Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp từ thực tiễn huyện sơn dương, tỉnh tuyên quang - Pdf 61

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG
NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN HUYỆN SƠN DƯƠNG,
TỈNH TUYÊN QUANG

CẤN ĐỨC DUY

HÀ NỘI – 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG
NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN HUYỆN SƠN DƯƠNG,
TỈNH TUYÊN QUANG

CẤN ĐỨC DUY
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN LỆ THU


pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp nói riêng cũng như
giúp tôi rèn luyện kỹ năng nghiên cứu khoa học.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới các cơ quan của UBND huyện Sơn
Dương, tỉnh Tuyên Quang giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập
trong suốt thời gian qua.
Mặc dù tôi đã có cố gắng trong quá trình làm luận văn, song không thể tránh
khỏi những hạn chế nhất định, rất mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý và giúp đỡ quý
báu của các Thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp.

Hà Nội, tháng

năm 2018

Tác giả luận văn


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
UBND

Ủy ban nhân dân

THĐ

Thu hồi đất


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Biểu số 01/GĐ-CHN ............................................................................................. 61
Biểu số 02/GĐ-CLN .............................................................................................. 61
Biểu số 03/GĐ-RSX .............................................................................................. 62


............................................................................................ 29

2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. .............................................. 51
2.2.1.Tổng quan về bồi thường thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn
Huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang ............................................... 51


2.3.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang .... 52
Kết luận chương 2............................................................................ 77
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THĐ NÔNG NGHIỆP ......................... 78
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp. ...................................................................................................... 78
3.1.1. Hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu đất nông
nghiệp phải phù hợp với quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng . 78
3.1.2. Hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ nông
nghiệp phải đảm bảo lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, đảm bảo
công bằng xã hội. ............................................................................ 78
3.1.3. Hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp cần có sự thống nhất, đông thời với việc hoàn thiện pháp
luật đất đai nói chung và pháp luật chuyên ngành khác nói riêng. ...... 79
3.1.4. Đảm bảo lợi ích hài hòa giữa Nhà nước, doanh nghiệp và của
người bị thu hồi đất. . ...................................................................... 79
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp................................................................................................................ 79
3.2.2. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bồi thường khi
nhà nước thu hồi đất nông nghiệp. ..................................................................... 83

Tuyên Quang 28km do đó có vị trí vô cùng thuận lợi trong giao lưu kinh tế, chính
trị, văn hóa, xã hội, là đầu mối của một số tuyến giao thông quan trọng như Quốc lộ
2C, Quốc lộ 37, Đường tỉnh lộ ĐT 186, giao thông đường thủy song Lô nối với các
1


xã phía Nam của huyện và các tỉnh lân cận như Hà Giang, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc,
Phú Thọ. Là điểm đến của du khách cả nước về với chiến khu xưa Di tích lịch sử
Cây đa Tân Trào (Thủ đô Gió ngàn, thủ đô Kháng Chiến). Để thực hiện mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội, căn cứ theo báo cáo số 08/BC- PTQĐSD ngày 6/3/2016
của Chi nhánh Phát triển quỹ đất huyện Sơn Dương từ năm 2013 đến nay trên địa
bàn huyện Sơn Dương đã thu hồi 315.9 ha để thực hiện 115 dự án lớn nhỏ, trong đó
có các dự án lớn như công trình cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2C; công trình cải tạo,
nâng cấp đường ĐT 186 Thượng Ấm – Đại Phú…
Tuyên Quang - một tỉnh đang phát triển, thường xuyên tiến hành các công
tác thu hồi, bồi thường giải phóng mặt bằng, đây là địa danh thuận lợi làm cơ sở để
đánh giá, tổng kết chính xác những kết quả đạt được, những vướng mắc xảy ra khi
áp dụng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp.
Chính vì vậy, tôi đã quyết định chọn đề tài: “Pháp luật về bồi thường khi nhà
nước thu hồi đất nông nghiệp và thực tiễn áp dụng tại huyện Sơn Dương, tỉnh
Tuyên Quang.” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Do tầm quan trọng, tính phức tạp và nhạy cảm của bồi thường, hỗ trợ khi nhà
nước thu hồi đất nên vấn đề này đã thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả. Trong nhiều
chuyên đề nghiên cứu, trên các tạp chí, các báo cáo, bài viết, báo viết, báo điện tử đã có
nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến các nội dung xoay quanh vấn đề này. Có thể kể đến
cuốn chuyện khảo “Pháp luật về định giá trong bồi thường giải phóng mặt bằng ở Việt
Nam”, PGS.TS Doãn Hồng Nhung (chủ biên), NXB. Tư pháp 2013; chuyên đề “Bình
luận và góp ý đối với các quy định về đất, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất trong dự thảo Luật Đất đai sửa đổi” PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến tổ chức tại Đại

nghiên cứu và kế thừa các thành quả của các nhà nghiên cứu trước nhưng có sự tập
trung về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp một cách chuyên sâu hơn
qua thực tiễn áp dụng tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận về bồi thường khi nhà nước thu
hồi đất nông nghiệp, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về
bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên

3


Quang. Qua đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi nhà
nước thu hồi đất nông nghiệp.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp, những vấn đề lý luận về pháp luật bồi thường khi nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp từ đó xác định bản chất , nội dung, yêu cầu của pháp luật bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
+ Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu
hồi đất nông nghiệp, chỉ ra những kết quả đạt được, nguyên nhân hạn chế, tồn tại
của pháp luật trong lĩnh vực này.
+ Đưa ra định hướng, đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về
bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp và các giải pháp nâng cao hiệu
quả công tác thực thi pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng:
- Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về pháp luật về bồi thường khi nhà nước
thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang theo luật Đất đai
năm 2013.

… được sử dụng để đưa ra định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi
thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp và thực tiễn áp dụng tại huyện Sơn
Dương tỉnh Tuyên Quang ( Sử dụng tại Chương 3)
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu
Luận văn này cung cấp một cách trực diện những vấn đề lý luận về bồi
thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
Luận văn là nguồn tư liệu tổng hợp về thực trạng thường khi nhà nước thu
hồi đất nông nghiệp tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Cung cấp thêm các
luận cứ khoa học trong công tác bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang trong thời gian tới.
Luận văn có giá trị tham khảo đối với sinh viên đại học, cao học luật và hành
chính, có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu ở

5


Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện, hoặc làm tài liệu tham khảo cho những ai
quan tâm đến vấn đề này.
Những đề xuất, giải pháp của luận văn là tư liệu tham khảo để các nhà hoạch
định pháp luật tiếp tục hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương:
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ
NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ
NƯỚC THĐ NÔNG NGHIỆP QUA THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI HUYỆN SƠN
DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP

cây lâu năm; Đất rừng sản xuất; Đất rừng phòng hộ; Đất rừng đặc dụng; Đất nuôi
trồng thủy sản; Đất làm muối; Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng
nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng
trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các
loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng
thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con

7


giống và đất trồng hoa, cây cảnh (Theo Khoản 1 Điều 10 Luật Đất đai năm 2013)
[23, tr.17].
Về cơ bản cách hiểu đất nông nghiệp theo Luật Đất đai năm 2013 đã rất chi tiết,
phân loại rõ ràng tránh cách hiểu hạn hẹp, không bao quát được hết các loại đất
nông nghiệp, gây thiệt thòi cho người dân khi tiến hành bồi thường cũng như giải
quyết các chế độ chính sách, Luật Đất đai năm 2013 Luật hóa quy định về đất nông
nghiệp khác. Theo đó, cách hiểu dất nông nghiệp khác không còn mang nặng ảnh
hưởng về mặt địa lý, đó không chỉ là các loại đất chỉ có ở nông thôn mà còn là đất
có xây dựng công trình để trồng trọt, chăn nuôi, ở cả đô thị và nông thôn. Ngoài ra,
theo Luật Đất đai năm 2013 đất xây dựng không để trồng trọt, chăn nuôi trong các
trạm, trại nghiên cứu và cơ sở ươm tạo cây giống, con giống; nhà kho của dân để
chứa nông sản, thuộc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông
nghiệp đồng thời thêm đất trồng hoa, cây cảnh cũng không còn được coi là đất nông
nghiệp khác.
Như vậy việc kết hợp sử dụng nhiều loại đất thuộc nhóm đất nông nghiệp như
vậy là một nhu cầu tất yếu khách quan của mỗi hộ muốn nâng cao năng lực sản
xuất, tận dụng quỹ đất để khai thác đất đai có hiệu quả, bên cạnh đó cũng thể hiện
sự thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước trong việc khuyến khích
sản xuất nông nghiệp theo mô hình nông trang trại kết hợp với nông – lâm – ngư –
diêm nghiệp. Do vậy tôi cho rằng việc phân loại đất nông nghiệp như quy định của

việc thu hồi đất; Bồi thường là hệ quả tất yếu sau thu hồi, nếu người sử dụng đất
đáp ứng được các điều kiện do pháp luật đất đai quy định. Mặt khác, “bồi thường”
là thuật ngữ phù hợp đặt trong bối cảnh Nhà nước thu hồi đất với tư cách là chủ sở
hữu đại diện đối với đất đai. [30, tr.33]
Mặt khác, xét về mặt bản chất, thì “bồi thường” hay “đền bù” hay “bồi hoàn”
đều là sự bù đắp tương xứng những thiệt hại đã gây ra. Đây là những thuật ngữ có
nội hàm tương đối đồng nhất. Thiết nghĩ, không nên bàn sâu về vấn đề thuật ngữ
này, bởi vì không mang lại nhiều ý nghĩa về mặt thực tiễn, cũng như không làm
thay đổi nội dung về trách nhiệm và nghĩa vụ lớn lao của Nhà nước đối với người
dân, khi Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất. Điều quan trọng là, khi Nhà nước thu
hồi đất, cần phải có cơ chế thực hiện một cách nghiêm túc sự bù đắp tương xứng

9


với những thiệt hại hữu hình và vô hình về vật chất và tinh thần cho người dân có
đất bị thu hồi.
Xuất phát từ các quan điểm trên, có thể đưa ra khái niệm về bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp như sau: “Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp là việc Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho
thuê đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc
gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế phải bù đắp những tổn hại về đất và tài sản
trên đất do hành vi thu hồi đất gây ra, cho người sử dụng đất tuân theo những quy
định của pháp luật đất đai”.
1.1.3. Đặc điểm của việc bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
Thứ nhất, cơ sở làm phát sinh việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp, đó là khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng cho mục đích quốc phòng, an
ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng hay vì mục tiêu phát triển kinh tế. Pháp luật
bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp phải giải quyết hài hòa mâu thuẫn
giữa lợi ích “công” của nhà Nhà nước, của xã hội và lợi ích “tư” của người sử dụng

thu hồi đất gây ra.
Hai là: Đảm bảo ổn định tình hình chính trị, đảm bảo quyền lợi và lợi ích
hợp pháp của người sử dụng đất
Đảo đảm cho người dân nhanh chóng có chỗ ở mới để đảm bảo cuộc sống,
giải quyết hài hòa giữa việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước,
nhà đầu tư và người sử dụng đất. Các quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất nông nghiệp được ban hành phù hợp với thực tiễn, bảo hộ quyền và lợi ích hợp
pháp của người dân thì được họ đồng tình ủng hộ, haaij quả là việc thu hồi đất được
thực hiện nhanh chóng, dứt điểm. Ngược lại các quy định về bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất nông nghiệp (đặc biệt là các quy định về giá đất bồi thường) không
phù hợp với thực tế, tác động tiêu cực đến tâm lý, suy nghĩ của người dân thì sẽ
không nhận được sự đồng thuận, phát sinh các tranh chấp, khiếu kiện kéo dài tiềm
ẩn nguy cơ mất ổn định chính trị - xã hội; hậu quả là việc thu hồi đất gặp nhiều khó
khăn, phức tạp và thậm chí là không thực hiện được.
Ba là: Bồi thường khi Nhà nước THĐ còn thể hiện trách nhiệm của Nhà
nước nhằm bù đắp tổn thất về quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất do
hành vi thu hồi đất của Nhà nước.

11


1.1.5. Phân biệt giữa hỗ trợ với bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
Theo Khoản 12 Điều 3 và Điều 74 Luật Đất đai 2013: Bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyên sử dụng đất đối với diện tích
đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất.
Theo Khoản 14 Điều 3 và Điều 83 Luật Đất đai 2013 thì: Hỗ trợ khi Nhà
nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo
nghề mới, bố chí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm chỗ ở mới để ổn
định đời sống, sản xuất và phát triển.
Như vậy sự khác nhau căn bản giữa bồi thường và hỗ trợ, tái định cư là: Bồi

hành từ ngày 01/7/2014 tại Khoản 12 Điều 3 đã giải thích rõ “Bồi thường về đất là
việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho
người sử dụng đất” còn những vấn đề bồi thường về tài sản gắn liền với đất , những
chi phí đầu tư vào đất được quy định cụ thể hơn tại các điều luật khác. Bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất về cơ bản vẫn có một số đặc trưng sau:
- Bồi thường nhà nước là hậu quả pháp lý trực tiếp do hành vi thu hồi đất của
Nhà nước, nó chỉ phát sinh sau khi có quyết định hành chính của về thu hồi đất của
cơ quan có thẩm quyền.
- Bồi thường là trách nhiệm của Nhà nước nhằm bù đắp tổn thất về quyền và
lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất do hành vi thu hồi đất của Nhà nước.
- Người bi ̣Nhà nước thu hồi đất không chỉ được bồi thường về đất mà còn
được bồi thường về tài sản trên đất và được xem xét , hỗ trợ giải quyết các vấn đề
mang tính xã hội như ổn định đời sống, ổn định sản xuất, chuyển đổi việc làm...
- Việc bồi thường chỉ được áp dụng với các đối tượng bi ̣ thu hồi đất đáp ứng
những điều kiện nhất đi ṇ h theo quy định của pháp luật. Từ những phân tích, căn cứ
trên ta có thể hiểu đầy đủ về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp là
việc Nhà nước bù đắp những thiệt hại , tổn hại về đất và tài sản, chi phí đầu tư trên
đất do hành vi thu hồi đất nông nghiệp gây ra cho người sử dụng đất đáp ứng các
quy định của pháp luật về đất đai. Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp là tổng hợp các quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh
trong quá trình nhà nước bồi thường về đất, tài sản, chi phí đầu tư trên đất khi Nhà
nước thu hồi đất nông nghiệp. Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp là một lĩnh vực pháp luật khá nhạy cảm. Bên cạnh việc chịu sự chi
phối bởi hình thức sở hữu toàn dân về đất đai pháp luật về bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất nông nghiệp còn có những đặc trưng riêng như: cơ sở để bồi thường

13


trong pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp không chỉ dựa trên những thiệt hại thực



74 và Điều 88 Luật Đất đai năm 2013) và có một điều luật riêng quy định về
nguyên tắc hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất (Điều 83 Luật Đất đai năm 2013). Trong
đó, quy định cụ thể các nguyên tắc bồi thường về đất và các nguyên tắc bồi thường
thiệt hại về tài sản gắn liền với đất, nguyên tắc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để
các bộ, nghành, địa phương và người thu hồi đất căn cứ vào đó thống nhất thực
hiện. Theo đó, về cơ bản, nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp thể hiện trên các khía cạnh sau:
Thứ nhất, người bị thu hồi đất có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật
thì được bồi thường, hỗ trợ. Việc bồi thường được đặt ra khi Nhà nước thu hồi đất
sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và
vào mục tiêu phát triển kinh tế. Tuy nhiên, để được bồi thường, hỗ trợ, người bị thu
hồi đất còn phải thỏa mãn những điều kiện do pháp luật quy định: Khoản 1 Điều 74
Luật Đất đai xác định khẳng định nguyên tắc : “Người sử dụng đất khi Nhà nước
thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này
thì được bồi thường”. Ngoài ra, với các trường hợp không được bồi thường về đất
luật cũng xác định vấn đề bồi thường về chi phí đầu tư vào đất còn lại (Khoản 1
Điều 76 Luật Đất đai năm 2013). Việc bồi thường về tài sản sản xuất, kinh doanh
khi Nhà nước thu hồi đất cũng chỉ được đặt ra khi “chủ sở hữu tài sản hợp pháp gắn
liền với đất bị thiệt hại về tài sản được bồi thường” và “Khi Nhà nước thu hồi đất
mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải ngừng sản xuất, kinh doanh mà có thiệt hại
thì được bồi thường thiệt hại” Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được xem
như là sự bồi hoàn những thiệt hại trực tiếp mà người sử dụng đất phải gánh chịu do
việc thu hồi đất gây ra. Bên cạnh việc bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất,
người sử dụng đất có đất bị thu hồi còn được xem xét hỗ trợ: “Người sử dụng đất
khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định của Luật này
còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ” (Điểm a, Khoản 1 Điều 83 Luật Đất đai năm
2013). Đối với trường hợp người trực tiếp sản xuất bị thu hồi đất nông nghiệp mà

không đang có trong bồi thường đất nông nghiệp. Trong thực tiễn sử dụng đất nông
nghiệp, việc vi phạm mục đích sử dụng đất khá phổ biến, đó là việc chuyển từ đất
nông nghiệp sang mục đích phi nông nghiệp. Trong những trường hợp này, khi bị
thu hồi đất, người sử dụng đất có thể tìm cách, gây khó khăn, nhân cơ hội để đòi bồi

16


thường với giá đất phi nông nghiệp. Vì vậy, pháp luật cũng quy định rõ, người sử
dụng đất nông nghiệp theo quy định của pháp luật nhưng tự ý sử dụng làm đất phi
nông nghiệp thì chỉ được bồi thường theo đất nông nghiệp. Bồi thường đất cùng
mục đích sử dụng là bảo đảm sự công bằng giữa tất cả người sử dụng đất có đất bị
thu hồi. Tuy nhiên, việc bồi thường bằng đất nông nghiệp trong thực tế chỉ được
triển khai khi quỹ đất nông nghiệp của địa phương còn. Đồi với bồi thường về tài
sản, Điều 88 Luật Đất đai năm 2013 quy định nguyên tắc: “1. Khi Nhà nước thu hồi
đất mà chủ sở hữu tài sản hợp pháp gắn liền với đất bị thiệt hại về tài sản thì được
bồi thường. 2. Khi Nhà nước thu hồi đất mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người
Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải
ngừng sản xuất, kinh doanh mà có thiệt hại thì được bồi thường thiệt hại” Nếu chỉ
bồi thường về giá trị sử dụng của đất mà bỏ qua những thiệt hại về tài sản gắn liền
với đất và đặc biệt là bỏ qua những thiệt hại khi ngừng sản xuất, kinh doanh sẽ là
một thiếu sót trong chính sách pháp luật về bồi thường. Việc bồi thường về tài sản
gắn liền với đất được xem xét khi chủ sở hữu tài sản đó hợp pháp; việc bồi thường
thiệt hại trong sản xuất kinh doanh được đặt ra khi người có đất bị thu hồi phải
ngừng sản xuất, kinh doanh mà có thiệt hại. Nói cách khác, khi có thiệt hại xảy ra
thì người sử dụng đất có đất bị thu hồi sẽ được xem xét bồi thưởng, bảo đảm việc
bồi thường đầy đủ các thiệt hại.
Thứ ba, việc bồi thường phải theo giá thị trường Điều này là cơ sở để bảo
đảm lợi ích cho người có đất bị thu hồi, để họ thấy việc bồi thường là thỏa đáng và
tự nguyện trả lại đất được giao. Đối với trường hợp bồi thường về đất, Luật Đất đai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status