BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN MINH CHÁNH
TỔ CHỨC DẠY HỌC
PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM (1858 -1918)
Ở LỚP 11, TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN MINH CHÁNH
TỔ CHỨC DẠY HỌC
PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM (1858 -1918)
Ở LỚP 11, TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN LỊCH SỬ)
Mã số: 60 14 01 11
Học sinh
NXB
Nhà xuất bản
SGK
Sách giáo khoa
THPT
Trung học phổ thông
PPDH
Phương pháp dạy học
ii
MỤC LỤC
Lời cảm ơn ..............................................................................................
Danh mục viết tắt ....................................................................................
Mục lục ...................................................................................................
MỞ ĐẦU ................................................................................................
Chương 1: TỔ CHỨC DẠY HỌC LỊCH SỬ THEO ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT - LÍ
LUẬN VÀ THỰC TIỄN …………………………………………………......
Trang
i
ii
iii
1
6
6
6
10
11
12
15
17
17
17
17
20
21
21
21
25
36
36
39
43
47
49
đã được các nhà giáo dục học, giáo dục lịch sử trong và ngoài nước quan tâm
nghiên cứu ở các góc độ khác nhau. Tiếp cận các công trình nghiên cứu của họ là
cơ sở để chúng tôi giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra.
2.1. Tài liệu nước ngoài
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực có nguồn gốc sâu xa từ dạy học
tích cực. Ngay từ thời cổ đại, nhà triết học Hi Lạp Sôcrat (470 – 399 TCN), đã đưa ra
phương pháp dạy học gọi là “đỡ đẻ” nhằm phát huy tinh thần tích cực tư duy của học
sinhtrong dạy học [31; 6]. Khổng Tử (551 - 479), nhà giáo dục nổi tiếng ở Trung
Quốc thời cổ đại đã chú ý kích thích suy nghĩ của học sinh. Ông đòi hỏi học trò phải
biết rèn luyện, say mê, ham hiểu biết, tự mình tìm tòi, suy nghĩ để tiếp nhận kiến thức
một cách chủ động, sáng tạo.[13;113]
Trong cuốn "Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các năng
lực ở nhà trường", Xavier Rogiers đã đưa ra những khái niệm về năng lực, cấu
tạo của năng lực và khẳng định "nhà trường phải tiếp tục là một cơ sở bảo đảm
cho những giá trị quan trọng của xã hội nhưng chủ yếu là ngoài khía cạnh kiến thức
đơn thuần, nhà trường trước hết phải tập trung cố gắng dạy cho học sinh sử dụng
kiến thức của mình vào những tình huống có ý nghĩa đối với học sinh; tóm lại,
chúng ta nói rằng nhà trường cần phát triển những năng lực ở học sinh". [35;11]
Trong công trình nghiên cứu "Hình thành các kĩ năng và kĩ xảo sư phạm
cho sinh viên trong điều kiện nền giáo dục đại học", xuất bản năm 1976,
X.I.Kixegof và cộng sự đã thiết kế hơn 100 kĩ năng giảng dạy, trong đó có hơn 50
2
kĩ năng cần thiết để thiết kế bài giảng nhằm phát triển năng lực cho người học.
[36;13]
M.B. Kôrôkôva Stuđennhikin (1999) trong cuốn Phương pháp dạy học Lịch
sử qua sơ đồ, bảng biểu và hình vẽ định hướng đến các năng lực của học sinh dựa
trên các mục tiêu dạy học: năng lực tái hiện và tái tạo lại các biểu tượng lịch sử;
năng lực phân tích, xử lí các nguồn thông tin; năng lực tư duy logic, tư duy niên
phải chuyển từ cách dạy tập trung vào kiến thức sang tập trung vào năng lực. Ông
cho rằng "Hiện tượng quá tải về kiến thức, giảng dạy theo lối truyền thụ một
chiều hạn chế tính năng động, tự chủ sáng tạo của người học, kiến thức về lý thuyết,
chú trọng tính hàn lâm, không đáp ứng nhu cầu, các tình huống sống và làm việc
của người học" Từ đó, tác giả cho rằng "thay vì quá chú trọng truyền thụ kiến thức,
cần quan tâm đặc biệt đến phát triển năng lực của người học, tạo cho người học
có khả năng tự chiếm lĩnh tri thức, có thể tự phát hiện và giải quyết các vấn đề nảy
sinh trong cuộc sống”.[12;23-24]
3
Trên báo Giáo dục và Thời đại tác giả Nguyễn Minh Đức với bài viết "Xu
hướng đánh giá : Dựa trên năng lực học sinh" đã đề cập đến khái niệm năng lực
Bài viết "Năng lực xã hội học tập'' của tác giả Vũ Tuấn Anh đăng trên báo
Giáo dục Việt Nam có liệt kê ra 5 năng lực cần phát triển cho 1 xã hội học tập và
được áp dụng vào giáo dục Việt Nam bao gồm: 1 - Năng lực tiếp nhận và chọn lọc
thông tin; 2 - Năng lực lưu trữ thông tin trong xã hội; 3 - Năng lực xử lí và phản
biện thông tin trong xã hội; 4 - Năng lực kết nối và sáng tạo thông tin; 5 - Năng lực
chia sẻ thông tin. Khi xác định được các năng lực của xã hội học tập sẽ dễ dàng triển
khai các hoạt động trong xã hội.[36;16]
Tài liệu tập huấn giáo viên Dạy học, kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức
kĩ năng trong chương trình giáo dục phổ thông môn Lịch sử cấp THPT của Bộ Giáo
dục và Đào tạo năm 2010 nêu mục đích của việc đổi mới phương pháp ở trường phổ
thông thay đổi dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo “phương pháp dạy
học tích cực” nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo.
Học là một quá trình kiến tạo; học sinh tìm tòi, khám phá phát hiện, luyện tập, khai
thác và xử lí thông tin tự hình thành tri thức, có năng lực và phẩm chất của con người
mới tự tin năng động sáng tạo trong cuộc sống. [9;11]
Trong cuốn “Lí luận dạy học hiện đại cơ sở đổi mới mục tiêu, nội dung và
phương pháp”, của Bernd Meier – Nguyễn Văn Cường xuất bản năm 2014 viết:
giáo dục hiện nay
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về dạy học lịch sử theo định hướng phát triển năng
lực học sinh ở trường THPT
- Nghiên cứu nội dung, chương trình, sách giáo khoa lịch sử Việt Nam lớp
11 - chương trình cơ bản để cho việc xây dựng các giáo án dạy học theo định
hướng phát triển năng lực học sinh.
- Khảo sát thực tiễn: thực trạng dạy học định hướng phát triển năng lực học
sinh hiện nay.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận của đề tài
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan
điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về giáo dục và đào tạo.
Phân tích, tổng hợp tài liệu từ các công trình cuả các nhà giáo dục, các nhà
giáo dục lịch sử, các nhà nghiên cứu lịch sử, các đề tài nghiên cứu phương pháp
dạy học định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường THPT.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận về tâm lí học, giáo dục học, phương pháp giảng dạy
của các nhà giáo dục và giáo dục lịch sử về vấn đề này.
- Nghiên cứu nội dung chương tŕnh lịch sử Việt Nam (1858-1918) , SGK
lớp 11 – cơ bản.
- Điều tra khảo sát thực tiễn việc xây dựng giáo án môn lịch sử ở trường
THPT thông qua quan sát, dự giờ và thực hiện phiếu điều tra.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm và sử dụng toán học thống kê để tính
kết quả khảo sát, thực nghiệm.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa khoa học
Nhận thức được cơ sở khoa học của quan điểm phát triển năng lực học sinh
trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng, làm cơ sở cho việc vận dụng
TỔ CHỨC DẠY HỌC LỊCH SỬ
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
Ở TRƯỜNG THPT - LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài
* Về khái niệm năng lực:
Năng lực có rất nhiều định nghĩa, thường được hiểu theo nhiều cách khác
nhau. Theo nghĩa chung nhất năng lực (capacity/ Ability) là khả năng (hoặc tiềm
năng) mà cá nhân thể hiện khi tham gia một hoạt động nào đó ở một thời điểm nhất
định. [36; 24] Ví dụ khả năng giải toán, khả năng ca hát, khả năng nói tiếng Anh,
.. thường được đánh giá bằng các trắc nghiệm trí tuệ (ability tests); năng lực (compentence)
thường gắn với hành động là khả năng thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ/ một hành
động cụ thể, liên quan đến một lĩnh vực nhất định dựa trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng,
kĩ xảo và sự sẵn sàng hành động. Năng lực được xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết
lập qua giá trị, cấu trúc như là các khả năng, hình thành qua trải nghiệm, củng cố
qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí. Nó chính là các khả năng và kĩ năng
nhận thức vốn có ở cá nhân hay có thể học được để giải quyết các vấn đề đặt ra trong
6
cuộc sống. Năng lực cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý
chí và trách nhiệm xã hội để có thể sử dụng một cách thành công và có trách nhiệm
các giải pháp trong những tình huống thay đổi. Năng lực của học sinh là sự kết hợp kiến
thức, kĩ năng và sự sẵn sàng tham gia để cá nhân hành động có trách nhiệm và biết
phê phán tích cực hướng tới giải pháp cho các vấn đề.
Năng lực là một cấu trúc động (trừu tượng) có tính mở, đa thành tố, đa tầng
bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kĩ năng, thái độ mà cả niềm tin, giá
trị, trách nhiệm xã hội thể hiện ở tính sẵn sàng hành động trong những điều kiện
thực tế, hoàn cảnh thay đổi.
Như vậy, có thể thấy bản chất của năng lực là khả năng của chủ thể kết hợp
năng lực HS sau năm 2015, Bộ GD&ĐT đã đề xuất 9 năng lực chung được xem là
chuẩn đầu ra cho HS phổ thông (1. Năng lực tự học. 2. Năng lực giải quyết vấn đề.
3.Năng lực tư duy. 4.Năng lực tự quản lý. 5.Năng lực giao tiếp. 6.Năng lực hợp
tác. 7.Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông. 8. Năng lực sử dụng
ngôn ngữ. 9. Năng lực tính toán). [10; 23-24]
Năng lực chuyên biệt là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ
sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình
hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những
hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt động nói
chung, hoạt động học tập nói riêng như Toán học, Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể thao,
Lịch sử
* Dạy học theo định hướng nội dung
Trong khoa học giáo dục, chương trình dạy học mang tính “hàn lâm, kinh
viện” còn được gọi là giáo dục ”định hướng nội dung” dạy học hay ”định hướng
đầu vào” (điều khiển đầu vào). Chương trình định hướng nội dung tồn tại phổ biến
trên thế giới cho đến cuối thế kỷ 20 và ngày nay vẫn còn ở nhiều nước. Đặc điểm
cơ bản của chương trình giáo dục định hướng nội dung là chú trọng việc truyền thụ
hệ thống tri thức khoa học theo các môn học đã được quy định trong chương trình
dạy học. Những nội dung của các môn học này dựa trên các khoa học chuyên ngành
tương ứng. Người ta chú trọng việc trang bị cho HS hệ thống tri thức khoa học
khách quan về nhiều lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên chương trình giáo dục định
hướng nội dung chưa chú trọng đầy đủ đến chủ thể người học cũng như đến khả
năng ứng dụng tri thức đã học trong những tình huống thực tiễn. Mục tiêu dạy học
trong chương trình định hướng nội dung thường được đưa ra một cách chung chung,
không chi tiết và không nhất thiết phải quan sát, đánh giá được một cách cụ thể nên
không đảm bảo rõ ràng về việc đạt được chất lượng dạy học theo mục tiêu đã đề ra.
Việc quản lý chất lượng giáo dục ở đây tập trung vào ”điều khiển đầu vào” là nội
dung dạy học. Ưu điểm của chương trình dạy học định hướng nội dung là việc
truyền thụ cho HS một hệ thống tri thức khoa học và hệ thống. Tuy nhiên ngày
nay chương trình dạy học định hướng nội dung không còn thích hợp, do những
phương pháp, tổ chức và đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo thực hiện được
mục tiêu dạy học, tức là đạt kết quả đầu ra mong muốn. Trong chương trình định
hướng năng lực, mục tiêu học tập, tức là kết quả học tập mong muốn thường được
mô tả thông qua hệ thống các năng lực. Kết quả học tập mong muốn được mô tả
chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được. Học sinh cần đạt được những kết quả
yêu cầu đã quy định trong chương trình. Việc đưa ra các chuẩn đào tạo cũng nhằm
đảm bảo quản lý chất lượng giáo dục theo định hướng kết quả đầu ra
Bảng so sánh những đặc trưng của chương trình định hướng nội dung với
chương trình định hướng năng lực:
Chương trình định
Chương trình định hướng
hướng nội dung
kết quả đầu ra
9
Mục tiêu Mục tiêu dạy học được mô tả
không chi tiết và không nhất
thiết phải quan sát, đánh giá
được
Kết quả học tập cần đạt được
mô tả chi tiết và có thể quan sát
đánh giá được; thể hiện được
mức độ tiến bộ của học sinh một
cách liên tục
Nội dung Việc lựa chọn nội dung dựa
vào các khoa học chuyên môn,
không gắn với các tình huống
bộ trong quá trình học tập, chú
trọng khả năng vận dụng trong
các tình huống thực tiễn.
Phương
pháp
dạy học
[4;66]
Dạy học định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc
dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú
trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị
cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp,
nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức.[4;
64]
1.1.2. Chủ trương đổi mới giáo dục theo định hướng phát triển năng lực
Những quan điểm và đường lối chỉ đạo của nhà nước về đổi mới giáo dục
nói chung và giáo dục trung học nói riêng được thể hiện trong nhiều văn bản, đặc
biệt là các văn bản sau:
- Luật Giáo dục số 38/2005/QH11, Điều 28 quy định: "Phương pháp giáo
10
dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, của học
sinh; phù hợp với từng đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương
pháp tự học, khả năng làm vuệc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vậng dụng kiến
thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho
học sinh"
- Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI "Đổi mới nội dung,
chương trình, phương pháp dạy và học, phương pháp thi kiểm tra theo hướng
giáo dục phát triển"… [10; 12-13]
Những quan điểm, định hướng trên tạo cơ sở thuận lợi cho việc đổi mới
giáo dục giáo dục nói chung, đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát
triển năng lực người học.
1.1.3. Ý nghĩa của việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực học
sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông
Dạy học nói chung đặc biệt là dạy học theo định hướng phát triển năng lực
có ý nghĩa trong việc góp phần phát triển năng lực toàn diện ở học sinh trên cả ba
mặt kiến thức, kĩ năng và thái độ.
Về nhận thức: Giúp học sinh biết được những kiến thức mới, khắc sâu và
củng cố những kiến thức cơ bản, làm giàu thêm vốn tri thức cho học sinh.Ví dụ
như "Em hãy trình bày diễn biến cuộc khởi nghĩa Hương Khê.". Để trình bày
được diễn biến cuộc khởi nghĩa này học sinh phải biết được những sự kiện, ngày
tháng cụ thể và người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa, qua đó để bổ sung và làm phong
phú thêm những kiến thức cho mình.
Về thái độ: Dạy học theo định hướng phát triển năng lực hình thành những
phẩm chất tốt đẹp cho học sinh là tính tích cực, độc lập, sáng tạo trong học tập, có
tháy độ đúng đắn, giúp học sinh hiểu rõ hơn những giá trị mà lịch sử đã để lại và
thông qua đó cho các em lòng tin, tình yêu, lòng tự hào dân tộc. Ví dụ: " Em hãy
đánh giá việc để mất nước ta vào tay của thực dân Pháp và trách nhiệm của nhà
Nguyễn." không chỉ nhớ được sự kiện mà còn phải bày tỏ được những cảm xúc, thái
độ của mình khi nói về việc nhà Nguyễn để nước ta rơi vào tay TD Pháp.
Về kĩ năng: Giúp cho học sinh phát triển được năng lực nhận thức và hành động
cho học sinh hiểu được bản chất của những sự kiện, hiện tượng lịch sử trên cơ sở hình
thành khái niệm, rút ra quy luật và học kinh nghiệm giá trị, giúp cho học sinh phát triển
kỹ năng tư duy lịch sử (so sánh, phân tích, đánh giá, tổng hợp …) và khả năng đánh
giá thực tiễn cuộc sống. Ví dụ như " Em hãy phân tích sự giống và khác nhau giữa
hai xu hướng bạo động và cải cách đầu thế kỷ XX". Để để trình bày được vấn đề
này học sinh trước hết phải nhớ được các sự kiện tiêu biểu của hai xu hướng bạo
giải quyết một vấn đề đặt ra trong cuộc sống, vấn đề phát triển năng lực trong
dạy học lịch sử cho học sinh được giáo viên rất quan tâm, dạy học phát triển năng
lực là không chỉ chú trọng những tri thức, kĩ năng, thái độ của học sinh mà chú
trọng khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Điều đó chứng tỏ đa số đã có
những nhận thức đúng. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn có 3 giáo viên (chiếm
30%) chưa hiểu rõ vấn đề phát triển năng lực trong dạy học lịch sử cho học sinh,
xem là bình thường chỉ cung cấp kiến thức, ghi nhớ kiến thức không chú trọng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
Đối với câu hỏi: có thể phát triển những năng lực gì cho học sinh trong
dạy học lịch sử thì đa số giáo viên xác định được những năng lực hình thành trong
dạy học lịch sử ( tái hiện, thực hành, giải quyết các vấn đề, so sánh, nhận xét,…)
Khi hỏi về các biện pháp sư phạm nào có ưu thế để phát triển năng lực học
sinh đa số giáo viên lựa chọn sử dụng kết hợp các phương pháp như dạy học
nhóm, dạy học nêu vấn đề để gây hứng thú, phát huy tính tích cực học tập của
13
học sinh (chiếm 90%), số giáo viên còn lại thì chưa quan tâm đến sử dụng
phương pháp mới để phát triển năng lực học sinh (chiếm 10%)
Qua sự tìm hiểu trên chứng tỏ giáo viên ở các trường trung học phổ thông vẫn
còn sử dụng các phương pháp truyền thống, dễ nhàm chán, chưa phát huy được
các năng lực học tập của học sinh, đặc biệt là năng lực ngôn ngữ, năng lực giải
quyết vấn đề, năng lực tư duy sáng tạo.
Để có cái nhìn sâu sắc hơn về thực trạng dạy học định hướng phát triển
năng lực học sinh, chúng tôi đặt ra câu hỏi "Thầy (cô) thường gặp khó khăn gì
khi thực hiện các biện pháp sư phạm để phát triển năng lực học tập lịch sử của
học sinh?" thì câu trả lời chủ yếu là mất nhiều thời gian, công sức, khó khăn trong
việc quản lý học sinh. Vì vậy cần phải được trang bị đầy đủ lý luận và trang thiết
bị cần thiết về dạy học định hướng phát triển năng lực học tập học sinh đạt hiệu
quả.
15
học mới.
1.3. Nội dung cơ bản của phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch
sử
Để giúp cho việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng năng lực
học sinh đạt hiệu quả, trên cơ sở các năng lực chung, các môn học cũng đã xác định các
năng lực chuyên biệt. Đối với bộ môn Lịch sử bậc trung học phổ thông cần chú trọng
hình thành những năng lực như:
- Năng lực tái hiện sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử: Tái hiện sự kiện,
hiện tượng, nhân vật lịch sử quá khứ tiêu biểu có ảnh hưởng đến lịch sử thế giới và
dân tộc.
- Năng lực thực hành bộ môn lịch sử: Quan sát, đọc và trình bày diễn biến
trên bản đồ, lược đồ như lược đồ cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam kỳ, lược đồ
địa bàn hoạt động của nghĩa quân Bãi Sậy…; Lập bảng niên biểu các cuộc kháng
chiến chống ngoại xâm, các cuộc chiến tranh, các thành tựu về kinh tế văn hóa…;
Khai thác nội dung lịch sử cần thiết thông qua lược đồ, bản đồ, tranh ảnh, phim tư
liệu, hiện vật…
- Năng lực xác định và giải quyết mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động giữa các
sự kiện, hiện tượng lịch sử với nhau: Xác định và giải được mối liên hệ, ảnh hưởng,
tác động giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử với nhau, thông qua đó lý giải được
mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử như chỉ ra mối quan hệ của các sự kiện, hiện
tượng với hoàn cảnh lịch, với tình hình, chính trị kinh tế, xã hội trong và ngoài nước;
những tác động tích cực hoạch tiêu cực của tình hình thế giới đối với Việt Nam…
Qua đó lý giải nguồn gốc, bản chất của mối quan hệ và tác động qua lại giữa các sự
kiện, hiện tượng lịch sử đó.
- Năng lực so sánh, phân tích, phản biện, khái quát hóa: So sánh nhân vật, sự
kiện, giai đoạn, thời kỳ lịch sử; phân tích một nhân vật hay một sự kiện lịch sử; phản
biện các nhận định, luận điểm lịch sử; khái quát một giai đoạn hay một thời kỳ lịch
chỉ có hai chương và với khoảng thời gian từ năm 1858 đến hết chiến tranh thế giới
thứ nhất. Đây là giai đoạn bắt đầu thực dân Pháp xâm lược nước ta và chỉ trong
một thời gian ngắn nước ta đã trở thành thuộc địa của thực dân Pháp. Đồng thời
cũng là giai đoạn mà các cuộc kháng chiến mang dấu ấn phong kiến nổ ra mạnh
mẽ, và là lúc mà những tư tưởng yêu nước ở Việt Nam vẫn đang còn trong giai
đoạn khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo. Những bài học về con
đường cứu nước, phương pháp hành động, sẽ đặt nền móng cho con đường cứu
nước đúng đắn về sau.
2.1.2. Mục tiêu
Mục tiêu của chương trình lịch sử Việt Nam lớp 11 đó là cung cấp những
17
kiến thức ban đầu về quá trình xâm lược của Thực dân Pháp, những nguyên nhân
sâu xa dẫn đến việc thực dân Pháp xâm lược và những nguyên nhân khiến nhà
Nguyễn không còn khả năng tự vệ để lãnh đạo nhân dân đấu tranh. Chương trình
lịch sử lớp 11 giai đoạn 1858 đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất là khoảng thời
gian mà trên đất nước ta khủng hoảng về mọi mặt, đặc biệt là về đường lối lãnh đạo
cách mạng, mục tiêu cơ bản là làm nền tảng cho phần lịch sử hiện đại sau này của
lớp 12 khi học cụ thể về các con đường đấu tranh đúng đắn và mang lại độc lập
cho dân tộc.
Trong chương lịch sử lịch sử lớp 11 THPT, phần lịch sử Việt Nam bắt đầu
từ khi Pháp xâm lược nước ta năm 1918 cho đến năm 1918, chiến tranh thế giới
thứ nhất kết thúc. Sau khi học xong phần lịch sử này học sinh có khả năng:
Về nhận thức
- Khái quát được âm mưu, hành động, quá trình Pháp đánh chiếm Bắc Kì
lần 1, lần 2 và sự đối phó của quân đội triều đình, nhân dân chống Pháp.
- Phân tích được nguyên nhân và trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc để
nước ta rơi vào tay Pháp.
- Hiểu được nguyên nhân sâu xa và trực tiếp phong trào Cần Vương. Trình
Yêu cầu đặt ra lúc này thực hiện cải cách duy tân đất nước, thúc đẩy sản
xuất, cải thiện đời sống nhân dân, tăng cường tiềm lực quốc phòng để đối phó có
hiệu quả với âm mưu xâm nhập và xâm lược từ bên ngoài.
Cuộc xâm lực của tư bản Pháp tới gần đòi hỏi phải tăng cường đoàn kết, tỉnh
táo để không sa vào cạm bẫy của kẻ thù
Thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam và cuộc kháng chiến của nhân
dân ta
Cuộc xâm lược Việt Nam của Pháp bắt đầu từ ngày 1 - 9 - 1858, được thực
hiện từng bước:
Từ năm 1858 đến năm 1862, tấn công Đà Nẵng, đánh chiếm ba tỉnh miền
Đông Nam Kì
Từ năm 1863 đến năm 1867, Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kì
Từ năm 1867 đến năm 1873, Pháp chuẩn bị và đánh chiếm Bắc Kì lần thứ
nhất
Từ năm 1874 đến năm 1883, Pháp chuẩn bị và đánh chiếm Bắc Kì lần thứ
hai
Từ năm 1883 đến năm 1884, Pháp hoàn thành việc xâm lược toàn bộ Việt
Nam
Cuộc kháng chiến chống quân Pháp của nhân dân ta nổ ra ngay từ khi Pháp
bắt đầu xâm lược.
Từ năm 1858 đến năm 1884: phong trào nổ ra mạnh mẽ, khiến thực dân Pháp
mất 30 năm mới tạm thời áp đặt nền bảo hộ lên đất nước ta.
Từ 1885 đến cuối thế kỉ XIX, phong trào yêu nước nhằm khôi phục chủ
quyền dân tộc được các văn thân, sĩ phu lãnh đạo dưới khẩu hiệu cần Vương, các
phong trào đấu tranh tự phát của nông dân.
Sự thất bại của phong trào đấu tranh vũ trang cuối thế kỉ XIX đặt ra yêu cầu
19