TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

Tiểu Luận Triết Học
Đề tài số 11
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA
TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI VÀ
TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI
SVTH : Lý Lệ Châu
Stt : 08
Nhóm : 01
Lớp : Cao học Đêm 1 – K20
GVHD : TS. Bùi Văn Mưa
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại
Tp HCM, Tháng 05 năm 2011
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
  
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Triết học là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên tắc chung
của tồn tại và nhận thức, là thái độ con người đối với thế giới, là khoa học về
những qui luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Lịch sử Triết học đã
trãi qua biết bao thăng trầm, biến cố của lịch sử, có lúc phát triển đến đỉnh cao
như giai đoạn triết học của Arixtốt, Đêmôcrít và Platôn nhưng cũng có lúc biến
thành một môn của thần học theo chủ nghĩa kinh viện trong một xã hội tôn giáo
bao trùm mọi lĩnh vực vào thế kỷ thứ X – XV. Sự phát triển của Triết học là sự
phát triển song song giữa hai nền Triết học phương Tây và phương Đông. Do
điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hoá mà sự phát triển của hai nền
Triết học có sự khác nhau. Nói đến triết học phương Đông phải kể đến Triết học
Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại. Đây là hai trong số những chiếc
nôi Triết học sớm nhất, lâu đời, phong phú và đã tạo nhiều dấu ấn đặc biệt cho
nền lịch sử Triết học. Triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại đều
có chung đặc điểm là phân tích các vấn đề xuất phát từ nhân sinh quan, tuy nhiên
do đặc điểm kinh tế - chính trị, xã hội khác nhau nên mỗi nền triết học này cũng
có những đặc trưng khác nhau. Do đó nhóm 1 chọn đề tài: “Sự tương đồng và
khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại” để phân
tích sâu hơn về các vấn đề như sự hình thành, phát triển và nét đặc thù cũng như
những điểm tương đồng và khác biệt của hai nền Triết học này.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài này đặt ra các mục tiêu cần nghiên cứu sau:
• Sự tương đồng giữa triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại
• Sự khác nhau giữa triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa 4 SVTH: Lý Lệ Châu
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại
3. Phương pháp nghiên cứu
Đối với đề tài này, tôi đã lựa chọn các phương pháp nghiên cứu sau.
a) Phương pháp luận theo chủ nghĩa duy vật biện

những vấn đề nhân sinh dưới góc độ tôn giáo với xu hướng "hướng nội", đi
tìm cái Đại ngã trong cái Tiểu ngã của một thực thể cá nhân. Có thể nói: sự phản
tỉnh nhân sinh là một nét trội và có ưu thế của nhiều học thuyết triết học ấn Độ
cổ, trung đại (trừ trường phái Lokàyata), và hầu hết các học thuyết triết học này
đều biến đổi theo xu hướng từ vô thần đến hữu thần, từ ít nhiều duy vật đến duy
tâm hay nhị nguyên.
Triết học Trung Quốc có mầm mống từ thần thoại thời Tam đại (Hạ, Thương,
Chu). Sự phát triển của triết học Trung Quốc cổ - trung đại là một quá trình đan
xen, thâm nhập lẫn nhau giữa các trường phái (Âm dương gia, Nho gia, Đạo gia,
Mặc gia và Pháp gia). Mối quan tâm hàng đầu của các nhà tư tưởng Trung Hoa
cổ đại là những vấn đề thuộc đời sống thực tiễn chính trị - đạo đức của xã hội.
Tuy họ vẫn đứng trên quan điểm duy tâm để giải thích và đưa ra những biện pháp
giải quyết các vấn đề xã hội, nhưng những tư tưởng của họ đã có tác dụng rất
lớn, trong việc xác lập một trật tự xã hội theo mô hình chế độ quân chủ phong
kiến trung ương tập quyền theo những giá trị chuẩn mực chính trị - đạo đức
phong kiến phương Đông.
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa 6 SVTH: Lý Lệ Châu
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại
Bên cạnh những suy tư sâu sắc về các vấn đề xã hội, nền triết học Trung Hoa thời
cổ còn cống hiến cho lịch sử triết học thế giới những tư tưởng sâu sắc về sự biến
dịch của vũ trụ. Những tư tưởng về Âm Dương, Ngũ hành tuy còn có những hạn
chế nhất định, nhưng đó là những triết lý đặc sắc mang tính chất duy vật và biện
chứng của người Trung Hoa thời cổ, đã có ảnh hưởng to lớn tới thế giới quan
triết học sau này không những của người Trung Hoa mà cả những nước chịu ảnh
hưởng của nền triết học Trung Hoa.
2. Điều kiện ra đời, phát triển và nét đặc thù của Triết
học Ấn Độ Cổ
a) Điều kiện ra đời
• Điều kiện tự nhiên: Ấn Độ cổ đại là một đất nước rộng lớn thuộc bán đảo
Nam Á có những yếu tố địa lý rất trái ngược nhau: Vừa có núi cao (bao gồm cả

thuật châm cứu, bằng thuốc thảo mộc. Chữ viết đã xuất hiện từ thời văn hóa
Harappa; các bộ kinh Vêđa và sử thi sớm xuất hiện; Nghệ thuật tạo hình như kiến
trúc, điêu khắc được thể hiện trong các cung điện, đền chùa, tháp, lăng tẩm, trụ
đá…; sản sinh ra nhiều tôn giáo lớn như đạo Bàlamôn – Hinđu, đạo Phật, đạo
Jaina, đạo Xích,…
b) Các đặc điểm Triết học Ấn Độ cổ đại
• Triết học Ấn Độ cổ đại là loại hình Triết học tôn giáo. Tôn giáo và Triết học
xen kẽ vào nhau. Trong Tôn giáo có màu sắc Triết học, trong Triết học có màu
sắc Tôn giáo. Tuy nhiên Tôn giáo của Ấn Độ có xu hướng “hướng nội” đi sâu
tìm hiểu sức mạnh của đời sống tâm linh, tinh thần, không phải “hướng ngoại”
như các tôn giáo phương Tây tìm kiếm sức mạnh nơi thượng đế.
• Hầu hết các hệ thống Triết học Ấn Độ đều tập trung giải quyết vấn đề nhân
bản, đó là vấn đề nhân sinh quan và con đường giải thoát.
• Cuộc đấu tranh giữa Chủ nghĩa duy vật và Chủ nghĩa duy tâm xung quanh
các vấn đề: Bản nguyên vũ trụ + Con người, linh hồn, đạo đức.
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa 8 SVTH: Lý Lệ Châu
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại
c) Quá trình hình thành và phát triển của Triết học
Ấn Độ cổ đại
Người ta phân chia quá trình thành 2 thời kỳ chính
• Thời kỳ thứ nhất: Thời kỳ Vêđa khoảng thế kỷ XV TCN đến thế kỷ VIII
TCN. Trong thời kỳ này con người quan niệm về thế giới, về đời sống bằng các
biểu tượng huyền thoại, đa thần. Những quan niệm đó được thể hiện trong các
tác phẩm chủ yếu là kinh Veđa và Upanishad
o Kinh Vêđa có nghĩa là hiểu biết, tri thức cao cả, thiêng liêng, nó cũng
được dùng với nghĩa là “Kinh thánh”.
o Kinh Upanishad là những kinh sách bình chú tôn giáo - triết học, gồm
200 bài kinh giải thích ý nghĩa triết lý sâu xa của những tư tưởng thần thoại, tôn
giáo Vêđa. Nó thể hiện một tinh thần mới là giải phóng ý thức khỏi sự ràng buộc
của nghi lễ và bàn đến những vấn đề có ý nghĩa triết học thực sự.

- Nghĩa là không có ai sáng tạo ra thế giới, bởi vì mọi vật đều có nhân, có quả,
không có nguyên nhân đầu tiên (Phật giáo không thừa nhận đấng sáng tạo).
- Mọi vật trong vũ trụ, kể cả con người là tự có theo luật nhân quả. Chúng biến
đổi vô cùng vô tận.
Vô ngã: Phật giáo cho rằng thế giới (vạn vật và con người) được cấu tạo
từ các yếu tố vật chất (sắc) và tinh thần (danh). Sắc và danh chỉ hội tụ nhau trong
một thời gian ngắn rồi lại chuyển sang trạng thái khác, sinh sinh, hóa hóa, tan
hợp, hợp tan. Do đó vạn vật chỉ là dòng biến hóa hư ảo vô cùng, không có gì là
thường định. Phật giáo quan niệm: sự tồn tại của một con người ở trên đời chỉ là
ngắn ngủi bởi vì các yếu tố tạo nên con người chỉ nhóm lại trong chốc lát rồi lại
chuyển hóa thành cái khác.
Vô thường: Quan niệm thế giới này không có cái gì là thường định (ổn
định), vĩnh hằng, đứng im một chỗ mà mọi vật đều thường xuyên biến đổi theo
một chu trình: Sinh, Trụ, Dị, Diệt. Sinh là sinh ra; Trụ là tồn tại, phát triển trong
một thời gian; Dị là biến đổi; Diệt là tiêu vong, là mất.
Nhân duyên: Nhân là nguyên nhân, duyên là điều kiện. Tất cả các sự vật,
hiện tượng trong thế giới này xuất hiện đều có nguyên nhân và điều kiện. Duyên
là điều kiện giúp cho nhân trở thành quả, quả lại do duyên mà thành nhân khác,
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa 10 SVTH: Lý Lệ Châu
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại
nhân khác lại do duyên mà thành quả mới. Cứ như thế không có nguyên nhân
đầu tiên và không có kết quả cuối cùng.
 Nhân sinh quan (quan điểm về cuộc sống)
1) Thuyết luân hồi, nghiệp báo
• Luân hồi: Bánh xe quay tròn. Khi người ta chết thì chết về thể xác, còn linh
hồn bất tử, còn sống đầu thai sang kiếp khác.
• Nghiệp báo: là cái do hành động của ta gây ra, trong cuộc đời hiện hữu của
mỗi người đều phải gánh chịu hậu quả của những hành vi do kiếp trước gây ra.
Đạo Phật cho rằng một người tu nhân, tích đức ở kiếp này, đời này thì đời sau
thiện báo, còn đời này ác thì đời sau ác báo: Thiện giả  Thiện báo; Ác giả 

được rồi thì phải lo giữ nó, nếu nó mất đi thì lại luyến tiếc.
7, Oán tăng hội khổ: những điều mình chán ghét thì nó cứ tiến đến bên mình.
8, Ngũ uẩn khổ: sự hội tụ và xung đột của ngũ uẩn – sắc, thụ, tưởng, hành, thức.
Tập đế: Tập đế còn gọi là nhân đế, là những nguyên nhân tạo thành sự
khổ, gồm ba nguyên nhân chính (tham, sân, si) còn gọi là tam độc, là nguồn gốc
của mọi sự khổ. Nhân đế được diễn giải trong thuyết thập nhị nhân duyên để thấy
được nguồn gốc của sự vật trong thế gian gồm: 1. Vô minh 2. Hành 3. Thức 4.
Danh - sắc. 5. Lục nhập 6. Xúc 7. Thụ 8. Ái 9. Thủ 10. Hữu 11. Sinh 12. Lão - tử
Diệt đế: Diệt đế là lý luận về khả năng tiêu diệt được nỗi khổ nơi cuộc
sống thế gian để đạt tới cảnh giới Niết Bàn.
Niết Bàn có bốn đặc điểm: Thường - Lạc - Ngã - Tịnh.
Thường là thường còn, không biến đổi.
Lạc là an lạc, giải thoát hết phiền não, thâm tâm tự tại.
Ngã là chân ngã, chân thực, thường còn.
Tịnh là thanh tịnh, trong sạch không còn ô nhiễm.
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa 12 SVTH: Lý Lệ Châu
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại
Niết Bàn là sự chấm dứt mọi phiền não được thực hiện không phải ở một nơi nào
khác, một cõi nào khác mà thực hiện ngay trong cõi thế gian này, nhờ sự tu hành
nghiêm túc mang lại cho ta mọi trạng thái tinh thần đặc biệt: Trạng thái an lạc,
siêu thoát, tịnh diệt.
Đạo đế: Đạo đế là con đường hướng dẫn cho chúng sinh đạt được đến quả
giải thoát, ra khỏi luân hồi sinh tử. Nội dung cơ bản thể hiện trong thuyết Bát
chính đạo, gồm có:
1. Chính ngữ: là tu nghiệp thanh tịnh, không phát ra lời nói sai trái.
2. Chính nghiệp: hành động chân chính, mang lại lợi ích cho mọi người.
3. Chính mệnh: sống bằng nghề nghiệp chân chính.
4. Chính tinh tấn: tiến tới trên con đường đạo, không đi vào các đường tà.
5. Chính niệm: tâm trí luôn luôn nghĩ đến những điều hay lẽ phải.
6. Chính định: giữ tâm vắng lặng, tập trung vào một điều chính đáng.

Chiến Quốc là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất có nhiều học thuyết gọi thời kỳ này
là “Bách gia chư tử, trăm nhà trăm thấy”; “Bách gia tranh minh, trăm nhà đua
tiếng”.
• Vấn đề cơ bản của triết học: Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức nói chung,
trong triết học Trung Hoa nói riêng là mối quan hệ: Thiên – Địa – Nhân.
Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm chủ yếu diễn ra
xung quanh các vấn đề:
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa 14 SVTH: Lý Lệ Châu
5
Hán nho
3 TCN
Chiến
quốc
8 TCN
Chiếm hữu nô lệ
21 TCN
Chiếm hữu nô lệ suy tàn
Chế độ phong kiến hình thành phát triển
Khổng Tử: Mạnh Tử, Tuân Tử
Xuân
thu
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại
o Khởi nguyên vũ trụ: Duy tâm: Trời (Đổng Trọng Thư); Duy vật: âm
dương, ngũ hành
o Vấn đề con người: số phận, tính người. Duy tâm: Do trời – Mệnh trời:
Sống chết, giàu nghèo do thiên mệnh quy định; Duy vật: Hoàn cảnh và giáo dục
(quyết định).
o Nhận thức: Duy tâm: 3 dạng: Thánh nhân + Thượng trí + Hạ ngu có học
cũng không biết; Duy vật: mọi tầng lớp phải học mới biết.
• Trong nhiều hệ thống triết học của Trung Quốc cổ đại các yếu tố: Duy vật,

thâm nhập lẫn nhau của các trường phái.
d) Nội dung cơ bản triết học Trung Quốc cổ đại
Học thuyết nho giáo
Khổng tử là người sáng lập ra nho giáo vào cuối thời kỳ Xuân Thu là thời kỳ mà
người ta rất quan tâm đến đạo đức, chính trị, xã hội. Ông coi hoạt động đạo đức
là nền tảng của xã hội, là công cụ để gìn giữ trật tự xã hội và hoàn thiện nhân
cách cá nhân cho con người. Đến thời chiến quốc, do bất đồng về bản tính con
người mà nho giáo bị chia thành 8 phái, trong đó có phái của Tôn tử và phái của
Mạnh Tử là mạnh nhất. Mạnh Tử có nhiều đóng góp đáng kể cho sự phát triển
của nho giáo nguyên thủy, ông đã khép lại một giai đoạn quan trọng – giai đoạn
hình thành nho giáo, nho giáo Khổng – Mạnh còn được gọi là nho giáo nguyên
thủy hay nho giáo tiên Tần.
Nội dung cơ bản của Nho giáo: Để tổ chức xã hội, điều cốt lõi là phải đào tạo
cho được những người cai trị kiểu mẫu – người Quân tử. Để trở thành người
quân tử, trước hết là phải tu thân. Có ba tiêu chuẩn chính:
• Đạt “đạo”: Đạo là con đường, là những mối quan hệ mà con người phải biết
cách ứng xử trong cuộc sống. Có 5 đạo: Vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bè
bạn (quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu). 5 Đạo đó gọi là ngũ luân.
Trong xã hội, cách ứng xử hợp lý hơn cả là trung dung (dung hòa ở giữa).
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa 16 SVTH: Lý Lệ Châu
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại
• Đạt “đức”: Người quân tử, theo Khổng tử, nếu có 3 điều nhân – trí – dũng
thì gọi là đạt đức. Về sau, Mạnh Tử bỏ “dũng” mà thay bằng “lễ, nghĩa” thành 4
đức “nhân, lễ, nghĩa, trí”. Đến đời Hán thêm “tín” thành 5 đức gọi là ngũ thường.
• Ngoài các tiêu chuẩn về “đạo”, “đức”, người quân tử còn phải biết thi - thư -
lễ – nhạc. Khổng tử nói rằng con người “hưng khởi trong lòng là nhờ học thi, lập
thân được là nhờ biết lễ, thành công được là nhờ có nhạc” (Luận ngữ). Nói cách
khác, ông đòi hỏi người cai trị không thể là dân võ biền, mà phải có một vốn văn
hóa toàn diện.
Tu thân rồi, bổn phận của người quân tử là Hành Động, phải tề gia, trị quốc, bình

và quy luật phản phục. Luật bình quân là luôn cho sự vật được cân bằng theo
một trật tự điều hòa tự nhiên, không có cái gì thái quá, bất cập. Luật phản phục
là sự phát triển đến cực điểm thì quay trở lại phương hướng cũ. Đây là quan điểm
biện chứng mang tính máy móc đơn giản. Vạn vật chỉ vận động tuần hoàn, lặp đi
lặp lại.
Trong quan niệm về nhân sinh và chính trị – xã hội, Lão Tử đã xây dựng thuyết
vô vi tức là sống và hành động theo lẽ tự nhiên, thuần phác. Xã hội lý tưởng đối
với ông là những nước nhỏ, dân ít. Dân hai nước ở cạnh nhau, dù cách nhau bởi
một bờ dậu nhỏ hay một con mương cạn, cùng nghe tiếng chó sủa tối, tiếng gà
gáy sáng… nhưng đến già đến chết họ cũng không bao giờ qua lại thăm nhau.
Sang thời Chiến quốc, xuất phát từ quan niệm của Lão Tử coi vạn vật đều do đạo
sinh ra. Trang Tử cho rằng, trời đất và ta cùng sinh ra, vạn vật với ta đều là một.
Trang Tử đã biến các yếu tố biện chứng trong triết học của Lão Tử thành chủ
nghĩa tương đối và thuyết ngụy biện. Ông cho rằng đúng sai, trên dưới, sang
hèn, bần tiện đều như nhau; coi đời như một cuộc giải trí, một cõi mộng mơ mà
khi tỉnh dậy không biết ta hóa bướm hay bướm hóa ta; chủ trương sống thuận
theo thời vì cái tự nhiên nào cũng hợp lý cả cho nên không khen chê phải trái, tốt
xấu làm gì, phải lánh nạn để bảo tồn sinh mạng.
Tóm lại Nho gia và Đạo gia là những trường phái những triết lý, nhân sinh quan
khác nhau; có những điểm khác nhau như đường lối trị dân (trong khi Nho gia
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa 18 SVTH: Lý Lệ Châu
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại
đòi hỏi người trị vì thiên hạ phải là bậc thánh nhân quân tử, với những phẩm chất
đạo đức sáng ngời nhân, nghĩa, lễ, trí, tín… chủ trương xây dựng một xã hội đại
đồng thì Lão Tử cho rằng bậc Thánh nhân trị vì thiên hạ phải bằng lẽ tự nhiên
của đạo vô vi, và chủ trương xóa bỏ hết mọi ràng buộc về mặt đạo đức, pháp luật
đối với con người để trả lại cho con người cái bản tính tự nhiên vốn có của nó).
Cả hai học thuyết của Khổng Tử và Lão Tử đều không được xã hội đương thời
chú ý. Song cả hai đều là những trường phái có ảnh hưởng to lớn đến đời sống xã
hội sau này.

chữ hiếu. Giữa trung và hiếu thì trung là ưu tiên. Chữ trung đứng đầu ngũ luân.
“Thường” có năm điều chính gọi là “ngũ thường”, đều là những đức tính do trời
phú cho mỗi người: Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Đứng đầu ngũ thường là nhân nghĩa.
Trong nhân nghĩa thì nhân là chủ. Đạo của Khổng Tử trước hết là đạo Nhân.
Luân và thường gắn bó với nhau. Nhưng trên lý thuyết và trong thực tiễn thì luân
đứng trước thường.
Nội dung của Đạo Gia là thuyết vô vi tức là sống và hành động theo lẽ tự nhiên,
thuần phác. Tiếp đó được nâng lên chủ nghĩa tương đối và thuyết ngụy biện. Cho
rằng đúng sai, trên dưới, sang hèn, bần tiện đều như nhau…
Tóm lại: Quan điểm chủ đạo của Triết học Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
đều hướng con người đến cái tốt, phê phán cái xấu góp phần đưa con người lại
gần nhau hơn, cuộc sống tốt đẹp hơn.
2. Trong triết học có sự đan xen yếu tố Duy vật và Duy tâm không rõ ràng
Phật giáo đưa ra các luận điểm: Vô tạo giả, vô ngã, vô thường, nhân duyên.
Trong đó không thừa nhận đấng tạo hóa, mọi vật trong vũ trụ _ kể cả con người _
đều có theo luật nhân quả, tan hợp, hợp tan, biến hóa vô cùng. Vạn vật không ổn
định, thường xuyên biến đổi theo chu trình (sinh – trụ – dị – diệt). Tất cả các sự
vật, hiện tượng trong thế giới này xuất hiện đều có nguyên nhân và điều kiện.
Duyên là điều kiện giúp cho nhân trở thành quả, quả lại do duyên mà thành nhân
khác, nhân khác lại do duyên mà thành quả mới. Cứ như thế không có nguyên
nhân đầu tiên và không có kết quả cuối cùng.
Thuyết thiên mệnh của Nho gia cho rằng: Thiên mệnh chi vị tính, xuất tính chi vị
đạo, tu đạo chi vị giáo, tính tương cận, tập tương viễn… Nho giáo chấp nhận sự
tồn tại, chi phối của đấng tạo hóa đối với vạn vật. Tuy nhiên, Nho gia là tư tưởng
chính trị. Nho gia không đề xuất tôn giáo, chỉ hướng con người tu thân để “tề gia,
trị quốc, bình thiên hạ”
Đạo gia cho rằng đạo sinh ra, nuôi nấng và bảo tồn vạn vật. Đạo không chỉ là
nguồn gốc, bản chất mà còn là quy luật của mọi cái đã, đang và sẽ tồn tại trong
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa 21 SVTH: Lý Lệ Châu
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại

không có hình thể. Đạo vừa có trước, vừa là cái nằm trong bản thân sự vật. Đạo
sinh ra vạn vật, nuôi nấng và bảo tồn vạn vật…
Như vậy ta có thể thấy, mỗi trường phái có một lý giải riêng về vạn vật khác
nhau, không lẫn nhau.
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa 23 SVTH: Lý Lệ Châu
Sự tương đồng và khác biệt giữa Triết học Ấn Độ cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại
2. Nhận thức luận
Phật giáo thể hiện nhận thức rõ nét trong Tứ diệu đế hay còn gọi là tứ chân đế/tứ
thánh đế. Tứ đế gồm có: Khổ đế (Sinh – lão – bệnh – tử khổ, ái biệt ly khổ, sở
cầu bất đắc khổ, Oán tăng hội khổ, ngũ uẩn khổ); Tập đế: nguyên nhân chính
của khổ (tham, sân, si) được diễn giải trong thuyết thập nhị nhân duyên để thấy
được nguồn gốc của sự vật trong thế gian (1. Vô minh 2. Hành 3. Thức 4. Danh -
sắc. 5. Lục nhập 6. Xúc 7. Thụ 8. Ái 9. Thủ 10. Hữu 11. Sinh 12. Lão - tử); Diệt
đế: lý luận về khả năng tiêu diệt được nỗi khổ nơi cuộc sống thế gian để đạt tới
cảnh giới Niết Bàn (Thường - Lạc - Ngã - Tịnh); Đạo đế: hướng dẫn cho chúng
sinh đạt được đến quả giải thoát, ra khỏi luân hồi sinh tử. Nội dung cơ bản thể
hiện trong thuyết Bát chính đạo (1. Chính ngữ 2. Chính nghiệp 3. Chính mệnh 4.
Chính tinh tấn 5. Chính niệm 6. Chính định 7. Chính kiến 8. Chính tư duy) và ba
nguyên tắc (1. Giới họ 2. Định học 3. Tuệ học).
Nhận thức chủ đạo của Nho gia là luân thường. “Luân” có năm điều chính gọi là
“ngũ luân”, đều là những quan hệ xã hội, trong đó có ba điều chính là vua tôi,
cha con, chồng vợ gọi là tam cương. Trong ba điều lớn này có hai điều mấu chốt
là mối quan hệ vua tôi biểu hiện bằng chữ trung, quan hệ cha con biểu hiện bằng
chữ hiếu. Giữa trung và hiếu thì trung là ưu tiên. Chữ trung đứng đầu ngũ luân.
“Thường” có năm điều chính gọi là “ngũ thường”, đều là những đức tính do trời
phú cho mỗi người: Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Đứng đầu ngũ thường là nhân nghĩa.
Trong nhân nghĩa thì nhân là chủ. Đạo của Khổng Tử trước hết là đạo Nhân.
Luân và thường gắn bó với nhau. Nhưng trên lý thuyết và trong thực tiễn thì luân
đứng trước thường.
Nội dung của Đạo Gia là thuyết vô vi tức là sống và hành động theo lẽ tự nhiên,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status