Vấn đề trong phạm trù triết học Ấn Độ cổ đại - Pdf 61

Vấn đề trong phạm trù triết học Ấn Độ cổ đại
Các hệ thống phạm trù trong triết học Ấn Độ cổ đại có một số lượng phạm trù tương
đối lớn, phạm vi phản ánh rộng, phong phú, đa dạng, bao quát được nhiều lớp sự vật
khác nhau của thế giới, nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học và nhận thức. Điều
này thể hiện "các nhà triết học Ấn Độ cổ đại đã có một tư duy phân loại đạt đến trình
độ cao và sự phân tích sâu sắc đến kinh ngạc. Họ không dừng lại ở các vấn đề nhân
sinh quan mà đặc biệt quan tâm đến các vấn đề bản thể luận.
Trong đời sống tinh thần của người Ấn Độ, bên cạnh tôn giáo, triết học có một vai trò
khá quan trọng. Chính vì sự gần gũi đó mà triết học Ấn Độ gắn liền với các tôn giáo.
Đúng như lời nhận xét của Radhakrishnan:"Triết học Ấn Độ mang đượm màu sắc chủ
nghĩa duy linh, chính chủ nghĩa duy linh đã cho Ấn Độ khả năng chống lại các cuộc
chiến tranh của thù trong giặc ngoài. Hết người Hy Lạp, người Mông Cổ, đến người
Pháp, người Anh đã muốn tàn phá và huỷ diệt nền văn minh của đất nước này,
nhưng người dân Ấn Độ vẫn ngẩng cao đầu. Trong suốt quá trình lịch sử của mình,
đất nước Ấn Độ tồn tại vì một mục đích: Đấu tranh cho chân lý và chống lại mọi sai
lầm... Lịch sử tư tưởng Ấn Độ đã và đang minh chứng về những cuộc kiếm tìm vô tận
của trí tuệ trong quá khứ, hiện tại và tương lai".
Giống như triết học Trung Quốc, triết học Ấn Độ ra đời sớm và chứa đựng nhiều tư
tưởng sâu sắc về thế giới, trong đó có vấn đề phạm trù triết học. Điều này dễ hiểu,
bởi nếu không có các phạm trù triết học thì không thể có tư duy logic và quá trình
nhận thức thế giới khách quan. Theo cách phân chia truyền thống, triết học Ấn Độ cổ
đại được chia thành hai hệ thống với 9 trường phái. Hệ chính thống gồm 6 trường
phái: Mimansa, Vêdanta, Samk- huya, Nyaya, Vaisesika. Hệ không chính thống gồm
3 trường phái: Jainism (Kỳ na giáo), Budđhism (Phật giáo), Lokayata hay còn gọi là
Carvaka. Trong 9 trường phái kể trên, có 3 trường phái đề cập đến vấn đề phạm trù
triết học một cách chuyên sâu và hệ thống, đó là: Jainism, Nyaya, Vaisesika.
Jainism - trường phái triết học mang đượm màu sắc tôn giáo, ra đời vào khoảng thế
kỷ thứ VI TCN. Người sáng lập là Ma- havira. Tư tưởng triết học của trường phái này
được phản ánh trong "Tattvartha". Quan điểm của các nhà triết học theo trường phái
này mang tính mâu thuẫn. Họ là những người duy vật khi giải quyết vấn đề bản thề
luận. Theo họ, vật chết là bản thể vũ trụ, tồn tại một cách khách quan trong không

như những phương tiện để con người có thể đạt được tri thức.
Vaisesika - trưởng phái triết học xuất hiện vào thế kỷ thứ III TCN. Nội dung chủ yếu
của trường phái này được phản ánh trong "Vaisesika sung", trong đó trình bày học
thuyết nguyên tử (Atomism) và hệ thống bao gồm 7 phạm trù triết học sau:
1) Thực thể.
2) Thuộc tính hay là chất (gừng).
3) Vận động hay là nghiệp (karma).
4) Cái chung.
5) Cái đặc thù.
6) Tồn tại.
7) Không tồn tại.
Trong 7 phạm trù nêu trên, các nhà triết học tập trung phân tích 2 phạm trù chủ yếu
thực thể và thuộc tính. Phạm trù thực thể được triển khai thành 9 phạm trù phụ
thuộc (phạm trù con), thuộc hai nhóm vật chất và phi vật chất. Nhóm vật chất gồm
5 phạm trù: đất, nước, lửa, không khí, ethe. Nhóm phi vật chất gồm 4 phạm trù:
thời gian, không gian, linh hồn, trí tuệ. Phạm trù thuộc tính được triển khai thành 24
phạm trù con: xúc giác, vị giác, thị giác, khướu giác, thính giác, lượng, liên kết, phân
rã, đại lượng, xác đính, khuyếch tán, hội tụ, khả năng, học hỏi, thoả mãn, đau khổ,
mong muốn, thiện và ác, nỗ lực, ấn tượng, ghét bỏ, nhầy nhụa, nặng nề, lưu động
và nhanh nhẹn.
Cũng giống như phái Jainism, phái Vaisesika đã nêu lên được một hệ thống phạm trù
triết học phản ánh nhiều lĩnh vực khác nhau của thế giới ( Điều khác biệt ở đây là các
nhà triết học thuộc phái Vais- esika đã đi sâu phân tích hai phạm trù thực thể và
thuộc tính, coi chúng như những phạm trù đóng vai trò cơ bản trong quá trình nhận
thức thế giới. Họ đã có một trình độ phân loại cao, sự phân tích khá sâu. Hơn nữa,
khi đi sâu phân tích phạm trù thuộc tính, các nhà triết học đã nhìn thấy tính đa dạng,
phức tạp của phạm trù này, nêu được nhưng thuộc tính khác nhau của giới hữu cơ và
vô cơ.
Nyaya - trường phái triết học xuất hiện vào thế kỷ thứ I sau CN. Quan điểm triết học
của trường phái này chủ yếu được phản ánh trong "Nyaya sutra” mà tác giá là Gau-

11) Tranh cãi: là sự bác bỏ ý kiến của đối phương bằng sự xuyên tạc nó.
12) Bắt bẻ: tìm kiếm mâu thuẫn của đối phương.
13) Luận cứ giả: là điều vô căn cứ.
14) Xuyên tạc: ví dụ, trong giếng có nước mới.
15) Diễn tả không chân thật: là sự xuyên tạc có tính mờ ám.
16) Luận cứ chính: là luận cứ làm cho đối phương phải tuân phục trong lúc tranh
Trên đây chúng tôi chỉ nêu một số nét khái lược về phạm trù của các hệ thống triết
học ấn Độ cổ đại. So với hệ thống phạm trù của Arixtốt trong triết học Hy Lạp cổ đại
và các quan niệm phạm trù của Lão Tử của phái Danh Gia (?) trong triết học Trung
Quốc cổ đại, chúng ta thấy các hệ thống phạm trù trong triết học Ấn Độ cổ đại có
một số lượng phạm trù tương đối lớn, phạm vi phản ánh rộng, phong phú, đa dạng,
bao quát được nhiều lớp sự vật khác nhau của thế giới, nhiều lĩnh vực khác nhau của
khoa học và nhận thức. Điều này thể hiện "các nhà triết học Ấn Độ cổ đại đã có một
tư duy phân loại đạt đến trình độ cao và sự phân tích sâu sắc đến kinh ngạc. Họ
không dừng lại ở các vấn đề nhân sinh quan mà đặc biệt quan tâm đến các vấn đề
bản thể luận.
Bên cạnh những thành công như đã nói trên về vấn đề phạm trù, chúng ta cũng dễ
dàng nhận thấy rằng, các nhà triết học Ấn Độ cổ đại chưa quan tâm đến vấn đề lý
luận chung về phạm trù, chưa lý giải được nguồn gốc, tính chất, vai trò của phạm trù
đối với nhận thức và hoạt động thực tiễn. Điều này chỉ được giải quyết khi có sự ra
đời của học thuyết phạm trù của Cantơ, của Hêgen đặc biệt là hệ thống và lý luận về
phạm trù của triết học Mác - Lênin.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status