BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
--------
VŨ THỊ HƢƠNG GIANG
ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC – NGỮ NGHĨA VÀ LẬP LUẬN
CỦA CÂU ĐỐ VỀ ĐỘNG THỰC VẬT
TRONG TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 9.22.90.20
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: 1. PGS. TS NGUYỄN THỊ LƢƠNG
2. PGS. TS PHẠM VĂN TÌNH
Hà Nội - 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả trong luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kì công
trình nào khác.
Tác giả
Vũ Thị Hƣơng Giang
MỤC LỤC
3.1. Đặc điểm các thành phần lập luận của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt .. 104
3.1.1. Đặc điểm thành phần kết luận của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt 105
3.1.2. Đặc điểm thành phần luận cứ của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt . 107
3.2. Cấu trúc lập luận của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt.................. 112
3.2.1. Cấu trúc lập luận tường minh ........................................................................... 113
3.2.2. Cấu trúc lập luận hàm ẩn ................................................................................. 114
3.3. Cơ sở lập luận của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt ....................... 116
3.3.1. Lập luận theo lẽ thường .................................................................................... 116
3.3.2. Lập luận theo tư duy sáng tạo riêng ................................................................. 117
3.4. Tiểu kết ................................................................................................................ 147
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 148
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ............................................................................. 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 152
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
69
76
77
79
90
94
98
tiếng Việt
14
3.1
Số lượng vật đố ở kết luận của câu đố về động thực vật trong
105
tiếng Việt
15
3.2
16
3.3
17
3.4
1.1. Văn học là nghệ thuật ngôn từ. Là một thể loại văn học dân gian nên câu
đố cũng được tạo ra từ chất liệu ngôn từ. Cùng với thành ngữ, tục ngữ, câu đố là
kho tàng bảo lưu giá trị văn hóa của dân tộc, cộng đồng. Từ lâu, nó đã đi sâu, chiếm
vị trí đáng kể, trở thành một món ăn quan trọng, không thể thiếu trong đời sống tinh
thần của người dân Việt. Tiếp cận thể loại văn học dân gian này từ góc độ ngôn ngữ
- văn hóa sẽ là cơ hội tốt để chỉ ra được bản sắc văn hóa của cộng đồng, bên cạnh
đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa, lập luận của câu đố. Đây cũng là hướng nghiên cứu
khá phổ biến, được ưa chuộng hiện nay: hướng nghiên cứu liên ngành, nghiên cứu
ngôn ngữ trong mối quan hệ với văn học, tâm lý học.
1.2. Đố - giải là một trong những hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, thường
xuyên diễn ra trong đời sống cộng đồng. Không đơn thuần chỉ là một trò chơi giải
trí thông thường, đó còn là một sân chơi trí tuệ bổ ích bằng ngôn từ - nhờ đó, với cả
người ra đố và giải đố; năng lực tư duy, cụ thể là năng lực phán đoán trên cơ sở suy
luận được rèn rũa, trau dồi; đồng thời khả năng sử dụng ngôn ngữ linh hoạt cũng
được rèn luyện. Nhiều câu đố đã được văn bản hóa, tồn tại với tư cách một văn bản.
Là văn bản nhưng văn bản câu đố lại có cấu trúc đặc biệt, so với các thể loại văn học
dân gian khác.
Câu đố là một loại đơn vị hết sức đặc biệt (Nó là một dạng “câu” đặc biệt và
cũng là một dạng văn bản đặc biệt). Được gọi là “câu” nhưng câu đố lại có cấu tạo ở
dạng văn bản, trọn vẹn và khép kín. Mặt khác, câu đố vốn là một loại hình văn bản
có phong cách chức năng ngôn ngữ khá độc đáo, vừa thể hiện đặc điểm của ngôn
ngữ văn học (văn học dân gian) lại vừa mang những nét đặc trưng của phong cách
ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày; vừa là một loại hình văn bản ngôn từ vừa là loại
hình văn hóa diễn xướng dân gian. Vì thế, nghiên cứu, tìm hiểu câu đố (kể cả phần
lời đố, lời giải hay phần diễn xướng) đều hứa hẹn có nhiều “đất” để khai thác; mang
lại những kết luận khoa học hấp dẫn, lí thú.
1.3. Cũng như các thể loại văn học dân gian khác, câu đố chủ yếu là sản phẩm
của quần chúng nông dân lao động nên ẩn số (để giải mã) thường là những gì thân
quen, gắn bó với đời sống của họ. Với nền văn minh nông nghiệp lúa nước, thế giới
Với những căn cứ trên, chọn đề tài Đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận
của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt để nghiên cứu, người viết mong muốn
góp thêm một cách nhìn về câu đố dưới ánh sáng của một số lý thuyết ngôn ngữ học.
3
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn:
- Làm rõ đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận của câu đố về động thực vật
trong tiếng Việt, để thấy được sự độc đáo của loại văn bản đặc biệt này dưới góc độ
ngôn ngữ học.
- Chỉ ra nét độc đáo về cấu trúc - ngữ nghĩa, lập luận và đặc trưng tư duy văn hóa,
triết lí dân gian qua câu đố về động thực vật trong tiếng Việt.
- Chỉ ra căn cứ - cơ chế giải mã để có thể giải đáp câu đố nhanh, đúng và
chính xác.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, chúng tôi xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể
như sau:
- Xác lập khung lý thuyết cho đề tài luận án (khái niệm câu đố, lý thuyết văn bản,
lý thuyết lập luận, vấn đề nghĩa chiếu vật (sở chỉ), quy chiếu, lý thuyết định danh)
- Khảo sát, phân loại câu đố căn cứ vào cấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận của chúng.
- Miêu tả, phân tích các loại câu đố, lần lượt ở các khía cạnh:
+ Chỉ ra đặc điểm cấu trúc của văn bản câu đố, mô hình hoá cấu trúc đồng
dạng của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt.
+ Làm rõ đặc điểm ngữ nghĩa: xem xét các mảng chủ đề được phản ánh, các
đặc điểm được chọn làm miêu tả tố trong lời đố (qua lời đố miêu tả trực tiếp).
+ Làm rõ đặc điểm lập luận của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt: Đặc
điểm các thành phần lập luận, cấu trúc lập luận và cơ sở lập luận.
- Tổng kết kết quả nghiên cứu bằng bảng biểu hoặc bằng cách nêu nhận định.
4.2. Thủ pháp nghiên cứu
(1) Thủ pháp thống kê, phân loại
Thủ pháp này được sử dụng để thống kê, phân loại câu đố theo tiêu chí đã định
trước (mô hình cấu trúc đồng dạng, các đặc điểm được chọn làm miêu tả tố, đặc điểm
các thành phần lập luận, cấu trúc lập luận, cơ sở lập luận của câu đố về động thực vật
trong tiếng Việt). Kết quả thống kê sẽ được tổng hợp dưới hình thức các bảng biểu,
giúp hình dung rõ hơn đặc trưng cơ bản về cấu trúc, ngữ nghĩa, lập luận của câu đố
về động thực vật trong tiếng Việt; làm cơ sở cho kết luận của luận án.
(2) Thủ pháp so sánh: tìm ra điểm chung và nét riêng (về cấu trúc - ngữ nghĩa
và lập luận) của câu đố về động vật và thực vật trong tiếng Việt.
5
5. Đóng góp mới của luận án
Đây là công trình khảo sát một cách hệ thống và chuyên sâu đặc điểm cấu
trúc – ngữ nghĩa và lập luận của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt.
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
Tìm hiểu Đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận của câu đố về động thực
vật trong tiếng Việt, tác giả luận án có những đóng góp sau:
6.1. Về lí luận
Luận án góp phần bổ sung, hoàn thiện thêm vào các kết quả nghiên cứu về câu
đố; góp thêm một cái nhìn mới về câu đố dân gian người Việt từ góc nhìn của ngôn
ngữ học (văn bản, lập luận, nghĩa chiếu vật (sở chỉ), định danh).
Các kết quả của đề tài sẽ góp phần củng cố hướng nghiên cứu cấu trúc ngữ
nghĩa, kết hợp với nghiên cứu lập luận đối với một loại hình diễn ngôn cụ thể là câu
đố trong tiếng Việt.
6.2. Về thực tiễn
Kết quả của đề tài sẽ góp phần nâng cao công tác biên soạn sách giáo khoa
tiếng Việt cho học sinh phổ thông (đặc biệt trong bối cảnh Bộ Giáo dục và Đào tạo
đang xây dựng chương trình và biên soạn bộ sách Ngữ văn mới), giáo trình giảng
những người yêu thích văn học dân gian đã dành sự quan tâm nhiều hơn cho thể loại này.
1.1.1.1. Nghiên cứu câu đố nói chung
Trước hết, chúng ta phải kể đến một số công trình chủ yếu mang tính chất sưu
tầm về câu đố, tiêu biểu: Câu đố Việt Nam (Thiên Lữ, Võ Hồng sưu tầm), Nxb
Thanh Hoá, 2000, Câu đố Việt Nam (Hồ Anh Thái biên soạn), Nxb Hải Phòng, Câu
đố Việt Nam (Ninh Viết Giao), Câu đố dân gian Việt Nam (Xuân Thu), Nxb Thanh
Niên, Hà Nội, 1998, Câu đố dân gian (Lữ Huy Nguyên, Trần Gia Linh, Nguyễn
Đình Chỉnh sưu tầm), Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 1989, Câu đố Việt Nam (Ninh Viết
Giao sưu tầm), Nxb Khoa học Xã hội, 1990, Câu đố Việt Nam (Nguyễn Văn Trung
biên soạn), Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1986; Câu đố người Việt (Triều Nguyên biên
soạn), Nxb Thuận Hoá, 2007. Nhìn nhận vai trò quan trọng của thể loại câu đố, viện
KHXH Việt Nam cũng đã cho ra đời bộ sưu tầm câu đố người Việt và câu đố các
dân tộc thiểu số: Tổng tập văn học dân gian người Việt, (tập 3, Câu đố), Tổng tập
văn học dân gian các dân tộc thiểu số.
Trong số các công trình kể trên, có ba công trình được chú ý nhiều hơn cả là
công trình của Ninh Viết Giao, Triều Nguyên và Nguyễn Văn Trung.
7
Ninh Viết Giao [36] khi tìm hiểu về Câu đố Việt Nam đã lí giải nguồn gốc ra
đời của câu đố, phạm vi đề tài, đặc điểm chủ yếu của nội dung và giới thiệu về một
số biện pháp nghệ thuật của câu đố. Tác giả đã nhận thấy vai trò và vị trí riêng của
thể loại này trong đời sống tinh thần của dân tộc. Nó đã đáp ứng được những yêu
cầu nào đó của nhân dân và có tác động, ảnh hưởng nhất định tới văn học viết. Ông
nhận thấy “Trong những lúc đố nhau, câu đố đã đem lại cho người bình dân Việt
Nam những tràng cười thoải mái không chỉ ở sự giảng được mà ngay ở bản thân câu
đố. Hầu như câu đố nào đọc lên, ta cũng thấy ngộ nghĩnh, hóm hỉnh, tươi mát, đôi
khi thấy tục tĩu nữa, song hiện thực sự vật, sự việc lại không tục tĩu chút nào” [36,
tr. 268]. Tác giả cũng xem xét những phương tiện nghệ thuật làm nên chất trí tuệ,
tính hài hước ở câu đố (ẩn dụ, phép so sánh, người hóa, vật hóa, thực vật hóa…).
khác nhau trong ẩn dụ của câu đố và tục ngữ, phân biệt hát đố và câu đố. Câu đố
được xem là “một phương tiện nhận thức, vừa thoả mãn được nhu cầu tri thức, vừa
thoả mãn được nhu cầu vui chơi, giải trí của nhân dân lao động”. [73, tr. 361].
Dễ nhận thấy, ở góc độ văn học, việc nghiên cứu câu đố nói chung khá
phong phú (khoảng 40 công trình) nhưng các tác giả chủ yếu đi vào sưu tầm, biên
soạn lại câu đố Việt Nam (11 công trình) và chú trọng bàn về nội dung hay đối
tượng phản ánh. Bên cạnh đó, còn có một số công trình nghiên cứu câu đố cho
những đối tượng cụ thể.
1.1.1.2. Nghiên cứu câu đố cho những đối tượng cụ thể
Tác giả Đinh Thị Thu Hương [70] trong luận văn thạc sĩ Câu đố Việt – Tày những
tương đồng và khác biệt đã chỉ ra các điểm giống và khác nhau giữa câu đố của
người Việt – người Tày. Qua việc so sánh câu đố của người Việt và người Tày về
các phương diện (thế giới vật đố, cách thức tư duy cũng như thể thơ, cách gieo vần);
tác giả luận văn đã khám phá những điểm tương đồng, khác biệt về văn hoá, phong
tục, đời sống kinh tế, xã hội của hai dân tộc Việt - Tày; giải mã và khám phá những
bản sắc trong nền văn hoá của hai dân tộc, nhờ chìa khóa là câu đố.
Nguyễn Thị Hường [71], trong luận văn tốt nghiệp đại học năm 2008 đã tìm
hiểu Không gian làng quê trong thế giới hình ảnh vật đố của câu đố người Việt. Ở
luận văn này, sau khi tìm hiểu vài nét khái quát về câu đố và vấn đề khảo sát các hình
ảnh thuộc không gian làng quê xuất hiện trong thế giới hình ảnh vật đố; tác giả đã
nghiên cứu không gian làng quê Việt Nam và một số đặc điểm nghệ thuật của câu
đố; qua đó giúp người đọc thấy được đời sống lao động, sinh hoạt, những quan
niệm, tâm tư, tình cảm của con người thời điểm thể loại này ra đời, từ đó có cái nhìn
khái quát về hình ảnh làng quê Việt Nam mọi thuở.
9
Trần Thị Lan (1996) [77] tìm hiểu Một số vấn đề về bản chất thể loại câu đố
Việt Nam với trẻ em. Theo tác giả, đề tài của câu đố luôn là “sự vật, hiện tượng cụ
thể, quen thuộc của thế giới xung quanh, những cái nhìn mà con người ta có thể
tập san Ngữ học trẻ đề cập tới ba loại thủ pháp chơi chữ trong câu đố: hiện tượng
đồng âm, hiện tượng đồng nghĩa (đồng nghĩa trực tiếp, đồng nghĩa gián tiếp) và
hiện tượng nói lái trong câu đố của người Việt. Trong bài “Nói lái trong câu đố
tiếng Việt” - Ngôn ngữ và đời sống, số 9 (17), tác giả đã đề cập đến cách sử dụng
biện pháp nói lái trong câu đố và tác dụng của nó.
11
Hay Nguyễn Thị Lê Vân [120] trong luận văn của mình cũng đã tìm hiểu Một
số biện pháp tu từ trong câu đố dân gian Việt, trong đó giá trị của biện pháp so
sánh, ẩn dụ, chơi chữ... đã được khẳng định.
Trong Đề tài NCKH cấp trường – Nghệ thuật chơi chữ trong câu đố dân gian
người Việt, Trương Chí Hùng [59] đã tập trung nghiên cứu nghệ thuật chơi chữ trong
câu đố dân gian người Việt: Chơi chữ bằng phương tiện ngữ âm và chữ viết,; chơi chữ
bằng phương tiện từ vựng, ngữ nghĩa; chơi chữ bằng phương tiện ngữ pháp; chơi chữ
bằng nói lái; chơi chữ dựa vào cứ liệu ngoài văn bản (cứ liệu văn học dân gian, cứ liệu
văn chương bác học), để thấy được chơi chữ trong câu đố dân gian người Việt vận
dụng hầu hết các tiềm năng ngôn ngữ đồng thời vận dụng linh hoạt các phương thức
chơi chữ dựa vào cứ liệu ngoài văn bản (cứ liệu văn học). Trên cơ sở đó, tác giả đã tiến
hành so sánh với chơi chữ trong ca dao dân ca và trong văn học viết.
1.1.2.2. Nghiên cứu ngữ nghĩa của câu đố
Phạm Văn Tình [113] trong Thông báo văn hóa dân gian, 2003, NXB Khoa
học Xã hội cũng đã chỉ ra Hiện tượng đồng dạng khác nghĩa và đồng nghĩa khác
dạng của câu đố. Tác giả bài viết đã chỉ ra điểm thú vị trong câu đố đó là nhiều câu
đố về những sự vật, hiện tượng khác nhau lại có cấu trúc giống nhau (đồng dạng
khác nghĩa) và ngược lại có nhiều câu đố có cấu tạo khác nhau được dùng để đố về
cùng một sự vật, hiện tượng (đồng nghĩa khá dạng). Đây cũng là những gợi ý để
chúng tôi tìm hiểu một số mô hình cấu trúc đồng dạng trong câu đố về động thực
vật trong tiếng Việt.
Võ Thị Kim Xoa [127] trong luận văn Câu đố dân gian của người Việt nhìn từ
cứ để hiểu nghĩa tường minh của phát ngôn vẫn còn là một hướng đi để ngỏ.
Tô Thị Phương Dung [28] trong luận văn Tiền giả định trong câu đố người
Việt đã tìm hiểu tiền giả định bách khoa và tiền giả định ngôn ngữ trong câu đố của
người Việt. Theo tác giả, tiền giả định bách khoa được phân loại thành 5 loại: tiền
giả định bách khoa về tự nhiên; tiền giả định bách khoa về con người; tiền giả định
bách khoa về văn hóa - xã hội; tiền giả định bách khoa về phương ngữ; tiền giả định
bách khoa liên quan đến hiểu biết về từ Hán - Việt. Còn tiền giả định ngôn ngữ gồm
tiền giả định từ vựng, tiền giả định cú pháp và tiền giả định đề tài. Dù xuất hiện ít
hơn nhưng loại tiền giả định này rất hữu hiệu trong Ị việc giúp người giải thu hẹp
được phạm vi vật đố.
Bùi Thị Thu Huyền [69] trong Câu đố dân gian của người Việt nhìn từ góc độ
ngôn ngữ học, đã nghiên cứu Câu đố dân gian người Việt nhìn từ bình diện hình
13
thức. Theo tác giả: xét theo thể loại văn bản, câu đố có dạng thơ và dạng lời nói
thông thường; xét theo lý thuyết cấu trúc hội thoại, câu đố có dạng một cặp trao –
đáp và dạng đoạn thoại; còn xét theo lý thuyết lập luận, lại có câu đố có luận cứ
tường minh và câu đố có kết luận hàm ẩn, câu đố có kết luận tường minh và câu đố
có luận cứ hàm ẩn. Ngoài ra, người viết còn đề cập đến số lượng luận cứ, kết luận
trong một lập luận; hiện tượng luận cứ đồng hướng lập luận trong câu đố; vai trò
của luận cứ trọng tâm trong lời đố có môtip giống nhau), đồng thời chỉ ra một số
căn cứ (căn cứ vào tri thức ngôn ngữ và tri thức về cuộc sống, căn cứ vào các tri
thức nền khác) và phương thức xây dựng câu đố dân gian người Việt (phương thức
đánh lạc hướng chiếu vật, phương thức thay thế - bổ sung)…
Nguyễn Thị Chiên [21] trong luận văn Biểu thức miêu tả chiếu vật trong câu
đố Việt Nam đã nêu ra các đặc điểm (đặc điểm hình thức, đặc điểm nội dung, một số
thủ pháp xây dựng biểu thức miêu tả chiếu vật) của biểu thức miêu tả chiếu vật;
đồng thời thấy được vai trò, chức năng của biểu thức này trong việc lập mã và giải
mã. Tác giả luận văn đã chỉ ra rằng: Về mặt hình thức, biểu thức miêu tả chiếu vật
sinh trưởng, sinh dục; nguồn gốc; phản ứng (trước tác động của môi trường, tự
nhiên, con người và loài vật khác); số lượng; mối quan hệ với loài vật khác; tính
tình; bản năng sinh vật học; giống; vị trí; trí khôn; mùi). Các đặc điểm này hầu hết
được sử dụng kết hợp với nhau, và càng có nhiều đặc điểm trong cùng một câu đố
thì bức tranh về con vật càng rõ ràng, chi tiết và cụ thể hơn. Ngoài ra việc sử dụng
tục ngữ, ca dao hoặc truyện cổ, truyện Kiều để tạo lời đố cũng được đề cập đến
trong bài viết. Các tác giả cũng chỉ ra chín cách thức liên tưởng, so sánh của người
Việt trong câu đố động vật: So sánh dựa trên sự giống nhau về hình thức; so sánh
dựa trên sự giống nhau về kích cỡ; so sánh đặc điểm cấu tạo cơ thể; so sánh dựa
trên sự giống nhau về màu sắc; so sánh đặc điểm tiếng kêu; so sánh đặc điểm số
lượng; so sánh đặc điểm về giống; so sánh đặc điểm môi trường sống; so sánh đặc
điểm về cách thức di chuyển. Từ đó, nhóm tác giả bài viết chỉ ra xu hướng quan sát,
mô tả, cách nhìn vật đố của người Việt.
Như vậy, cho đến nay, nghiên cứu câu đố có khá nhiều nhưng chủ yếu là khai
thác từ góc độ văn học, văn hóa dân gian, folklore và thường nặng về sưu tầm. Tuy
đưa ra nhận xét song đó chỉ là những gợi ý đối với người đọc. Nghiên cứu hệ thống
thể loại này dưới góc độ ngôn ngữ học chưa được khai thác triệt để. Vì trước đó, có
một số công trình Việt ngữ học nhưng lẻ tẻ (tìm hiểu hiện tượng đồng dạng khác
nghĩa, chơi chữ…) hay luận văn phân tích một phương diện nào đó (phương diện
15
tiền giả định, biểu thức chiếu vật, cách thức tri nhận, một số biện pháp tu từ…) dựa
trên một số câu đố tiêu biểu.
Về mặt cấu trúc hình thức, đã có một số bài viết về cấu trúc đồng dạng, nghệ
thuật chơi chữ; các dạng câu đố (xét theo thể loại văn bản: dạng thơ và dạng lời nói
và theo cấu trúc hội thoại: dạng một cặp trao – đáp và dạng đoạn thoại) … nhưng
chưa có công trình nào tìm hiểu đặc điểm cấu trúc câu đố với tư cách một văn bản.
Về mặt nghĩa, một số luận án đã tìm hiểu biểu hiện cụ thể của câu đố (Không
gian làng quê trong câu đố, biểu thức miêu tả chiếu vật, tiền giả định…) nhưng chưa
hiện tượng của thế giới khách quan theo lối nói chệch (nói một đằng hiểu một nẻo)”
[95, tr. 257]. Khái niệm này nhấn mạnh đến cách nói chệch trong câu đố.
Chú ý đến mặt cấu tạo, tác giả Triều Nguyên trong công trình nghiên cứu của
mình lại đưa ra cái nhìn về câu đố như sau: “Câu đố là một thể loại văn học dân gian,
gồm hai bộ phận: bộ phận lời đố và bộ phận lời giải (vật đố). Lời đố bằng văn vần
nhằm miêu tả vật đố một cách xác thực, hợp lẽ nhưng làm cho lạ hóa để khó đoán
nhận, lời giải nêu tên vật đố, là những sự vật, hiện tượng phổ biến, ai cũng từng biết,
từng hay” [92, tr. 28 – 29].
Câu đố được Nguyễn Văn Trung xem xét trên phương diện cấu tạo và xã hội. Về
phương diện cấu tạo, lời đố và lời giải là hai phần tạo nên cấu trúc của đối thoại câu đố.
Còn xét trên phương diện xã hội, câu đố là trò chơi dân gian bằng ngôn ngữ (hình ảnh,
từ và ý nghĩa…), có tác dụng thử tài suy đoán, nhằm mua vui, giải trí.
Theo Đỗ Bình Trị [118], câu đố là một thể loại văn học dân gian mà chức
năng chủ yếu là phản ánh sự vật, hiện tượng bằng phương pháp giấu tên và nghệ
thuật chuyển hóa (chuyển vật nọ thành vật kia), được dùng trong sinh hoạt tập thể,
để thử tài suy đoán, kiểm tra sự hiểu biết và mua vui, giải trí.
Với Vũ Anh Tuấn, “Câu đố là những sáng tác dân gian ngắn gọn, có vần
nhịp, nội dung thiên về miêu tả sự vật qua nghệ thuật “giấu tên” – nghệ thuật ẩn dụ
đặc biệt” [120, tr. 258].
Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt, thể loại này được định nghĩa là “câu văn vần mô
tả người, vật, hiện tượng một cách lắt léo hoặc úp mở, dùng để đố nhau” [126, tr. 126].
Ngoài ra, có thể kể đến một số cách định danh khác nhau về câu đố của các
nhà nghiên cứu đã được Trần Thị An điểm lại trong phần dẫn luận mở đầu cuốn
Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, tập 2, phần tục ngữ, câu
đố: “là một thể loại văn học dân gian” (Chu Xuân Diên, Hoàng Tiến Tựu), “một định
nghĩa ngược” (Ninh Viết Giao), “một định nghĩa bằng đối thoại”, (Nguyễn Văn
17
Trung), “vừa là nghệ thuật vừa là khoa học thường thức dân gian”, (Hoàng Tiến Tựu),
18
luận án này, câu đố - đối tượng nghiên cứu được xét trong tư cách của một văn bản
– một văn bản đặc biệt, hoàn chỉnh bao gồm cả lời đố và lời giải.
1.2.1.2. Đặc trưng thể loại
Mỗi thể loại văn học đều mang đặc trưng riêng. Là một thể loại văn học dân
gian, câu đố cũng có những nét đặc thù riêng có.
i. Câu đố - một trò chơi trí tuệ bằng ngôn từ
Đánh cờ, thả thơ, thi hát, đố - giải … là những trò chơi trí tuệ đầy thú vị trong
dân gian, song trò chơi trí tuệ trong câu đố lại mang những đặc điểm riêng:
a. Câu đố là một trò chơi ngôn ngữ được tạo ra từ cách nói lạ hóa, thách đố sự
thông minh và tài phán đoán của người giải. Vật đố có thể được miêu tả trực tiếp,
song phần lớn nó lại được miêu tả một cách gián tiếp thông qua các biện pháp tu từ
độc đáo như so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, vật hóa, ngoa dụ, chơi chữ; nhằm đánh lạc
hướng suy nghĩ của người giải đố. Điều này làm cho câu đố vừa hóc búa, khó đoán
lại vừa thú vị, hấp dẫn. Người ra đố và người giải đố, ngoài việc được đặt mình vào
“không gian trí tuệ, tư duy duy lý”, còn được đặt mình vào “không gian nghệ thuật, tư
duy thẩm mĩ, cảm xúc”. Đây chính là đặc trưng hấp dẫn về mặt tâm lí nghệ thuật, làm
nên cái hay, cái đẹp của câu đố mà không phải thể loại Folklore nào cũng có được.
b. Câu đố có tác dụng tạo cho con người một năng lực suy luận logic và khả
năng tưởng tượng.
Năng lực tưởng tượng là đôi cánh của hoạt động trí tuệ. Nó có thể giúp chúng
ta phát hiện mối liên hệ giữa các sự vật tưởng chừng chẳng có liên quan gì; khiến
tâm hồn ta có thể bay bổng, nghĩ đến những thứ rất mới, có khi rất lạ so với những
thứ đã có. Không ít trường hợp, cùng một sự vật lại được nhìn nhận một cách đa
diện, nhiều chiều trong cùng một lời đố hay trong nhiều lời đố khác nhau về chúng.
Điều này lí giải vì sao có thể có nhiều câu đố về một vật đố (Ví dụ, đố về quả bưởi:
(1) “Da đầy mụn, đầy rôm. Ruột đầy tôm, đầy tép. Dáng: khi tròn, khi dẹp. Ăn: khi
ngọt, khi chua” [125, tr. 86 – 87]; (2) “Không vê mà tròn” [125, tr. 87], hay “Một
bầu chứa rất nhiều tôm. Hạt tươi đốt cũng cháy bùng lửa hoa” [125, tr. 87]... ).
thể là chim bồ các [125, tr. 208] hoặc con ong [125, tr. 287 – 288].
Hơn nữa, bài toán đặc biệt ấy còn có linh hồn. Bởi nó có hình thức rất sinh
động và cho ta kết quả đôi khi thật bất ngờ. Ví dụ, đố về con ốc: (7) “Mồm bò
không phải mồm bò mà lại mồm bò” [125, tr. 265] hay đố về trái cau: (8) “Bắt đầu
20
đội nón. Chóp mặc áo xanh. Đi quanh một vòng. Thay đội nón bằng mặc áo trắng”
[125, tr. 90]... thì cách đố và lời giải quả là bất ngờ, thú vị. Chính điều này làm nên
sức hấp dẫn riêng cho câu đố.
Mỗi câu đố còn như một bài thơ nhỏ, xinh xắn, đáng yêu, được diễn đạt theo
cách diễn đạt của thơ ca, vần điệu hài hòa. Ở đó, các biện pháp tu từ như so sánh, ẩn
dụ, nhân hóa, phóng đại, chơi chữ… được sử dụng khá nhiều. Vì thế, ngoài tác
dụng rèn luyện tư duy, câu đố còn bồi dưỡng cho chúng ta năng lực thẩm mĩ, năng
lực cảm thụ văn học, năng lực sử dụng ngôn ngữ.
Có thể nói, câu đố là “một bài toán, không phải toán số, mà là toán văn học
(vận dụng hình ảnh, chữ nghĩa) có một trật tự luận lý chặt chẽ và hợp lý theo cách
riêng của câu đố” [119, tr. 17].
1.2.1.3. Chức năng
i. Chức năng nhận thức
Là một loại hình sáng tác folklore, sản phẩm của trí tuệ nhân dân, mục đích
của câu đố là phát triển và hoàn thiện trí tuệ cho con người. Vì thế, nhận thức là giá
trị không thể phủ nhận của thể loại này.
Trước hết, câu đố cung cấp cho chúng ta một vốn tri thức phong phú, đa dạng
về thế giới khách quan: kiến thức tự nhiên, xã hội. Đó là những nhận thức thông
thường về thế giới thiên nhiên và con người vô cùng gần gũi, thân thuộc quanh ta, là
cỏ cây, hoa lá, chim muông, đồ vật … thường ngày ta đã biết hoặc cũng có thể đôi
khi chưa để ý tới. Tuy chưa thật đầy đủ song hàng nghìn khách thể đã được mô tả
trong câu đố. Riêng về thế giới động thực vật, câu đố cũng đã cho chúng ta một vốn
hiểu biết phong phú về các loại chim, thú, côn trùng, động vật dưới nước, cây cỏ, hoa