Tập huấn Tiếng Anh tỉnh Thái Nguyên - Pdf 61

Một số vấn đề Đổi mới phơng pháp dạy học
môn tiếng anh trung học cơ sở
_______________________________________
Phần I. đề cơng tập huấn
Chủ đề 1: Định hớng đổi mới PPDH môn tiếng Anh THCS
1. Quan điểm đổi mới PPDH
2. Bản chất của tích cực hoá hoạt động học tập của HS trong dạy học ngoại
ngữ
3. Những căn cứ của đổi mới PPDH
4. Giải pháp đổi mới PPDH tiếng Anh THCS
5. Vận dụng một số PPDH theo định hớng đổi mới và sử dụng TBDH
Chủ đề 2: Kĩ thuật mở bài; Giới thiệu ngữ liệu mới; Luyện tập Ngữ
pháp
6. Mở bài Gây không khí học tập
7. Giới thiệu ngữ liệu mới
8. Luyện tập ngữ pháp
Chủ đề 3: Luyện kĩ năng Nói
9. Ba bớc luyện Nói
10. Ví dụ minh hoạ (Tiết dạy Nói, Unit 1, lớp 8)
Chủ đề 4: Luyện kĩ năng Nghe hiểu
11. Ba bớc luyện Nghe hiểu
12. Xem băng và thảo luận (Tiết dạy Nghe hiểu, Unit 2, lớp 9)
Chủ đề 5: Luyện kĩ năng viết
13. Ba bớc luyện Viết
14. Ví dụ minh hoạ (Tiết dạy viết, Unit 4, lớp 9)
Chủ đề 6: Luyện kĩ năng Đọc hiểu
15. Thực hiện 3 bớc dạy các kĩ năng (nói chung)
16. Ba bớc luyện Đọc hiểu
17. Xem băng và thảo luận (Tiết dạy Đọc hiểu, Unit 9, lớp 8)
Phụ lục 1: Vận dụng một số PPDH và sử dụng TBDH
Phụ lục 2: Giáo án minh hoạ: Giới thiệu ngữ liệu mới (Unit 8, lớp 6)

yếu để đánh giá kết quả học tập của học sinh là năng lực giao tiếp, năng lực
ứng xử bằng ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp cụ thể.
2. Bản chất của tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh trong dạy
học ngoại ngữ
Những biểu hiện tích cực đặc trng của học sinh trong hoạt động học tập bộ
môn ngoại ngữ đợc thể hiện ở những mặt chủ yếu sau:
Học sinh có nhu cầu tiếp thu kiến thức, kĩ năng, vận dụng kĩ năng để giao
tiếp, hứng thú làm việc với các tài liệu học tập.
Từ chỗ có nhu cầu tiếp thu kiến thức, rèn luyện và vận dụng kĩ năng trong
giao tiếp, học sinh sẽ tự giác học tập, chủ động huy động vốn kinh nghiệm
đã tích luỹ (vốn từ, quy tắc ngữ pháp, ) để bắt chớc, tái hiện, tìm tòi cách
ứng xử và ứng xử sáng tạo trong các tình huống giao tiếp.
Học sinh chủ động lựa chọn kiến thức và thao tác t duy thích hợp để có
những ứng xử ngôn ngữ cần thiết, phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp.
Học sinh biết bộc lộ nhận thức và sự hiểu biết của mình ra bên ngoài bằng
lời nói, bài viết thông qua ngoại ngữ.
Học sinh biết cách làm việc theo cặp, theo nhóm, hợp tác với bạn khi cần
thiết trong quá trình luyện tập ngôn ngữ theo yêu cầu và nhiệm vụ của thày
giao.
Học sinh biết cách tự học, biết chủ động trình bày những ý định của mình
thông qua giao tiếp nói hoặc viết.
Trên đây là một số nét biểu hiện chính của PPDH mới. Đây cũng chính là
những năng lực và phẩm chất mà ngời giáo viên cần phải hình thành và phát
triển ở học sinh trong quá trình học tập ngoại ngữ.
3. Nhng cn c ca i mi PPDH ngoi ng
i mi PPDH cn phi cn c vo c im ca mụn ngoi ng v c
im tõm sinh lý ca hc sinh:
3.1. Căn cứ vào đặc điểm của môn ngoại ngữ nói chung:
Quan điểm giao tiếp là quan điểm đặc thù của môn ngoại ngữ trong nhà
trờng. Quan điểm giao tiếp quy định tính giao tiếp của hoạt động dạy

Suy nghĩ nhanh nhạy trong nhận thức kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng,
ngữ pháp).
Khả năng tởng tợng linh hoạt, logic hơn; nhất là dễ dàng liên tởng và so
sánh sự giống nhau và khác nhau giữa ngoại ngữ với tiếng mẹ đẻ.
Khả năng ghi nhớ, tái hiện các mẫu lời nói và khả năng diễn đạt bằng ngoại
ngữ (tiếng Anh) lu loát và bền vững hơn, phản xạ ngôn ngữ nhanh.
Rất hứng thú và tích cực trong hoạt động luyện tập phát triển kĩ năng ngôn
ngữ, nhất là 2 kĩ năng nghe và nói, nhng cũng rất dễ chán nản trong việc
luyện tập phát triển các kĩ năng phức tạp, ví dụ nh kĩ năng đọc hiểu vì gặp
nhiều từ mới, trừu tợng và khó đoán nghĩa; hoặc nh kĩ năng viết vì cảm
thấy khó diễn đạt suy nghĩ, ý tởng cá nhân bằng ngôn ngữ viết.
Nhìn chung học sinh THCS tuy hào hứng, có ý thức muốn nắm bắt và sử
dụng đợc ngoại ngữ nhng khả năng độc lập trong học tập cha tốt (ví dụ:
còn rụt rè, không tự tin và sợ mắc lỗi trong khi nói). Học sinh ít có cơ hội
để luyện tập, hơn nữa lại thiếu kiên trì trong rèn luyện phát triển kĩ năng
ngôn ngữ nên kết quả học tập thờng bị hạn chế, dễ nản chí và bỏ cuộc. Vì
vậy các em cần phải thờng xuyên đợc sự khuyến khích, động viên kịp thời
của giáo viên, và đặc biệt cần có sự hỗ trợ của các phơng pháp dạy học
thích hợp để củng cố, ổn định và nâng cao hiệu quả học tập ngoại ngữ của
các em.
4. Gii phỏp i mi PPDH ting Anh trng THCS
PPDH ting Anh theo nh hng tớch cc hoỏ hot ng hc tp
Ngy nay, ngi ta c bit quan tõm ti vic ỏp dng phng phỏp Giao
tip vo quỏ trỡnh ging dy ting Anh. Giỏo viờn luụn luụn coi trng vic
hỡnh thnh v u tiờn phỏt trin cỏc k nng giao tip (nghe, núi, c v vit).
ng thi, vic cung cp kin thc ngụn ng (ng õm, t vng v ng phỏp)
l quan trng, gúp phn hỡnh thnh v phỏt trin cỏc k nng giao tip. Chớnh
vỡ vy, phng phỏp Giao tip, chng mc nht nh, ó phỏt huy c u
im ca nú, thc s giỳp cho hc sinh cú kh nng s dng c ting Anh
giao tip.

học và ở cuối sách giáo khoa. Các bài tập chuyên sâu về hình thái cấu trúc ngữ
pháp sẽ đợc luyện tập một cách có hệ thống trong sách bài tập kèm theo cuốn
sách giáo khoa.
Từ vựng cũng đợc xuất hiện tự nhiên theo các chủ đề nhằm đạt đợc mức độ
ngữ cảnh hoá cao, giúp học sinh dễ tiếp thu và nhớ lâu. Các bài tập sử dụng từ
vựng thờng đợc phối hợp với các bài tập ngữ pháp và các bài tập nghe, nói,
đọc, viết.
Ngữ âm đợc coi là một bộ phận mật thiết gắn liền với các hoạt động lời nói, đ-
ợc dạy và luyện tập gắn liền với việc dạy từ mới, dạy ngữ pháp, dạy nghe và
dạy nói.
Hệ thống các bài tập và hoạt động dạy học đợc thiết kế theo trình tự dạy học
đi từ giới thiệu ngữ liệu, luyện tập có hớng dẫn đến vận dụng.
Các bài tập và hoạt động dạy học chú trọng khuyến khích học sinh áp dụng
ngữ liệu đang học với các kiến thức có sẵn để diễn đạt các nội dung khác nhau
trong chính đời sống thực tế của các em. Hệ thống bài tập đặc biệt chú trọng
những nguyên tắc dạy học cơ bản trong quan điểm dạy học giao tiếp để biên
soạn các loại hình bài tập nh nguyên tắc chuyển đổi thông tin (information
transfer), nguyên tắc tạo khoảng trống thông tin (information gap), hay
nguyên tắc cá thể hoá (personalization), nhằm không những giúp học sinh nắm
đợc hệ thống cấu trúc ngữ pháp mà còn biết ứng dụng để diễn đạt các nội
dung giao tiếp trong các tình huống cụ thể trong đời sống thật của học sinh.
5. Vận dụng một số PPDH theo định hớng đổi mới
Trong dy hc ngoi ng ngi ta ỏp dng nhiu phng phỏp dy hc nh:
phng phỏp Ng phỏpDch, phng phỏp NgheNhỡn, phng phỏp Nghe
- Núi, phng phỏp Giao tip,
Di õy l trỡnh by túm tt v mt s phng phỏp dy hc ca b mụn
nhm giỳp cho giỏo viờn cú ti liu tham kho v cú th ỏp dng trong quỏ
trỡnh i mi phng phỏp dy hc trng trung hc c s.
5.1 Phng phỏp Ng phỏp Dch
Phng phỏp Ng phỏp Dch (Grammar Translation Method) hay cũn

thường xuyên vì sẽ tạo thói quen cho HS phải tư duy qua tiếng mẹ đẻ (tiếng
Việt) trước khi phát ngôn. Như vậy sẽ cản trở sự lưu loát (fluency) của HS
trong giao tiếp.
Ví dụ minh họa: Việc đánh giá kết quả học tập của HS thông qua các hoạt
động trả lời các câu hỏi về nội dung các bài khóa; dịch các bài khóa, các
đoạn văn trích (dịch sang tiếng Việt, và dịch ngược sang tiếng Anh); thực
hành các bài tập ngôn ngữ máy móc (thường là luyện tập các mẫu câu). GV
giữ vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học, có nhiệm vụ chuẩn bị bài khóa,
câu hỏi và các bài tập ngữ pháp, giảng giải qui tắc ngôn ngữ. HS được yêu
cầu tập đọc bài khóa, học thuộc lòng từ vựng, các đoạn văn mẫu và giải
thích một cách tường minh hiện tượng ngữ pháp.
5.2 Phương pháp Nghe – Nói
Về bản chất: Phương pháp Nghe - Nói (Audiolingual Method or Audio-Oral
Method) nhấn mạnh vào việc dạy kĩ năng nói và kĩ năng nghe trước kĩ năng
đọc và kĩ năng viết. Như vậy, khác với phương pháp Ngữ pháp – Dịch,
phương pháp này đáp ứng đúng mục tiêu cần đạt của người học là hình
thành và phát triển cả bốn kĩ năng, nhưng ưu tiên phát triển nói, nghe trước
đọc và viết.Việc cung cấp kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp)
được thực hiện xen lồng trong quá trình dạy học. Phương pháp Nghe-Nói
ngăn cấm việc dùng tiếng mẹ đẻ trong lớp; khuyến khích tối đa dùng tiếng
Anh trong quá trình dạy học.
Quy trình thực hiện:
Luôn luôn nhấn mạnh phát triển hai kĩ năng nói và nghe là chủ yếu. Việc
dạy học thông qua thực hành cấu trúc câu (structures) và qua các bài tập ứng
dụng, người học tự phát hiện và tìm hiểu những điểm giống nhau (so với
tiếng mẹ đẻ) về cấu trúc câu, cách phát ngôn và đưa ra các qui tắc ngôn ngữ.
Yêu cầu người học bắt trước mẫu do người dạy cung cấp, ví dụ: các bài/mẩu
đối thoại mẫu (dialogues) có chứa cấu trúc câu hoặc hiện tượng ngôn ngữ
cần truyền đạt. HS luyện tập mẫu đó thực chất là hình thành một thói quen
ngôn ngữ theo các hình thức như: hỏi và trả lời về bài đối thoại mẫu, thực

học hoặc HS đầu cấp THCS, GV nên chuẩn bị nhiều tranh ảnh để tạo tình
huống giao tiếp; chú ý tổ chức các hoạt động ngôn ngữ khác nhau như: trò
chơi, câu đố… để gây không khí thoải mái trong học tập cho các em.
Ví dụ minh họa:
HS tiểu học hoặc HS ở đầu cấp THCS có thể được nghe các mẫu đối thoại
chứa cấu trúc câu thông thường như hỏi và trả lời về thời tiết, ví dụ: What’s
the weather like? It’s cold (hot/sunny/rainy etc.). HS cần phải được GV làm
rõ ý nghĩa (bằng giải thích, cho ví dụ hoặc thậm chí phải dịch sang tiếng
Việt nếu cấu trúc câu không có trong tiếng mẹ đẻ, ví dụ: đại từ “it” dùng để
chỉ thời tiết) và hiểu được cách sử dụng cấu trúc câu, cách phát âm, ngữ điệu
câu hỏi (xuống giọng). HS có thể vận dụng hỏi-trả lời về thời tiết trong các
tình huống gợi ý (ví dụ: các tranh vẽ trời nóng/lạnh/ấm…) hoặc trong tình
huống thật ở các địa danh khác nhau dựa vào bản tin dự báo thời tiết trên
TV; ví dụ: What’s the weather like in Hanoi/Hue/ Ho Chi Minh City…?
It’s......
5. 3 Phương pháp Giao tiếp
Phương pháp Giao tiếp (Communicative Approach) hay còn gọi là Đường
hướng Giao tiếp được xem như phương pháp dạy học ngoại ngữ phổ biến
nhất và hiệu quả nhất hiện nay. Hầu hết các giáo trình, SGK phổ thông tiếng
Anh ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam đều được biên soạn dựa theo
quan điểm giáo học pháp của Phương pháp Giao tiếp. Phương pháp này do
các nhà ngôn ngữ ứng dụng người Anh phát triển hoàn toàn khác biệt với
phương pháp dựa trên nền tảng ngữ pháp của Phương pháp Truyền thống.
Về bản chất: Phương pháp Giao tiếp nhấn mạnh vào mục tiêu của việc học
ngôn ngữ - đó là năng lực giao tiếp (communicative competence). Người ta
coi năng lực ngôn ngữ là khả năng bẩm sinh của mọi con người bình thường.
Để giao tiếp được, phương pháp này đòi hỏi phải tính đến phương diện xã
hội, văn hóa của ngôn ngữ, các điều kiện xã hội của quá trình sản sinh ngôn
ngữ, và tính đến ngôn ngữ được dùng trong cuộc sống hàng ngày. Ngoài ra,
phương pháp Giao tiếp còn chú ý tới phương diện nghĩa của ngôn ngữ, hay

cuối cùng của quá trình dạy học. Các kiến thức ngôn ngữ như ngữ âm, từ
vựng và ngữ pháp là phương tiện, điều kiện hình thành và phát triển các kĩ
năng giao tiếp. Vì vậy, phương pháp Giao tiếp thực sự giúp cho HS có khả
năng sử dụng được tiếng Anh để giao tiếp.
Hạn chế:
Phương pháp Giao tiếp nhấn mạnh vào việc hình thành và phát triển 4 kĩ
năng ngôn ngữ: nghe, nói, đọc, viết trong quá trình dạy học, trong đó kiến
thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp) không được quan tâm một
cách thích đáng. Kết quả là một số HS cảm thấy khó có thể “giao tiếp” vì HS
làm sao có thể nghe, nói, đọc, viết được một khi các em không nắm chắc hệ
thống qui tắc ngôn ngữ. Mặt khác, theo quan điểm của phương pháp này,
quan hệ giữa ý định giao tiếp (bao gồm các hành động lời nói hay là các
chức năng ngôn ngữ học được) và hiện thực là quá phức tạp, không rõ ràng.
Nói một cách khác, người ta khó có thể lựa chọn các phát ngôn theo chức
năng phù hợp với nhu cầu giao tiếp thực tế đa dạng và rất phức tạp.
Một số lưu ý:
GV giữ vai trò là người hướng dẫn, tổ chức thùc hiện. HS đóng vai trò chủ
đạo trong quá trình dạy học; tức là phải phát huy cao độ tính tích cực của các
em trong luyện tập thực hành. Ở trường THCS (líp 8 vµ 9), HS cần tập trung
rèn luyện sâu từng kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Muốn thực hiện được, cá
nhân HS phải tích cực và tự giác tham gia thực hành, không sợ mắc lỗi, và
cần lưu ý rằng độ lưu loát ngôn ngữ (fluency) trong giai đoạn này là rất quan
trọng. Điều kiện tối thiểu để HS thực hành kĩ năng ngôn ngữ là mỗi lớp học
khụng quỏ ụng (khong 35 HS/lp); cú y thit b nghe nhỡn nh mỏy
cỏt-sột, bng/a CD, tranh tỡnh hung. Vic kim tra ỏnh giỏ kt qu hc
tp nờn nhn mnh vo 4 k nng, v mt phn nh kin thc ngụn ng.
Kim tra k nng ngụn ng luụn luụn c u tiờn trong bt k hỡnh thc
no.
Khi vn dng Phng phỏp Giao tip, GV cn lu ý:
19. Giảm thiểu tối đa thời gian nói trên lớp của GV, tăng thời gian sử dụng

luyện tập đối thoại trực tiếp theo cặp (đóng vai Lan và người giám khảo).
Mục đích là củng cố hình thái loại câu hỏi trực tiếp cho HS trước khi cho các
em luyện tập đổi sang câu hỏi gián tiếp.
Bước tiếp theo là hoạt động giao tiếp mang tính tự do hơn. GV có thể yêu
cầu HS dựa vào bài đối thoại giữa Lan và người giám khảo để đóng vai Lan
và Paola tập nói lại nội dung các câu hỏi trực tiếp đó ở dạng câu hỏi gián
tiếp (như bài đối thoại trong phần giới thiệu ngữ liệu).
Để tăng cường giao tiếp ở mức hoàn toàn tự do (mang tính sáng tạo), GV có
thể yêu cầu HS luyện tập phỏng vấn theo cặp theo các tình huống do giáo
viên gợi ý; sau đó HS đại diện cho mỗi cặp tường thuật lại các câu hỏi ở
dạng gián tiếp.
Như vậy, ví dụ trên cho thấy việc dạy kiến thức ngôn ngữ (câu hỏi gián tiếp)
được giới thiệu thông qua tình huống giao tiếp, vừa đảm bảo việc truyền tải
được hiện tượng ngôn ngữ theo văn cảnh có nghĩa, vừa bám sát nội dung
chủ đề của bài học. Điều quan trọng là HS được luyện tập và có thể vận
dng vo cỏc tỡnh hung giao tip tng t.
Sử dụng thiết bị dạy học (xem phụ lục 1)
Chủ đề 2: kĩ thuật mở bài, giới thiệu ngữ liệu mới,
Luyện tập ngữ pháp
1. Mở bài - Gây không khí học tập
Để có đợc một giờ dạy thành công, ngay ở bớc hoạt động đầu tiên của một giờ
dạy là bớc mở bài, giáo viên cần tạo ra đợc một không khí học tập thuận lợi về
cả mặt tâm lý lẫn nội dung cho hoạt động dạy học tiếp theo đó.
Những hoạt động gây không khí học tập này thờng rất ngắn (5 -7 phút) nhng
vô cùng quan trọng. Vậy mở bài nên làm những gì và làm thế nào để có thể
thực hiện đợc các mục đích đó?
1.1. Các hoạt động mở bài
Các hoạt động mở bài nhằm một số mục đích sau:
ổn định lớp, cho phép học sinh có một thời gian để thích nghi với bài
học mới;

1.2.2. Chuẩn bị tâm lý và kiến thức cho bài học mới
a) Khai thác kiến thức đã biết của học sinh bằng thủ thuật gợi mở (eliciting),
hay nêu vấn đền để cả lớp đóng góp ý kiến (brainstorming).
b) Liên hệ những vấn đề của bài cũ có liên quan đến bài mới, có thể bằng các
hình thức khác nhau nh:
hỏi các câu hỏi có liên quan;
ra bài tập về các nội dung đã học có liên quan;
sử dụng một trong những hoạt động gây hứng thú và ổn định lớp
(kể trên), dùng vốn kiến thức và nội dung bài cũ;
c) Tạo ngữ cảnh, tình huống hoặc các cớ/lý do giao tiếp (Communicative
needs) cho các hoạt động tiếp theo của bài. Có thể dùng các hình thức nh:
giáo cụ trực quan (đồ vật, tranh, bu ảnh..)
các mẩu chuyện có thật hoặc tự tạo
các bài đọc ngắn
các bài tập hoặc câu hỏi, vv
Lu ý:
Trong thực tế, những hoạt động và thủ thuật dùng cho phần mở bài có thể
cùng một lúc đáp ứng đợc nhiều mục đích khác nhau. Vì vậy, giáo viên nên
tìm cách sáng tạo để có đợc một cách vào bài sao cho cùng một lúc có thể
đáp ứng đợc nhiều nhiệm vụ đặt ra ở phần mở bài. Ví dụ, ngay khi bớc vào
lớp, giáo viên có thể bắt đầu bài bằng một hoạt động nêu vấn đề và giải
quyết vấn đề (problem- solving), hoặc khai thác vốn kiến thức có sẵn của
cả lớp về một nội dung có liên quan đến bài cũ và bài mới (brainstorming).
Bằng cách đó, giáo viên đã cùng một lúc gây đợc sự chú ý, gây hứng thú
cho bài học, ổn định đợc lớp, kiểm tra, ôn lại đợc bài cũ, đồng thời cũng đã
giúp cho học sinh chuẩn bị đợc tâm lý và kiến thức cần thiết cho bài mới.
Nh đã đề cập, mục đích của các hoạt động mở bài là để học sinh làm
quen và cảm thấy hứng thú với chủ đề sắp học trong bài, đồng thời ôn
luyện lại những kiến thức đã học có liên quan đến bài mới hoặc để giáo
viên tạo những nhu cầu giao tiếp cần thiết cho các hoạt động của bài

chỉ là việc thày giải thích nghĩa của từ mới (mà phần lớn giáo viên thờng thực
hiện bằng cách cho nghĩa tiếng Việt) và giải thích các quy tắc ngữ pháp và các
mẫu câu. ở phần này, ngời giáo viên còn cần phải đồng thời làm rõ cách sử dụng
của các mẫu câu hoặc từ mới đó trong ngữ cảnh. Chỉ khi đợc giới thiệu trong ngữ
cảnh, nghĩa và cách sử dụng của các ngữ liệu cần dạy mới đợc làm sáng tỏ. Nh
vậy, nội dung cần giới thiệu ở bớc giới thiệu ngữ liệu là:
Đ Hình thái (Form: pronunciation; spelling; grammar)
Đ Ngữ nghĩa (Meaning)
Đ Cách sử dụng (Use)
Một đặc điểm nổi bật của phơng pháp mới trong việc giới thiệu ngữ liệu là phơng
pháp mới rất chú trọng tới việc phải làm sao cho học sinh tiếp thụ bài học không
chỉ qua nghe thụ động mà còn đợc vận động trí óc, chủ động tham gia vào quá
trình của họat động này qua nhiều hoạt động ngôn ngữ khác nhau.
Có nhiều cách/ thủ thuật giới thiệu ngữ liệu. Sau đây là một số thủ thuật giới
thiệu ngữ liệu mà các giáo viên có thể tham khảo để ứng dụng cho bài dạy cụ thể
của mình.
2.1. Các thủ thuật tạo dựng tình huống. (setting up situations/ contexts)
a). Dùng môi trờng, đồ vật thật trong lớp, trong trờng;
b). Sử dụng những tình huống thật trong lớp;
c). Dùng các tình huống thật trong đời sống thật của hoc sinh;
d). Dùng các câu chuyện có thật, các hiện tợng thật trong thực tế;
e). Sử dụng các bảng biểu, bản đồ, bảng tin, báo chí;
f). Sử dụng tranh, ảnh, giáo cụ trực quan;
g). Sử dụng ngôn ngữ học sinh đã biết;
h). Sử dụng các bài hội thoại ngắn;
i). Sử dụng tiếng mẹ đẻ;
k). Phối hợp một hay nhiều cách trên.
2.2. Giới thiệu hình thái ngôn ngữ
Sau khi dùng ngữ cảnh để giới thiệu nghĩa và cách dùng của các mục dạy, lúc này
giáo viên có thể làm rõ hình thái cấu trúc, các quy tắc ngữ pháp nếu có để học

5) Lặp lại tơng tự bớc 2 hoặc cho học sinh tái tạo theo gợi ý.
6) Kiểm tra mức độ hiểu bài của học sinh sử dụng các thủ thuật kiểm tra hiểu
nh gợí ý ở mục 2.3.
Khi giáo viên nhận thấy học sinh đã làm tốt đợc bớc 6. thì có thể chuyển sang
phần luyện tập sáng tạo hơn với các loại bài tập mang tính giao tiếp hơn.
Tuy nhiên, cần phải lu ý rằng không phải lúc nào việc giới thiệu ngữ liệu cũng
phải tuân theo tuần tự tiến trình trên. Ví dụ, ngay sau bớc 2. nếu giáo viên cảm
thấy học sinh đã hiểu và có thể làm tốt các bài tập tái tạo thì có thể chuyển ngay
sang bớc 6. Hoặc công việc của bớc 3. cũng có thể để lui lại để thực hiện vào cuối
bài ở bớc củng cố bài, sau khi học sinh đã làm các bài tập thực hành.
2.5. Giới thiệu từ vựng - Những điểm lu ý thêm
Tiến trình giới thiệu ngữ liệu đợc trình bày ở trên có thể đợc coi là tiến trình
chung cho việc giới thiệu ngữ liệu mới. Tuy nhiên, cách giới thiệu từ vựng cũng
có những đặc thù riêng. Phần này sẽ trình bày một số điểm cần lu ý khi giới thiệu
từ mới.
2.5.1. Chọn từ để dạy
Thông thờng trong một bài học sẽ luôn luôn có từ mới. Song không phải từ mới
nào cũng cần đa vào dạy nh nhau. Để lựa chọn từ để dạy, giáo viên cần xem xét
các câu hỏi sau:
a) Từ chủ động hay từ bị động?
Đ Từ chủ động (active/ productive vocabulary) là những từ học sinh hiểu,
nhận biết và sử dụng đợc trong giao tiếp nói và viết.
Đ Từ bị động (passive/ receptive vocabulary) là những từ học sinh chỉ hiểu
và nhận biết đợc khi nghe và đọc.
Cách dạy hai loại từ này có khác nhau. Từ chủ động liên quan đến cả 4 kỹ năng
nghe, nói, đọc, viết, cần đầu t thời gian để giới thiệu và luyện tập nhiều hơn, đặc
biệt là cách sử dụng. Với từ bị động, giáo viên có thể chỉ dừng lại ở mức nhận

Trích đoạn Luyện tập ngữ pháp Ba bớc luyện nó Ví dụ minh hoạ: tiết dạy Nói – Unit 1, lớp 8 (Xem phụ lục 4) Xem băng (Unit 2– Grade 9) và thảo luận Chủ đề 5: Luyện kĩ năng viết
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status