BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG
KINH DOANH THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN NAY
HOÀNG NGỌC TUẤN
HÀ NỘI - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG
KINH DOANH THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN NAY
HOÀNG NGỌC TUẤN
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. HỒ NGỌC HIỂN
HÀ NỘI - 2018
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO
VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THƯƠNG
MẠI ........................................................................................................................ 6
1.1. Khái quát về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động kinh
doanh thương mại .................................................................................................... 6
1.1.1. Hợp đồng trong hoạt động kinh doanh thương mại ........................................ 6
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương
mại ........................................................................................................................ 15
1.1.3. Bồi thường thiệt hại là một hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong
hoạt động kinh doanh thương mại.......................................................................... 18
1.1.4. Chức năng của chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt
động kinh doanh thương mại ................................................................................. 20
1.2. Khái quát pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt
động kinh doanh thương mại ................................................................................. 21
1.2.1. Nguồn pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
trong hoạt động kinh doanh thương mại ................................................................ 21
1.2.2. Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi
phạm hợp đồng trong hoạt động kinh doanh thương mại ở Việt Nam .................... 22
1.2.3. Hệ thống các văn bản pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
trong hoạt động kinh doanh thương mại ................................................................ 24
1.2.4. Nội dung cơ bản của pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
trong hoạt động kinh doanh thương mại ................................................................ 26
Tiểu kết chương 1 .................................................................................................. 29
Tiểu kết chương 2 .................................................................................................. 68
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
THƯƠNG MẠI.................................................................................................... 69
3.1. Những yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại
do vi phạm hợp đồng trong hoạt động kinh doanh thương mại .............................. 69
3.1.1. Phù hợp với đương lối xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt
Nam ...................................................................................................................... 69
3.1.2. Đảm bảo sự thống nhất của các văn bản pháp luật ...................................... 71
3.1.3. Đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam ............................ 73
3.1.4. Đảm bảo sự phù hợp với các đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam ................ 74
3.2. Hoàn thiện quy định về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt
động kinh doanh thương mại ................................................................................. 75
3.2.1. Hoàn thiện quy định của pháp luật về hành vi vi phạm, yếu tố lỗi và thiệt hại
thực tế ................................................................................................................... 76
3.2.2. Hoàn thiện các quy định về các trường hợp miễn trách nhiệm do vi phạm hợp
đồng trong hoạt động kinh doanh thương mại ........................................................ 82
3.2.3. Hoàn thiện quy định về biện pháp bồi thường thiệt hạido vi phạm hợp đồng
kinh doanh thương mại .......................................................................................... 84
3.2.4. Hoàn thiện quy định về không chịu trách nhiệm do không thể thực hiện hợp
đồng và miễn, giảm trách nhiệm ............................................................................ 87
3.2.5. Hoàn thiện quy định áp dụng phối hợp chế tài bồi thường thiệt hại và chế tài
phạt vi phạm .......................................................................................................... 91
3.3. Kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định pháp luật về bồi
thường thiệt hại trong thực tiễn .............................................................................. 91
Tiết kết chương 3................................................................................................... 99
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................... 101
Tòa án nhân dân
5
KDTM
Kinh doanh thương mại
6
BTTH
Bồi thường thiệt hại
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đề ra đường lối
đổi mới toàn diện đất nước nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Đại hội chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với những
hình thức kinh doanh phù hợp; coi trọng việc kết hợp lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội.
Nhưng phải đến Đại hội toàn quốc lần thức IX của Đảng mới chính thức đưa ra khái
niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Đại hội khẳng định: Phát triển
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối chiến lược nhất quán, là
mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Để nền kinh tế thị trường có thể vận hành một cách có hiệu quả, hoạt động
KDTM diễn ra một cách có trật tự, Nhà nước cần phải thiết kế và xây dựng hệ
thống các văn bản pháp luật hoàn chỉnh và một cơ chế đảm bảo việc thi hành chúng
một cách có hiệu quả. Một bộ phận quan trọng của cơ chế pháp lý đó chính là hệ
Chính vì những lý do trên, tác giả lựa chọn việc nghiên cứu “BTTH do vi
phạm hợp đồng KDTM theo pháp luật Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc
sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chế tài do vi phạm hợp đồng trong hoạt động KDTM, trong đó có BTTH là
một chế định đã có từ lâu trong hệ thống pháp luật nước ta. Đã có nhiều công trình
nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau về chế tài BTTH. Có thể kể đến một số công
trình nghiên cứu sau:
- “Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại – Những vấn đề lí luận và thực
tiễn”, Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Hoàng Thị Hà Phương, Trường Đại học
Luật Hà Nội, năm 2011.
- “Pháp luật về BTTH do vi phạm hợp đồng trong kinh doanh – thực trạng
và phương hướng hoàn thiện”, Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Quách Thúy
Quỳnh, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2005.
- “BTTH do hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo quy định của công
ước Viên 1980 – So sánh với pháp luật Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ luật học của
Trần Thùy Linh, Trường Đại học luật Hà Nội, năm 2009.
2
- “Về việc áp dụng chế tài phạt hợp đồng và BTTH vào thực tiễn giải quyết
tranh chấp hợp đồng trong hoạt động KDTM” của tác giả Nguyễn Thị Hằng Nga
(Tạp chí Tòa án nhân dân, số 9 năm 2006).
- “Thỏa thuận hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng” của
TS. Dương Anh Sơn trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 3 năm 2005.
Ngoài ra, năm 2010 trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức
một cuộc hội thảo về đề tài nghiên cứu “Không thực hiện đúng hợp đồng trong
pháp luật thực định Việt Nam” do TS. Đỗ Văn Đại làm chủ biên.
Các công trình nói trên đã đề cập đến vấn đề BTTH do vi phạm hợp đồng
trong hoạt động KDTM ở những mức độ và phạm vi khác nhau, vào những khoảng
được những yêu cầu của thực tiễn.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về BTTH
do vi phạm hợp đồng trong hoạt động KDTM, đánh giá thực trạng pháp luật để thấy
được vị trí, vai trò và mối quan hệ của hình thức chế tài này với các hình thức chế
tài thương mại khác. Luận văn chỉ nghiên cứu, tìm hiểu các quy định về chế tài BTTH
do vi phạm hợp đồng trong hoạt động KDTM của LTM năm 2005, ngoài ra có sự đối
chiếu với các quy định của BLDS năm 2015, LTM năm 1997, Pháp lệnh Hợp đồng
kinh tế năm 1989 và các quy định trong hệ thống pháp LTM quốc tế mà đại diện là
Công ước viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế và Bộ nguyên tắc của Unidroit về
hợp đồng thương mại quốc tế nhằm đưa ra sự so sánh với pháp luật Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận chung của học thuyết Mác –
Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Cùng với việc sử dụng phương pháp luận chung nhất của phép biện chứng
duy vật, đề tài được thực hiện bằng việc sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên
cứu chuyên ngành luật như phương pháp mô tả, phân tích, so sánh, tổng hợp, chứng
minh, thống kê, lịch sử...
Phương pháp phân tích, so sánh được sử dụng chủ yếu để đánh giá, nhận xét
về các quy định pháp luật hiện hành về chế tài BTTH do vi phạm hợp đồng trong
hoạt động KDTM trong tương quan so sánh với các quy định trước đây cũng như
4
pháp luật quốc tế. Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng phương pháp thống kê, phương
pháp lịch sử để đánh giá sự phát triển và những hạn chế cần khắc phục của pháp
luật hiện hành.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm có 3 chương:
có tính nhanh chóng, linh hoạt, đơn giản, bảo đảm quyền lợi của các bên trong
KDTM. Chính vì vậy, hợp đồng trong KDTM có sự khác biệt với hợp đồng trong
dân sự.
Ở nước ta có quan niệm giống các quốc gia theo truyền thống pháp luật
Civilaw Hợp đồng trong KDTM có sự tách biệt với hợp đồng trong dân sự. Pháp
luật nước ta quy định hợp đồng được giao kết giữa các chủ thể kinh doanh với nhau
hoặc các bên có liên quan để thực hiện hoạt động kinh doanh là hợp đồng trong hoạt
động KDTM. Theo đó, khái niệm hợp đồng dân sự nói chung được quy định cụ thể
6
tại BLDS năm 2015, Điều 385: “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc
xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Từ khái niệm hợp đồng
nói chung, BLDS quy định về đặc điểm một số loại hợp đồng như hợp đồng mua
bán tài sản, hợp đồng tặng cho, hợp đồng thuê tài sản.v.v. Hợp đồng KDTM trước
hết chịu sự điều chỉnh về nguyên tắc chung của hợp đồng trong BLDS và được quy
định chi tiết trong LTM. Trong LTM năm 2015 tuy không có khái niệm Hợp đồng
trong KDTM, nhưng căn cứ vào đặc điểm, chủ thể và các dấu hiệu của hợp đồng
trong KDTM có thể hiểu Hợp đồng thương mại là hình thức pháp lý của hành vi
thương mại, là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên (ít nhất một trong các bên phải
là thương nhân hoặc các chủ thể có tư cách thương nhân) nhằm xác lập, thay đổi,
chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện hoạt động thương
mại. Các hoạt động thương mại ở đây được xác định theo LTM năm 2005, cụ thể tại
Điều 1 LTM năm 2005, theo đó bao gồm: hoạt động thương mại thực hiện trên lãnh
thổ nước CHXHCN Việt Nam; hoạt động thương mại thực hiện ngoài lãnh thổ Việt
Nam trong trường hợp các bên thỏa thuận chọn áp dụng Luật này hoặc Luật nước
ngoài, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; hoạt động không nhằm mục
đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ
Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi
đó áp dụng luật này.
hợp đồng trong KDTM, có thể khẳng định lại một lần nữa: Hợp đồng thương mại
được hiểu là sự thỏa thuận giữa thương nhân với thương nhân hoặc giữa thương
nhân với các bên liên quan nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ
giữa các bên trong hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại và
xúc tiến thương mại.
Đặc điểm của hợp đồng trong kinh doanh thương mại
Căn cứ vào pháp LTM và BLDS, Hợp đồng KDTM có đặc điểm như sau:
Thứ nhất, về mục đích, hợp đồng trong KDTM nhằm phục vụ hoạt động sản
xuất kinh doanh và lợi nhuận cho các chủ thể ký kết (ít nhất là 1 bên chủ thể), khác
1
Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2010), “Hợp đồng vô hiệu trong hoạt động thương thực tiễn”. Đại học
Luật Thành phố Hồ Chí Minh
8
với hợp đồng KDTM, mục đích của hợp đồng dân sự chủ yếu đáp ứng nhu cầu sinh
hoạt, tiêu dùng của các chủ thể ký kết.
Thứ hai, chủ thể của hợp đồng thương mại được xác lập giữa thương nhân
với thương nhân hoặc giữa thương nhân với các chủ thể khác có nhu cầu giao dịch,
mua bán hàng hóa khi chọn LTM 2005. Bởi hoạt động thương mại là hoạt động của
các thương nhân hoặc giữa thương nhân với các chủ thể khác. Trong đó thương
nhân được xem là các chủ thể hoạt động một cách thương xuyên trong các hoạt
động có liên quan đến thương mại, các chủ thể khác được xem là các chủ thể hoạt
động không thường xuyên đó là tất cả các chủ thể của luật dân sự khi tham gia các
hoạt động thương mại.
Thứ ba, hình thức hợp đồng thương mại có thể xác lập bằng văn bản, bằng
lời nói hoặc hành vi cụ thể. Hợp đồng KDTM chủ yếu được ký kết bằng hình thức
phạm hợp đồng.
Hiện nay, vi phạm hợp đồng được một số công trình nghiên cứu định nghĩa
như sau “hành vi vi phạm hợp đồng là hành vi của một bên đã xử sự trái với những
quy định của pháp luật hoặc trái với nội dung đã cam kết”4 hoặc “Vi phạm hợp
đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật
này”.5 Theo quan điểm của tác giả Lê Thị Tuyết Hà: “Vi phạm hợp đồng KDTM là
việc thương nhân thực hiện hành vi trái với cam kết, xâm phạm quyền lợi hợp pháp
của thương nhân còn lại trong hợp đồng KDTM, theo đó thương nhân có hành vi
vi phạm sẽ phải chịu áp dụng các biện pháp trách nhiệm trong thương mại tương
ứng.”6 Căn cứ vào các hành vi vi phạm nêu trên thì các chủ thể KDTM khi thực
hiện hành vi vi phạm hợp đồng KDTM đương nhiên cũng chỉ vi phạm xoay quanh
những hành vi cụ thể này. Tuy nhiên, để phân định giữa vi phạm hợp đồng nói
chung và vi phạm hợp đồng KDTM chúng ta không thể tìm kiếm sự khác nhau ở
đặc điểm về các dạng hành vi cụ thể ấy, vì hành vi không thực hiện, thực hiện
không đúng, chậm thực hiện của chủ thể vi phạm giữa vi phạm hợp đồng hay vi
phạm hợp đồng KDTM là hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên, khi so sánh về các
tiêu chí khác như chủ thể vi phạm và bị vi phạm, đối tượng vi phạm, mục đích vi
3
Hoàng Phê (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr.1112
Nguyễn Thị Dung (2001), Áp dụng trách nhiệm hợp đồng trong kinh doanh, Nxb Chính trị quốc
gia, tr.353
5
Điều 18 LTM 2005
6
Lê Thị Tuyết Hà (2016), Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại ở Việt Nam hiện
nay, luận án tiến sỹ luật học, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội, tr.38
4
những khoản lợi to lớn bất hợp pháp trong kinh doanh, mục đích này mang tính
tiêu cực. Mục đích không được đặt ra cho toàn bộ các thương nhân chân chính mà
11
xuất phát từ một số các thương nhân tham gia vào thị trường thương mại một cách
không bền vững “ăn xổi ở thì”. Mục tiêu nhằm tối đa hóa lợi nhuận của các chủ thể
thương mại vì vậy một số chủ thể bất chấp hành vi xâm phạm đến lợi ích của chủ
thể khác để nhằm trục lợi. Ngoài mục đích trục lợi bất chính thì còn có nhiều mục
đích khác như thực hiện hành vi vi phạm để đối thủ thua lỗ và phá sản nhằm loại
bỏ bớt chủ thể cạnh tranh trong thị trường. Nhưng trong tất cả các nguyên nhân
gây ra việc vi phạm nguyên nhân chính là nhằm tối đa hóa lợi nhuận trong kinh
doanh. Vì mục đích là không phải là mục đích tốt đẹp nên nếu mục đích này diễn
ra càng nhiều thì dẫn đến những kết quả xấu, trì hoãn hoặc có thể làm suy sụp nền
kinh tế của một quốc gia.
Về hậu quả của vi phạm hợp đồng KDTM làm cho thương nhân bị vi phạm
mất đi những lợi nhuận hợp pháp và từ hành vi vi phạm hợp đồng KDTM của một
chủ thể thương mại có thể kéo theo hàng loạt các hành vi vi phạm khác. Nếu trong
hoạt động thương mại, có nhiều chủ thể thiếu năng lực kinh doanh mà tham gia
vào hoạt động này thì sẽ có nhiều sự vi phạm xảy ra, đó là những vi phạm không
chủ động, cố ý, nhưng nếu hành vi vi phạm mà do các chủ thể cố ý, ác ý để thực
hiện sẽ kìm hãm hoặc làm cho nền kinh tế đi xuống và còn có “bệnh” lây lan sang
các chủ thể thương mại khác. Từ đó, trong KDTM của một quốc gia hầu hết sẽ
hình thành những chủ thể chuyên vi phạm hợp đồng KDTM (tương tự lừa đảo
chiếm đoạt tài sản), nhưng khác hành vi lừa đảo đó là thông qua hành vi vi phạm
hợp đồng để trục lợi mà không bị kết luận là “tội lừa đảo” trong luật hình sự. Hậu
quả từ hành vi vi phạm hợp đồng KDTM để lại một hậu quả vô cùng to lớn, đó là
các thương nhân mất lòng tin lẫn nhau tạo ra một môi trường kinh doanh – thương
mại “lừa dối”, có tác hại đến việc quyết định sự sống còn của nền kinh tế trong
một quốc gia, đây là điểm khác biệt lớn giữa hành vi vi phạm hợp đồng KDTM với
hành vi cụ thể như không thực hiện hợp đồng như không giao hàng, không thanh
toán, không mua hàng hoặc thực hiện nhưng không đầy đủ như giao hàng thiếu,
không đúng chất lượng, thanh toán thiếu, nhận hàng không đầy đủ; chậm giao
hàng… Đây chính là các biểu hiện của hành vi vi phạm hợp đồng nói chung.
Vi phạm về hợp đồng trong KDTM có thể được phân loại thành những vi
phạm cơ bản và những vi phạm không cơ bản. Vi phạm cơ bản là vi phạm gây
13
thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên bị thiệt hại, trong một chừng mực đáng
kể, bị mất đi lợi ích mà họ có quyền mong đợi từ hợp đồng, trừ trường hợp bên vi
phạm không tiên liệu được và một người có lí trí bình thường cũng sẽ không tiên
liệu được hậu quả nếu họ cũng ở vào địa vị và hoàn cảnh tương tự. Vi phạm cơ bản
là vi phạm các điều khoản chủ yếu của hợp đồng, dựa vào việc phân nhóm các
điều khoản hợp đồng theo quy định như điều khoản tùy nghi, điều khoản chủ yếu
và điều khoản thường lệ của hợp đồng để thấy rằng vi phạm cơ bản tức là không
thực hiện đúng các điều khoản chủ yếu đó. Hoặc vi phạm cơ bản là vi phạm
nghiêm trọng hoặc cơ bản mà theo đó bên bị vi phạm không những được áp dụng
biện pháp BTTH mà còn được quyền hủy hợp đồng. Về mặt hậu quả những vi
phạm cơ bản sẽ gây ra mức độ thiệt hại lớn mà làm cho bên bị vi phạm hoàn toàn
không đạt được mục đích của hợp đồng, mục đích này được các bên xác định kể từ
khi giao kết hợp đồng. Ngoài ra, để khẳng định là vi phạm cơ bản không phụ thuộc
vào chủ thể trong hợp đồng hay bên thứ ba thực hiện hành vi vi phạm và không
căn cứ vào hình thức lỗi, không căn cứ vào trước đó đã có vi phạm mà tái phạm
hay bị nhắc nhở do hành vi vi phạm không cơ bản, mà để xác định vi phạm cơ bản
chỉ dựa vào việc một bên (tức là bên bị thiệt hại) có đạt được mục đích của hợp
đồng hay không. Vi phạm không cơ bản là những vi phạm không ảnh hưởng đến
các điều khoản trọng yếu của hợp đồng, khi có vi phạm này xảy ra, bên bị vi phạm
không được áp dụng các biện pháp trách nhiệm tạm ngừng, đình chỉ, hủy bỏ hợp
đồng đối với bên vi phạm, mà chỉ áp dụng các biện pháp xử lý như buộc thực hiện
một bên, do hành vi vi phạm của bên thứ ba gián tiếp gây ra hành vi vi phạm này, có
nhiều quan điểm khác nhau về bên thứ ba (i) người đại diện theo pháp luật hoặc theo
ủy quyền một hoặc các bên trong hợp đồng (ii) bên được ủy quyền mà không phải là
người đại diện theo pháp luật của chủ thể hợp đồng (iii) bên có quan hệ hợp đồng
với một trong các chủ thể trong hợp đồng đang bị vi phạm9.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng
thương mại
Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng KDTM là hệ thống các biện pháp
có vai trò đảm bảo cho những cam kết trong hợp đồng được thực thi theo đúng quy
định của pháp luật, với chức năng giáo dục việc tuân thủ các quy phạm pháp luật về
hợp đồng KDTM, phòng ngừa các vi phạm phát sinh, khôi phục lại tình trạng của
8
Steven J. Burton, Principles of contract law, Thomson West Pulisher, tr.5
Vương Lợi Minh (2003), Lý thuyết trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, Đại học pháp chính Trung
quốc, (Phiên bản Tiếng Trung Quốc được dịch sang Tiếng Việt)
9
15
một bên đã bị xâm phạm10. Như vậy, BTTH do vi phạm hợp đồng KDTM là biện
pháp hữu hiệu điều chỉnh tính công bằng trong quan hệ hợp đồng giữa các thương
nhân khi có hành vi vi phạm xảy ra.
Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng KDTM là một loại trách nhiệm
trong trách nhiệm dân sự, nên chúng mang các đặc điểm chung của trách nhiệm
dân sự, khi dựa trên những đặc điểm về trách nhiệm dân sự, khi xem xét đặc điểm
của BTTH do vi phạm hợp đồng KDTM chúng ta nhận thấy có nhiều yếu tố ảnh
hưởng đến việc xác nhận đặc điểm của chúng, (i) xét về bản chất, loại trách nhiệm
này là một quan hệ pháp luật giữa các thương nhân trong đó có bên vi phạm và bên
chung, đó là trọng tài thương mại có thẩm quyền để áp dụng loại trách nhiệm này,
nhưng ví dụ như về trách nhiệm dân sự thì không do cơ quan này xét xử.
Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng KDTM được thực thi thông qua
một hệ thống các biện pháp trách nhiệm pháp lý được quy định trong phần chế tài của
bộ phận quy phạm pháp luật trong LTM bao gồm những biện pháp như buộc thực
hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, BTTH, tạm ngừng hợp đồng, đình chỉ hợp đồng,
hủy hợp đồng và một số biện pháp do các bên thỏa thuận khác.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do phạm hợp đồng khác với trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ở góc độ tính chất, cơ sở pháp lý, điều kiện phát sinh trách nhiệm và
mức bồi thường thiệt hại. Nếu trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng là trách nhiệm
mà người có hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng gây ra thiệt hại cho người khác
thì phải chịu trách nhiệm bồi thường những tổn thất do mình gây ra thì trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng là loại trách nhiệm dân sự chỉ đặt ra khi có thiệt hại
người có trách nhiệm bồi thường phải bồi thường thiệt hại đó. Trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh do sự vi phạm pháp luật cua một bên mà thiệt hại
xảy ra, có lỗi, có hành vi trái pháp luật, có mối quan hệ nhân quả của hành vi trái pháp
luật gây ra. Chủ thể chịu trách nhiệm trong vi phạm hợp đồng là bên tham gia hợp
đồng mà không thể là bên thứ ba, trong khi chủ thể chịu trách nhiệm của bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng là người có hành vi trái pháp luật; hoặc người khác như cha,
mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ đối với người giám hộ, pháp nhân đối
với người của pháp nhân,… Mức bồi thường của thiệt hại trong hợp đồng có thể thấp
hơn hoặc cao hơn mức thiệt hại xảy ra. Mức bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ
có thể được giảm trong một số trường hợp đặc biệt như: người gây thiệt hại có lỗi vô ý
và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của họ.
Từ những đặc điểm nói trên, ta có thể hiểu BTTH do vi phạm hợp đồng
KDTM như sau: Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng KDTM là hậu quả mà
17