CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM HÓA HỌC VÔ CƠ TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO PHƯƠNG PHÁP PHÁT HIỆN VÀ GIẢI
QUYẾT VẤN ĐỀ NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY SÁNG TẠO
CỦA HỌC SINH
Nhóm tác giả
Họ và tên
Chức vụ
1. Nguyễn Văn Thắng
P. HT – Trường THPT Gia Viễn A
2. Lã Thị Bích Hằng
Giáo viên – Trường THPT Hoa Lư A
Ninh Bình, tháng 10 năm 2018
1
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Trình độ
chuyên
môn
Nguyễn Văn 3/12/1982
Thắng
Phó Hiệu Thạc sĩ
trưởng
Hóa học
Lã Thị Bích
Hằng
Giáo
viên
ĐHSP Hóa
học
Tỷ lệ (%) đóng
góp vào việc
tạo ra sáng
kiến
50
50
Là đồng tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: “Thiết kế và sử dụng thí
Một số ví dụ điển hình như:
+ Khi học về tính axit – bazơ của các chất, để biết được dung dịch NH3 có tính
bazo thì học sinh hoặc là được thông báo về tính chất của nó hoặc là nhìn hình vẽ
trong sách giáo khoa để lý giải lại kiến thức vừa được học. Như vậy không phát huy
được năng lực của học sinh và không gây hứng thú học tập. Muốn học một cách tích
cực thì học sinh phải được kiểm chứng cụ thể bằng thí nghiệm và qua đó giải thích
được vì sao trong phân tử không có nhóm OH nhưng nó lại là một bazo.
+ Chứng minh tính lưỡng tính của Al(OH)3 học sinh chấp nhận Al(OH)3 tan
được trong kiềm nhưng cũng không được kiểm chứng.
+ Khi giảng về cách nhận biết glixerol. Giáo viên giảng khi cho Cu(OH)2 vào
dung dịch glixerol tạo thành phức có màu xanh đặc trưng ( xanh thẫm) do sự tạo thành
phức đồng (II) glixerat. Nhưng học sinh không hình dung được màu xanh thẫm đó là
màu như thế nào? Nó có khác gì so với màu xanh của ion Cu2+ trong dung dịch? Nếu
giáo viên chỉ cần cho học sinh quan sát được thí nghiệm trên thì ngay lập tức học sinh
thấy được màu xanh thẫm, học sinh sẽ ghi nhớ lại và khi gặp vấn đề tương tự học sinh
sẽ nhớ ngay đến kiến thức cũ. Nếu học sinh tiếp thu kiến thức thiếu chính xác và thiếu
vững chắc thì các em sẽ rất mơ hồ về các phản ứng và các hiện tượng kèm theo của
mỗi phản ứng đó. Mỗi học sinh có một khả năng tưởng tượng khác nhau, do đó nếu
giáo viên mô tả hiện tượng bằng lời, mỗi học sinh sẽ hình dung một cách khác nhau
và có thể khác xa so với thực tế. Các em sẽ khó hiểu bài vì không có những biểu
tượng rõ ràng, cụ thể về các chất, các hiện tượng hóa học. Học sinh sẽ nhanh quên khi
không hiểu bài, không có ấn tượng sâu sắc bằng các hình ảnh cụ thể. Hình ảnh cụ thể
thường dễ nhớ hơn so với ngôn ngữ trừu tượng, đặc biệt là đối với học sinh trung học.
3
Mặt khác, trong các giờ thực hành giáo viên thường áp dụng các hình thức tổ
chức một giờ thực hành Hóa học theo phương pháp: Nghiên cứu nội dung thí nghiệm
trong sách giáo khoa để trả lời câu hỏi; quan sát hình ảnh, tranh vẽ, mô hình, sơ đồ...;
- Khó áp dụng vì kiến
thức lĩnh hội trừu tượng.
Đàm thoại ( hỏi
- đáp)
- Học sinh làm việc tích cực, độc
lập, tiếp thu bài tốt.
- Thông tin hai chiều.
- Tốn thời gian.
- Giáo viên rất dễ bị động
khi học sinh hỏi lại
Nghiên cứu
- Học sinh tự học, tích cực, sáng tạo
cao nhất.
- Học sinh tiếp thu kiến thức sâu
sắc, vững chắc
- Tốn thời gian.
- Chỉ áp dụng được với
một số nội dung của bài
học.
- Học sinh tập trung chú ý, dễ tiếp
thu bài, khắc sâu kiến thức.
- Phụ thuộc vào điều kiện,
hiểm, độc hại
Sử dụng bài tập
- Học sinh tích cực, tự lực, sáng tạo, - Ít sử dụng được khi dạy
nhớ lâu.
kiến thức mới.
- Rèn kỹ năng vận dụng kiến thức
để giải quyết vấn đề.
- Tốn thời gian.
3.2. Giải pháp mới đã và đang triển khai có hiệu quả
Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy khi giảng dạy một lớp mà không sử
dụng thí nghiệm theo hướng dạy học tích cực thì hiệu quả tiếp thu của học sinh bị hạn
chế rất nhiều, còn những lớp sử dụng thí nghiệm theo hướng dạy học tích cực thì hiệu
quả tiếp thu bài của học sinh tích cực, học sinh tiếp thu bài tốt, dễ hiểu, hứng thú và
đặc biệt khắc sâu được kiến thức trọng tâm cần đạt được.
Để khắc phục và hạn chế những nhược điểm của giải pháp cũ chúng tôi xin
trình bày giải pháp: “Thiết kế và sử dụng thí nghiệm Hóa học vô cơ trường trung học
phổ thông theo phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề nhằm phát triển năng lực
tư duy sáng tạo của học sinh”.
3.2.1. Qui trình thiết kế thí nghiệm theo phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề
Điểm mấu chốt của phương pháp là cần tạo được mâu thuẫn nhận thức.
Thường giáo viên dùng thí nghiệm để tạo mâu thuẫn nhận thức với kiến thức đã có
của học sinh và thông qua việc phân tích hiện tượng của thí nghiệm, cấu tạo chất mà
rút ra kiến thức mới, giải quyết mâu thuẫn nhận thức lúc đầu.
Dựa trên những định hướng lựa chọn nội dung thí nghiệm để phát hiện và giải
quyết vấn đề. Chúng tôi xin đề xuất 5 bước sau:
quyết vấn đề, chúng tôi đã thiết kế được 8 thí nghiệm trong chương trình hóa học lớp
10, 11, 12 trường THPT.
VD: Thí nghiệm nhôm tác dụng với dung dịch NaOH (Bài 27: Nhôm và hợp chất của
nhôm- SGK12- Ban cơ bản)
* Đặt vấn đề
Mâu thuẫn: Giáo viên cho học sinh tiến hành thí nghiệm gây mâu thuẫn sau:
+ Thí nghiệm 1: Cho thanh nhôm vào ống nghiệm 1 đựng nước cất, đun nóng
ống nghiệm một lúc và quan sát.
Hầu như không thấy có hiện tượng gì.
+ Thí nghiệm 2: Làm thí nghiệm tương tự như thí nghiệm 1, nhưng nhỏ thêm
vào ống nghiệm vài giọt dung dịch NaOH, rồi đun nóng, học sinh nhận ra ở thí
nghiệm này có hiện tượng bọt khí thoát ra rất mạnh.
* Phát hiện vấn đề
- Thanh nhôm hầu như không tác dụng với nước do có lớp màng oxit bảo vệ,
nhưng khi tiếp xúc với dung dịch bazo mạnh nhôm lại phản ứng mãnh liệt. Điều đó
phải chăng thanh nhôm đã tác dụng trực tiếp với dung dịch NaOH để giải phóng khí
hidro?
* Giải quyết vấn đề
6
- Theo như kiến thức đã học về hidroxit lưỡng tính, học sinh biết Al(OH)3 có
tính lưỡng tính, mặt khác Al2O3 cũng có tính lưỡng tính. Vậy khi tiếp xúc với dung
dịch NaOH, trước tiên bề mặt oxit Al2O3 sẽ bị phá vỡ theo phương trình phản ứng:
Al2O3 + 2NaOH → 2NaAlO2 + H2O
( 1)
Lúc này bề mặt của nhôm không còn lớp màng bảo vệ ( nhôm nguyên chất) do
đó nó sẽ tác dụng với nước: 2Al + 6H2O → 2Al(OH)3 + 3H2 (2)
- Al(OH)3 được hình thành lại tiếp tục bị hòa tan bởi dung địch NaOH:
những sản phẩm nào? Có giống với sản phẩm đã biết không?
7
- Như vậy ngoài các tính chất đã biết, chất đang nghiên cứu còn có những tính
chất gì khác không?
* Bước 3: Xác định phương hướng giải quyết - nêu giả thuyết ( đây là bước
quan trọng để phát triển năng lực tư duy của học sinh)
Đặt các câu hỏi sáng tạo để học sinh đề xuất các phương án giải quyết. Câu hỏi
đánh giá để chọn các phương án giải quyết, trong khi thực hiện kế hoạch giải quyết
vấn đề có thể đặt các câu hỏi phân tích, so sánh,...
- Giáo viên yêu cầu học sinh nhắc lại điều kiện của 2 thí nghiệm đã trình bày
hoặc biểu diễn lại thí nghiệm đó.
- Xác định sản phẩm của phản ứng trong thí nghiệm thứ hai. Để giải quyết
được vấn đề này, giáo viên yêu cầu học sinh căn cứ vào những dấu hiệu đã quan sát
được để tổng hợp, phân tích, so sánh, rồi phán đoán xem chất mới là chất gì. Cũng có
thể dùng các phản ứng hóa học đặc trưng để nhận biết, sau đó viết phương trình phản
ứng xảy ra.
- Để xác định được tính chất khác của chất nghiên cứu trong điều kiện mới,
giáo viên yêu cầu học sinh dựa vào các kết luận về chất mới tạo thành và phương trình
phản ứng, từ đó xác định sự biến đổi số oxi hóa, xác định trung tâm phản ứng là
nguyên tử hay ion nào? Từ đó xác định những tính chất khác của nguyên tố ( hay chất
phản ứng ) ở điều kiện mới là gì?
* Bước 4 và 5: Lập kế hoạch và giải theo giả thuyết
- Vấn đề 1: Phản ứng ( thí nghiệm ) 2 được tiến hành trong điều kiện: nhiệt độ,
nồng độ, áp suất, chất xúc tác,...
- Vấn đề 2: Chất mới sinh ra ở thí nghiệm 2 có trạng thái, màu sắc, mùi,...
Chất mới sinh ra có phản ứng đặc trưng với...
Chất mới sinh ra làm chất chỉ thị... đổi màu...Vậy chất đó là...Phương trình
III. Chuỗi các hoạt động
1. Giới thiệu chung:
2.Thiết kế chi tiết từng hoạt động.
2.1. Hoạt động trải nghiệm kết nối (03 phút)
a. Mục tiêu
b. Phương thức tổ chức
2.2. Hoạt động hình thành kiến thức mới.
Hoạt động 1: Tìm hiểu về khái niệm ( 2 phút)
Hoạt động 2: Tìm hiểu về ăn mòn hóa học. ( 6 phút)
Mục tiêu hoạt động: Học sinh nắm được khái niệm ăn mòn hóa học.
Phương thức tổ chức
Hoạt động của học
Đánh giá
hoạt động
sinh và sản phẩm học sinh
kết quả hoạt động
- Giáo viên sử dụng thí nghiệm
theo phương pháp phát hiện và
giải quyết vấn đề để giúp HS
giải quyết câu hỏi số 2 trong
phiếu học tập số 1:
- Thông qua quan
9
Đặt vấn đề và phát hiện vấn
- Học sinh tiến hành thí sát, GV nhắc học
thảo luận để giải quyết vấn đề - Hs tìm hiểu SGK, thảo luận
trong câu hỏi 2 của phiếu học và đưa ra câu trả lời.
tập số 1
- GV thông báo thí nghiệm
trên nói đến hiện tượng lá kẽm
của các nhóm về
kết quả của thí
nghiệm số 1 giáo
viên giúp học
sinh tìm ra chỗ sai
bị ăn mòn hóa học.
- Bản chất của sự ăn mòn hóa
cần điều chỉnh và
chuẩn hóa kiến
học
tập:
học là gì?
thức
- Ăn mòn hóa học thường xảy - Học sinh lấy các ví dụ trong
ra ở đâu? Cho ví dụ?
thực tế mà kim loại bị oxi
hóa: kiềng bếp đun lâu ngày
bị gỉ, ống bô xe máy, vỉ
nhìn thấy, cảm nhận thấy được. Vì thế chất lượng giáo dục được nâng lên, đáp ứng
được phần nào tính áp lực và ngại học môn Hóa Học hiện nay.
V. Điều kiện và khả năng áp dụng
4.1. Điều kiện áp dụng
- Về điều kiện cơ sở vật chất: Nhà trường phái đảm bảo về cơ sở vật chất như
máy chiếu, có phòng học chức năng như phòng thực hành hóa học có đầy đủ dụng
dụng và hóa chất.
- Đối với ban giám hiệu: Luôn quan tâm chú trọng đến việc nâng cao chất
lượng học và hàng năm nhà trường phải có kế hoạch và tạo điều kiện để cho đội ngũ
giáo viên trường thực hiện đổi mới phương pháp dạy học
- Đối với giáo viên:
+ Khi soạn bài, giáo viên phải đầu tư nhiều công sức và thời gian để thực hiện
trên lớp với đúng vai trò của mình.
+ giáo viên phải tích cực tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ.
+ giáo viên cần coi trọng việc chuẩn bị những câu hỏi đặc biệt, những câu hỏi
có yêu cầu cao về nhận thức có thể cho học sinh thảo luận nhóm.
- Đối với học sinh:
+ Phải chuẩn bị bài trước ở nhà, đọc thêm các sách tham khảo để nâng cao vốn
hiểu biết.
+ Tham gia nhiệt tình, tự giác vào các hoạt động học tập.
+ Mạnh dạn trình bày những hiểu biết, suy nghĩ của mình trước tập thể..
11
5.2. Khả năng áp dụng
- Sáng kiến này được áp dụng trong việc dạy học môn Hóa học các lớp 10, 11,
12 trong các trường THPT.
Trên đây là nội dung cơ bản của sáng kiến: “Thiết kế và sử dụng thí nghiệm
Hóa học vô cơ trường trung học phổ thông theo phương pháp phát hiện và giải
- Các khái niệm: Sự ăn mòn kim loại, ăn mòn hóa học, ăn mòn điện hóa, các biện
pháp bảo vệ kim loại khỏi bị ăn mòn.
* Học sinh hiểu được:
- Điều kiện xảy ra sự ăn mòn kim loại. Cơ chế của ăn mòn điện hóa học.
b. Kĩ năng
- Phân biệt được ăn mòn hoá học và ăn mòn điện hoá ở một số hiện tượng thực tế (
đây là phần trọng tâm của bài).
- Sử dụng và bảo quản hợp lí một số đồ dùng bằng kim loại và hợp kim dựa vào
những đặc tính của chúng.
- Quan sát, nêu hiện tượng, giải thích hiện tượng khi làm thí nghiệm.
c. Thái độ
- Nhận thức được tác hại nghiêm trọng của sự ăn mòn kim loại, nhất là nước ta ở vào
vùng nhiệt đới gió mùa, nóng nhiều và độ ẩm cao. Từ đó, có ý thức và hành động cụ
thể để bảo vệ kim loại, các công trình giao thông, công trình xây dựng, tuyên truyền
và vận động mọi người cùng thực hiện nhiệm vụ này.
13
- Giáo dục đức tính cẩn thận, chính xác khi sử dụng hóa chất và tiến hành thí nghiệm.
- Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, các công trình, đồ vật và vật dụng bằng kim loại
và hợp kim.
2. Năng lực cần hướng tới
a. Năng lực chung
- Năng lực tự học
- Năng lực hợp tác
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ
b. Năng lực chuyên biệt
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học: tên các hợp chất hóa học và các ion.
- Năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào cuộc sống: cách bảo quản, sử dụng hợp lý
Gồm 2 tiết trên lớp, thời gian còn lại chủ yếu các em làm việc theo nhóm ngoài
giờ học chính và làm việc ở nhà.
- Tiết 1: giáo viên giúp học sinh hiểu được Các khái niệm: ăn mòn kim loại, ăn mòn
hoá học, ăn mòn điện hoá, điều kiện xảy ra sự ăn mòn kim loại, cơ chế của ăn mòn
điện hóa học trong khoảng 30 phút. Thời gian còn lại của tiết học các em làm việc theo
nhóm thảo luận các vấn đề mà dự án đưa ra và lựa chọn vấn đề nghiên cứu.
- Tiết 2 : Các nhóm báo cáo về sản phẩm của nhóm mình, mỗi nhóm báo cáo tối đa
trong 9 phút sau đó các nhóm sẽ thảo luận, nhận xét, bổ sung thêm.
2.Thiết kế chi tiết từng hoạt động.
2.1. Hoạt động trải nghiệm kết nối (03 phút)
a. Mục tiêu: Tạo không khí vui vẻ trong lớp học, khơi gợi hứng thú của học
sinh vào chủ đề học tập. Học sinh tiếp nhận kiến thức chủ động, tích cực ,hiệu quả.
b. Phương thức tổ chức
15
Hình ảnh chiếc tàu trước và sau khi bị chìm dưới đáy biển
Hình ảnh các thiết bị bằng kim loại bị ăn mòn
* Giáo viên đưa ra tình huống 1: Có một chiếc tàu bị chìm sâu dưới biển, một thời
gian sau người ta vớt xác con tàu lên thì con tàu mà trước đây nó là niềm tự hào của
một thế hệ nay đã mục nát, người ta đi tìm nguyên nhân của hiện tượng trên. Tai sao
toàn bộ con tàu được làm bằng thép lại nhanh chóng bị mục nát sau một thời gian bị
chìm dưới biển sâu? Nguyên nhân của hiện tượng này là gì?
- Giáo viên thông báo: hiện tượng trên là hiện tượng kim loại sắt trong hợp kim thép
bị ăn mòn khi tiếp xúc với nước biển (giáo viên lưu ý học sinh: Thực ra hợp kim sắt
dù không để trong nước biển thì cũng vẫn bị ăn mòn nhưng ta có thể hạn chế được tốc
độ ăn mòn bằng các biện pháp bảo vệ, nhưng ở dưới nước biển thì tốc độ ăn mòn xảy
ra với tốc độ nhanh hơn rất nhiều ).
- Giáo viên dạy học bằng
phương pháp hoạt động
nhóm sử dụng kỹ thuật
khăn trải bàn: yêu cầu học
sinh liên hệ từ hai tình
huống vừa nêu, từ đó học
sinh thấy được dưới tác
dụng của môi trường xung
quanh thì kim loại và hợp
kim sẽ bị phá hủy.
- GV yêu cầu HS hoàn
thành các câu hỏi 1 trong
- Học sinh tự đưa ra được
phiếu học tập số 1:
khái niệm của sự ăn mòn kim
loại: Là sự phá hủy của kim
loại hoặc hợp kim dưới tác
dụng của các chất trong môi
trường xung quanh. Sau đó
học sinh viết phương trình
HS có thể gặp khó khăn
thể hiện kim loại bị ăn mòn (
trong việc trả lời câu hỏi vì
bị oxi hóa)
sao kim loại và hợp kim dễ
17
+ Thông qua quan
thành ion dương.
Kết luận: Học sinh nắm vững được bản chất của ăn mòn kim loại chính là quá trình
oxi hóa- khử trong đó kim loại bị oxi hóa thành ion dương.
Hoạt động 2: Tìm hiểu về ăn mòn hóa học. ( 6 phút)
Mục tiêu hoạt động: Học sinh nắm được khái niệm ăn mòn hóa học.
Phương thức tổ chức hoạt
động
Hoạt động của học sinh và
sản phẩm học sinh
- Giáo viên sử dụng thí nghiệm
theo phương pháp phát hiện và
giải quyết vấn đề để giúp HS
giải quyết câu hỏi số 2 trong
phiếu học tập số 1:
Đặt vấn đề và phát hiện vấn
18
Đánh giá kết quả
hoạt động
đề: Giáo viên yêu cầu học sinh
+ Thông qua quan
Dựa vào báo cáo
của các nhóm về
kết quả của thí
nghiệm số 1 giáo
viên giúp học
sinh tìm ra chỗ sai
- GV thông báo thí nghiệm
trên nói đến hiện tượng lá kẽm
bị ăn mòn hóa học.
- Hs tìm hiểu SGK, thảo luận
cần điều chỉnh và
- Bản chất của sự ăn mòn hóa và đưa ra câu trả lời.
chuẩn hóa kiến
học là gì?
thức
- Ăn mòn hóa học thường xảy
- Học sinh lấy các ví dụ trong
ra ở đâu? Cho ví dụ?
thực tế mà kim loại bị oxi
hóa: kiềng bếp đun lâu ngày
bị gỉ, ống bô xe máy, vỉ
nướng thịt,…( Đó đều là hiện
tượng ăn mòn hóa học)
Học sinh nắm được bản chất của ăn mòn hóa học là quá trình oxi hóa- khử
trong đó kim loại nhường e trực tiếp cho các chất trong môi trường tác dụng. Học
sinh còn biết được ăn mòn hóa học thường xảy ra ở đâu ( các chi tiết kim loại của
máy móc trong nhà máy hóa chất, thiết bị lò đốt, nồi hơi,… có sự tiếp xúc trực tiếp
Đánh giá
kết quả
hoạt động
1.Khái niệm
- Giáo viên hướng dẫn HS
sử dụng thí nghiệm theo
phương pháp phát hiện và
giải quyết vấn đề:
Đặt vấn đề và phát hiện
vấn đề: Giáo viên hướng
Sản phẩm học sinh: Các nhóm làm thí nghiệm
dẫn học sinh làm thí
và thảo luận để tìm ra hướng giải quyết vấn đề
nghiệm 2 về ăn mòn điện
+ Thông qua
hóa như sau: ( thí nghiệm
quan
sát,
tạo tình huống có vấn đề)
GV
nhắc
để hoàn thành câu hỏi 1
trong phiếu học tập số 2:
+ Nhúng hai thanh Zn, Cu
vào cốc đựng dung dịch
H2SO4 loãng, quan sát bề
mặt của hai thanh kim loại + Có chất khí thoát ra trên bề mặt của
thanh Zn, thanh Zn mòn dần đi, thanh
hiện những
khó khăn,
vướng mắc
của học sinh
để có giải
pháp hỗ trợ
hợp lý.
+ Thông qua
sản
phẩm
học tập số 2:
Dựa vào báo
cáo của các
nhóm về kết
Cu, phải chăng lá Cu cũng
quả của thí
bị ăn mòn (hay Cu cũng tác
nghiệm số 2
dụng với dung dịch H2SO4
loãng)?
giáo
viên
đi theo dây dẫn sang lá Cu, do vậy Zn
đóng vai trò cực âm ( anot) cung cấp
nguồn electron.
+Thanh Cu chứa các nguồn e đóng vai
trò cực dương ( catot). Tại cực Cu, ion
22
H+ trong dung dịch H2SO4 di chuyển
về phía thanh Cu nhận e do Zn chuyển
sang tạo thành H2 thoát ra theo
phương trình : 2H+ + 2e → H2
Do vậy trên thanh Cu cũng xuất hiện
bọt khí thoát ra
- Học sinh: Có bọt khí xuất hiện trên
lá đồng.
- Học sinh: nêu khái niệm.
Ăn mòn điện hoá là quá trình oxi hoá
– khử, trong đó kim loại bị ăn mòn do
tác dụng của dung dịch chất điện li và
tạo nên dòng electron chuyển dời từ
- Giáo viên đưa ra tình cực âm đến cực dương.
huống: nếu không có điện
kế hoặc bóng đèn thì có thể
nhận ra hiện tượng ăn mòn
điện hóa trong thí nghiệm
trên dựa vào hiện tượng
nào?
lá Zn với ion H+ trong dung
+ Thông qua sản
dịch theo phương trình:
phẩm học tập: Dựa
+ Thí nghiệm 1: Ngâm hai
Zn + 2H+ → Zn2+ + H2 do vào báo cáo của các
vậy ở cả hai lá kẽm đều có nhóm về kết quả của
các thí nghiệm giáo
viên giúp học sinh
+ Ở thí nghiệm 2: Hai lá kim
tìm ra chỗ sai cần
+ Thí nghiệm 2: Thay một loại tiếp xúc trực tiếp với
điều chỉnh và chuẩn
lá Zn bằng 1 lá Cu cùng nhau và cùng tiếp xúc với
hóa kiến thức
ngâm trong dung dịch dung dịch chất điện li, chúng
trở thành một cặp pin điện
H2SO4 loãng
hóa, lá kẽm có tính khử mạnh
hơn nên bị ăn mòn điện hóa,
bọt khí tập trung xung quanh
lá Cu.
khí hidro thoát ra
+ Ở thí nghiệm 3: Hai thanh
+ Thí nghiệm 3: Tách lá
kim loại tách rời nhau, không
đồng và lá kẽm ra khỏi
tiếp xúc với nhau nên chỉ có
chứng tỏ điều gì?
- Khi nào kim loại bị ăn
mòn điện hóa?
- Giáo viên yêu cầu học
sinh rút ra kết luận về điều
- Học sinh thảo luận nhóm
kiện xảy ra ăn mòn điện
dựa trên kết quả của 4 thí
hóa?
nghiệm vừa làm, rút ra kết
luận.
Kết luận vấn đề: Bốn thí nghiệm trên rút ra điều kiện của ăn mòn điện hóa học
* Kết luận chung: Để xảy ra hiện tượng ăn mòn điện hóa học thì cần ba điều kiện
sau:
+ Các điện cực phải khác nhau về bản chất:
Cực âm
Cực dương
Kim loại mạnh hơn
Kim loại yếu hơn
Kim loại
Phi kim
Kim loại