
kinh tế thu được kết quả. Một trong những yếu tố góp phần nâng cao vai trò của chính
quyền cơ sở trong việc quản lý xã hội là Đảng, Nhà nước ta đã xác định được tiêu chí
phân loại đơn vị hành chính cấp xã trên cơ sở các điều kiện tự nhiên, xã hội, địa lý,
phong tục, tập quán.
Theo Nghị quyết số 22 - NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 27-11-1989 về một số
chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi thì cấp xã được phân loại
thành:

trương chính sách chung ở miền núi phải tính đầy đủ đến những đặc điểm về
tự nhiên, lịch sử, kinh tế - xã hội, văn hóa, phong tục tập quán của miền núi
nói chung và của riêng từng vùng, từng dân tộc, trong việc này cần đặc biệt
nhấn mạnh vai trò năng động sáng tạo của địa phương và cơ sở [1, tr.1,2,5].
Để cụ thể hóa Nghị quyết số 22/NQTW ngày 27-11-1989 của Bộ Chính trị,
Chính phủ ra Công văn 7189/QĐ-CP ngày 14-12-1995 kèm theo Công văn số 845-
UB/TH ngày 6-12-1995 của ủy ban Dân tộc và miền núi công bố tiêu chí 3 khu vực
miền núi, vùng cao.
Trên cơ sở đó ngày 8-1-1996 ủy ban Dân tộc và miền núi ban hành Thông tư số
41/UB-TT quy định và hướng dẫn thực hiện tiêu chí từng khu vực ở vùng dân tộc -
miền núi.
Theo thông tư này các xã miền núi được hiểu như sau:
Đơn vị hành chính xã miền núi là toàn xã hoặc 70% số thôn, bản của xã đó là
miền núi. Đại bộ phận đất đai là đồi núi cao, dốc, có nơi rất dốc và cao nguyên, địa bàn
đa dạng phức tạp, có nhiều sông tạo thành độ chia cắt lớn, là nơi sinh sống chủ yếu của
các dân tộc thiểu số đó là miền núi.
Tiêu chí để xác định một xã là xã miền núi cụ thể như sau:
- Hai phần ba (2/3) diện tích đất đai của đơn vị có độ dốc 25
0
trở lên (là rừng và
đất rừng).
- Kinh tế - xã hội chậm phát triển so với đồng bằng.
- Đất đai sản xuất vừa có ruộng nước (thung lũng bằng, bậc thang) vừa có sản
xuất trên đất dốc.
- Đời sống có nhiều khó khăn, giao thông đi lại không thuận lợi như đồng bằng.
- Cư dân là dân tộc thiểu số và dân tộc đa số sống xen ghép hoặc các dân tộc
thiểu số sống ghép với nhau hoặc sống riêng từng dân tộc trên một địa bàn miền núi.

Do bị chi phối bởi yếu tố địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội đặc thù nên các xã
miền núi ở nước ta có những nét khác biệt so với các xã vùng đồng bằng và đô thị biểu

thực hiện các chủ trương, chính sách đó, đã tạo được những kết quả đáng mừng. Vai trò
chính quyền các cấp nói chung, chính quyền cấp xã nói riêng ngày càng được phát huy
trong sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Tuy nhiên, do đặc điểm tự nhiên, điểm xuất phát kinh tế - xã hội của từng vùng
khác nhau, tác động của cơ chế thị trường đã tạo ra sự khác biệt không đồng đều giữa
các địa phương. Trên cơ sở đó Đảng, Nhà nước ta đã đưa ra tiêu chí phân định các xã
miền núi thành 3 khu vực theo trình độ phát triển để từ đó có những chính sách phát
triển kinh tế - xã hội phù hợp với từng vùng, từng bước rút ngắn khoảng cách phát triển
giữa miền núi và miền xuôi.
- Khu vực I: đó là khu vực bước đầu phát triển.
- Khu vực II: khu vực tạm ổn.
- Khu vực III: khu vục khó khăn.
Trong Báo cáo Chính trị Đại hội VIII của Đảng đã chỉ rõ:
Giành nguồn lực thích đáng cho việc giải quyết những nhu cầu cấp
bách, đặc biệt là vấn đề kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, để vùng còn kém
phát triển, nhất là vùng cao, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc ít
người, vùng sâu, vùng căn cứ cách mạng có bước tiến nhanh hơn, dần dần
giảm bớt sự chênh lệch quá lớn về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa
các vùng, coi đây là một trọng tâm chỉ đạo của các ngành, các cấp [21, tr.90].
Từ những vấn đề trên đây là cơ sở lý luận và thực tiễn để chúng ta xây dựng tiêu
chí, xác định từng khu vực với những đặc trưng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, từ đó
có chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với từng khu vực, đáp ứng
nhiệm vụ thời kỳ CNH, HĐH đất nước.
Tại Thông tư 41/UB-TT ngày 8-1-1996 của ủy ban Dân tộc miền núi quy định
và hướng dẫn thực hiện tiêu chí từng khu vực ở vùng dân tộc và miền núi dựa vào 5 tiêu
chí: điều kiện tự nhiên và địa bàn dân cư; cơ sở hạ tầng; các yếu tố xã hội, điều kiện sản
xuất; đời sống. Thông qua quá trình dân chủ, công khai bình chọn từ nhân dân, các địa
phương đã xác định vùng dân tộc, miền núi thành 3 khu vực theo trình độ phát triển
trong đó khu vực III là khu vực khó khăn nhất và được gọi là các xã MNĐBKK.
Các xã MNĐBKK là các xã có các điều kiện sau:

ở địa phương.
Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn đã được phân tích cho thấy Đảng, Nhà nước ta
cần tiếp tục xây dựng chương trình phát triển kinh tế - xã hội đối với các xã khu vực này

đồng thời có các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ
công chức chính quyền cấp xã nói riêng có đủ năng lực để triển khai đường lối, chính sách
của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào trong thực tiễn cuộc sống, từng bước nâng cao đời
sống sinh hoạt cho đồng bào.
1.1.2. Khái niệm và vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức chính
quyền cấp xã
1.1.2.1. Khái niệm đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã
- Nước ta khi bước vào thời kỳ mới vừa đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, vừa xây dựng và hoàn chỉnh Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vừa tiến
hành xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Chính vì vậy, chúng ta
cần phải xây dựng một đội ngũ cán bộ có chất lượng đồng bộ, phù hợp với những
yêu cầu mới đặt ra, đặc biệt là đội ngũ CBCC CQCX.
Để làm được điều đó trước hết chúng ta cần phải làm rõ khái niệm về đội ngũ
CBCC CQCX.
Thứ nhất: Quan niệm về CBCC CQCX
* Quan niệm về cán bộ: Từ "cán bộ" xuất hiện trong đời sống xã hội nước ta
khoảng mấy chục năm gần đây; được dùng phổ biến trong thời kỳ kháng chiến chống
Pháp. Từ đó đến nay từ "cán bộ" được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau: có nhiều
từ điển có khái niệm "cán bộ" nhưng tựu chung lại có thể quan niệm một cách chung
nhất: "Cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt
trong một tổ chức, có tác động, ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ
trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ
chức" [39, tr.20].
* Quan niệm về công chức:
Nhiều quốc gia quan niệm công chức là những nhân viên công tác, được hưởng
lương ngân sách, bị quy định bởi quy chế hoặc luật công chức, là người làm việc trong

người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn, những người được tuyển
dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc ủy ban Nhân dân cấp xã
được gọi là CBCC trong biên chế nhà nước; được hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Trên cơ sở lý luận về chính quyền (HĐND, UBND); CBCC cũng như các quy
định về CBCC xã, phường, thị trấn thì cán bộ công chức chính quyền cấp xã hiện nay
bao gồm:

- Cán bộ chuyên trách có:
+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND.
+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND.
- Công chức cấp xã có:
+ Trưởng ban công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy).
+ Chỉ huy trưởng quân sự;
+ Văn phòng - thống kê;
+ Địa chính - xây dựng;
+ Tài chính - kế toán;
+ Tư pháp - hộ tịch;
+ Văn hóa - xã hội;
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm như sau: Cán bộ, công chức
chính quyền cấp xã là công dân Việt Nam, trong biên chế, được hưởng lương từ ngân
sách nhà nước theo quy định của pháp luật, làm việc tại HĐND và UBND cấp xã do
được bầu để giữ chức vụ, hoặc được tuyển dụng giao giữ chức danh chuyên môn nghiệp
vụ thuộc UBND cấp xã.
Để nâng cao hiệu lực hoạt động của chính quyền cấp xã đội ngũ cán bộ công chức
chính quyền cấp xã không những cần phải có nhiệt tình cách mạng, có phẩm chất tốt, đạo
đức tốt mà còn cần phải có tri thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực công tác để
hoàn thành nhiệm vụ. Đặc biệt là đối với đội ngũ cán bộ công chức chính quyền cấp xã ở
khu vực MNĐBKK.
1.1.2.2. Vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã
Vốn quý nhất của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta là đội ngũ cán bộ. Cán bộ là

tỉnh, huyện, xã thuộc khu vực miền núi, đặc biệt là vùng MNĐBKK những năm gần đây
đã được Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị nhận định: "Nhìn chung, trình độ phát triển
kinh tế - xã hội ở miền núi còn rất thấp".
Thực trạng cũng có nguyên nhân về khả năng vận dụng, tổ chức thực hiện của
đội ngũ CBCC CQCX của các xã thuộc khu vực này.
Trong thực tế mấy chục năm qua, việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho các xã thuộc
khu vực dân tộc, miền núi vẫn được tiến hành thường xuyên, liên tục, nhưng kết quả mang
lại chưa cao. Chính sách đào tạo, sử dụng cán bộ đối với chính quyền cấp xã miền núi chưa
được nghiên cứu đầy đủ, thực hiện tùy nghi, thiếu nhất quán. Vì vậy, cho đến nay vẫn chưa
hình thành được đội ngũ CBCC có năng lực phù hợp, am hiểu sâu sắc thực tế và tâm huyết

với sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở các xã miền núi nói chung và MNĐBKK
nói riêng.
- Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã là những người hàng ngày trực tiếp tiếp
xúc với dân, đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
vào cuộc sống và biến thành hành động cách mạng của quần chúng.
Đối với các xã MNĐBKK - do trình độ dân trí rất thấp, để đưa được đường lối
của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào thực tế cuộc sống thì đội ngũ CBCC CQCX phải
làm tốt công tác tuyên truyền, động viên, tổ chức cho đồng bào các dân tộc thực hiện
đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước.
Công tác tuyên truyền, động viên, tổ chức cho đồng bào dân tộc phải đạt mục
tiêu: không ngừng củng cố khối Đoàn kết dân tộc. Bác Hồ kính yêu căn dặn: "Đoàn kết,
đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công". Lời dạy của Bác vẫn
giữ nguyên giá trị trong cách mạng XHCN ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số trong
giai đoạn mới.
Thực hiện tư tưởng của Hồ Chí Minh, việc xây dựng đội ngũ CBCC miền núi,
vùng dân tộc thiểu số luôn gắn bó chặt chẽ giữa công tác cán bộ với công tác tuyên
truyền, động viên quần chúng các dân tộc, coi đây là điều kiện để mỗi cán bộ hoàn
thành được nhiệm vụ của mình. Điểm quan trọng nhất của công tác tuyên truyền, động
viên quần chúng ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số là phải chiếm được lòng tin của đồng

thông tin về chính sách pháp luật. Việc chăm lo đời sống vật chất, tinh thần đối với họ
cũng chưa tương xứng. Thực tế này là một trong những nguyên nhân làm hạn chế năng
lực trình độ quản lý điều hành của đội ngũ CBCC chính quyền ở cơ sở.
1.2. Khái niệm, tiêu chí đánh giá và những yếu tố tác động đến chất lượng đội
ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã
1.2.1. Khái niệm chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã
Theo Từ điển tiếng Việt thì "chất lượng" hiểu ở nghĩa chung nhất là "cái tạo nên
phẩm chất, giá trị của một con người, sự vật, sự việc" [36, tr.44].
Đối với một con người sống trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chất
lượng của cá nhân đó được hiểu là tổng hợp những phẩm chất nhất định về sức khỏe, trí
tụê khoa học, chuyên môn nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, ý chí, niềm tin, năng lực;
luôn gắn bó với tập thể, với cộng đồng và tham gia một cách tích cực vào quá trình công

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước yêu cầu chất lượng đối với mỗi người trong xã hội nói chung vốn đã cao
thì yêu cầu đối với chất lượng CBCC càng cao hơn - đòi hỏi người CBCC có những
trình độ phẩm chất theo yêu cầu như nêu ở trên thì người cán bộ phải gương mẫu, đi
tiên phong về lý luận và thực tiễn, chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối, chính
sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; giữ vững tiêu chuẩn và tư cách của người cán bộ.
Mỗi cán bộ công chức không tồn tại một cách biệt lập mà phải được đặt trong
một chỉnh thể thống nhất của đội ngũ CBCC. Vì vậy, quan niệm về chất lượng đội ngũ
CBCC phải được đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa chất lượng của từng cán bộ với
chất lượng của cả đội ngũ. Chất lượng của cả đội ngũ không phải là sự tập hợp giản đơn
số lượng mà là sự tổng hợp sức mạnh của toàn bộ đội ngũ. Sức mạnh này bắt nguồn từ
phẩm chất vốn có bên trong của mỗi cán bộ và nó được tăng lên gấp bội bởi tính thống
nhất của tổ chức; của sự giáo dục, đào tạo, phân công, quản lý, của kỷ luật.
Như vậy có thể nói chất lượng đội ngũ CBCC bao gồm:
- Chất lượng của từng cán bộ; cụ thể là phẩm chất chính trị, đạo đức; trình độ
năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Chất lượng của từng cán bộ là yếu tố cơ bản
tạo nên chất lượng của cả đội ngũ.

Đây là tiêu chuẩn đầu tiên, là điều kiện đối với mỗi người cán bộ. Để trở thành
những nhà tổ chức, những người cán bộ có năng lực trước hết phải là người có phẩm
chất chính trị.
Phẩm chất chính trị của đội ngũ CBCC CQCX được biểu hiện trước hết là sự tin
tưởng tuyệt đối đối với lý tưởng cách mạng, kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và
CNXH, đó là con đường mà Bác Hồ và Đảng ta đã lựa chọn, kiên quyết đấu tranh bảo vệ
quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, không dao động trước những
khó khăn thử thách. Đồng thời phải có biện pháp để đường lối đó đi vào thực tiễn cuộc
sống của nhân dân địa phương.
Người cán bộ có phẩm chất chính trị tốt không chỉ bằng những lời tuyên bố,
hứa hẹn mà quan trọng hơn là việc nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chỉ thị, nghị
quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước, kiên quyết chống lại mọi lệch lạc, biểu hiện
sai trái trong đời sống xã hội đi trái ngược với đường lối, chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước.

Phẩm chất chính trị của người CBCC CQCX còn biểu hiện thông qua thái độ
phục vụ nhân dân, tinh thần gương mẫu trong công tác, tinh thần trách nhiệm đối với
đời sống của đồng bào nhân dân tại địa phương. Người cán bộ có phẩm chất chính trị tốt
phải là người luôn trăn trở trước những khó khăn ở địa phương; phải có quyết tâm đưa
địa phương cơ sở nơi mình công tác ngày càng phát triển về mọi mặt, thực hiện công
bằng, dân chủ, văn minh.
- Về phẩm chất đạo đức:
Đây là phẩm chất rất quan trọng đối với đội ngũ CBCC CQCX, nó là cái "gốc"
của người cán bộ. Người cán bộ phải có đầy đủ đạo đức cách mạng thì mới có đủ điều
kiện để phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, phục vụ Đảng. Nếu thiếu hoặc yếu kém
đạo đức cách mạng sẽ không thể làm tốt công việc được giao và nó là nguyên nhân của
tệ quan liêu, tham nhũng tạo nên nguy cơ đe dọa đến sự tồn vong của Đảng, sự sống còn
của chế độ. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh rất coi trọng đạo đức cách mạng. Người viết:
"Cũng như sông thì có nguồn, mới có nước, không có nguồn thì cạn, cây phải có gốc,
không có gốc thì cây héo; người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù

trao cho nhưng bản thân họ không có năng lực hoặc năng lực yếu kém thì họ không thể
biến khối thẩm quyền đó thành hiện thực nghĩa là không thể thực hiện được quyền lực
của mình.
Lênin rất đề cao trình độ năng lực của người cán bộ. Người viết: " chỉ dựa vào
tinh thần xung kích phấn khởi và nhiệt tình không thôi, thì không thể làm được gì cả"
[31, tr.253].
Đồng thời, theo Người "lòng trung thành được kết hợp với năng lực hiểu biết về
con người, về năng lực giải quyết những vấn đề về tổ chức thì chỉ có lòng trung thành
đó mới có thể rèn luyện ra tổ chức lớn" [32, tr.509].
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người không chỉ đề cao đạo đức cách mạng mà
yêu cầu mọi cán bộ đảng viên phải luôn học tập, rèn luyện nâng cao trình độ năng lực.
người phê phán bệnh lười biếng, lười học là: "khuyết điểm rất to, khác nào người thầy
thuốc đi chữa bệnh cho người khác mà bệnh nặng trong mình thì quên chữa, do đó "phải
chữa cái bệnh kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông" [33, tr.234].
Nhưng đồng thời lý luận phải đi đôi với thực tiễn, học phải đi đôi với hành, nếu
không thì đó cũng chỉ là lý luận suông mà thôi. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Năng lực

của con người không phải hoàn toàn tự nhiên mà có, mà phần lớn do công tác, do luyện
tập mà có" [33, tr.40].
Năng lực theo Người nó là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện, hoạt động
thực tiễn của con người không phải tự nhiên mà có; năng lực được phát triển trong quá
trình hoạt động thực tiễn. Người lười biếng, trốn tránh lao động thì năng lực không thể
phát triển được.
Đối với bộ máy chính quyền cấp xã bao gồm hai thiết chế là HĐND và UBND.
Mặc dù cùng là cấp cơ sở nhưng với vị trí pháp lý khác nhau; chức năng, nhiệm vụ
quyền hạn cũng khác nhau cho nên yêu cầu về năng lực trình độ đối với CBCC cơ quan
này không hoàn toàn giống nhau. Ngoài những yêu cầu chung như phẩm chất đạo đức
lối sống, bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ còn có những yêu cầu khác.
+ Đối với CBCC của HĐND (Chủ tịch HĐND, phó Chủ tịch HĐND) với tư
cách là đại biểu, là vị trí chủ chốt của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương do


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status