ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
KHOA ĐỊA LÍ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Sử dụng phối hợp các phƣơng tiện trong dạy
học Địa lí lớp 11 trung học phổ thông theo định
hƣớng phát triển năng lực
GVHD
: PGS.TS Đậu Thị Hòa
Họ và tên ngƣời thực hiện : Đinh Thị Ngọc Diễm
Đà Nẵng, tháng 05 năm 2018
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả
nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kì
một công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Đinh Thị Ngọc Diễm
2
LỜI CẢM ƠN
HS
Học sinh
Nhà xuất bản giáo dục
NXBGD
Phương pháp
PP
Phương pháp dạy học
PPDH
Phương tiện
PT
PTDH
Phương tiện dạy học
THPT
Trung học phổ thông
Thực nghiệm
TN
TNSP
đồng nghĩa với việc sử dụng PPDH Địa lí theo hướng đi mới nhằm vào trọng tâm là
đối tượng người học.
PPDH có ý nghĩa to lớn trong môn địa lí ở phổ thông, đặc trưng trong khoa
học Địa lí bởi vì các sự vật hiện tượng địa lí được hiểu đi liền với không gian lãnh
thổ, HS không thể quan sát trực tiếp được, phải thông qua các PT trực quan. Hơn
nữa các sự vật, hiện tượng địa lí lại đa dạng và phức tạp, dựa vào PTDH mới trở nên
gần gũi, cụ thể hơn đối với nhận thức của HS. Việc đổi mới PPDH theo hướng phát
triển năng lực người học, PTDH vừa là công cụ để GV tổ chức hoạt động nhận thức,
rèn luyện năng lực cho học sinh, vừa là cơ sở để HS hoạt động tích cực, chủ động
tìm ra những kiến thức cần thiết. Hiện nay, PTDH bao gồm các phương tiện truyền
thống như bản đồ, biểu đồ, sơ đồ, tranh ảnh, atlat, bảng số liệu, phiếu học tập…và
các phương tiện hiện đại: Các phần mềm dạy học, sơ đồ tư duy,…góp phần tích cực
5
vào việc đổi mới PPDH và nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học địa lí trong nhà
trường.
Trên thực tế hoạt động dạy học môn Địa lí lớp 11 THPT còn nhiều hạn chế,
bất cập trong sử dụng PT Địa lí. PTDH đóng vai trò quan trọng trong quá trình dạy
học, có tác dụng rất lớn trong quá trình nhận thức và hình thành năng lực của học
sinh. Tuy nhiên, PTDH còn chưa đồng bộ, mặt khác nhiều GV sử dụng chưa tốt các
PT trong các tiết dạy. Tình trạng dạy “chay” vẫn còn khá phổ biến, việc đổi mới,
tích cực sử dụng PTDH của GV có chuyển biến tích cực nhưng chưa mạnh mẽ. Đa
số các GV ít khi phối hợp các PTDH để thấy được mối liên hệ giữa những tri thức
chuyên môn Địa lí và chưa chú ý đến phát triển năng lực HS. Chương trình Địa lí
lớp 11 đề cập đến vấn đề các khu vực và quốc gia trên thế giới, xét về nội dung và
PP, chương trình có đầy đủ điều kiện thuận lợi để sử dụng kết hợp các PT trong dạy
học nhằm hình thành năng lực giải quyết vấn đề cho HS.
Trong nghiên cứu khoa học giáo dục Địa lí, những đề tài nghiên cứu sử dụng
phối hợp các PTDH trong Địa lí còn chưa rõ ràng. Đa số chỉ đề cập đến một hình
phố Đà Nẵng.
- Nghiên cứu sử dụng phối hợp các PT trong dạy học theo định hướng phát triển
năng lực học sinh lớp 11.
- Thực nghiệm sư phạm.
6. Lịch sử đề tài nghiên cứu:
PTDH Địa lí rất phổ biến và thông dụng, chính vì thế đã có nhiều công trình
nghiên cứu vấn đề này. Tuy nhiên các đề tài nghiên cứu trước đây chỉ nghiên cứu
đơn lẻ phương pháp sử dụng phương tiện dạy học, chưa phối hợp các phương tiện
với nhau:
- Nguyễn Trọng Phúc (1997), phương pháp sử dụng số liệu thống kê trong
dạy học Địa lí kinh tế - xã hội, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. Tác giả đã phân loại
bảng số liệu thống kê đồng thời đưa ra các hình thức biểu hiện và sử dụng số liệu
thống kê trong các khâu dạy học và các hình thức dạy học.
7
- Nguyễn Trọng Phúc (1998), phương pháp sử dụng các phương tiện dạy học
Địa lí ở trường phổ thông, NXB Giáo dục đề cập đến cách phân loại phương tiện
Địa lí theo 2 loại: cổ truyền và PT – thiết bị kĩ thuật hiện đại đồng thời đề cập đến
quy trình, nguyên tắc sử dụng PTDH, tuy nhiên mới dừng lại hình thức phân tích
từng PT.
- Nguyễn Trọng Phúc (2000), phương tiện, thiết bị kĩ thuật trong dạy học Địa
lí, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội tác giả đề cập đến khái niệm vai trò của PTDH
Địa lí, PP để sử dụng bản đồ giáo khoa cũng như nguyên tắc khi sử dụng PTDH.
- Nguyễn Đức Vũ (2006), phương tiện dạy học Địa lí ở trường THPT, NXB
Giáo dục tác giả có liệt kê hàng loạt những PTDH môn Địa lí ở trường THPT bao
gồm những PT truyền thống và phương tiện hiện đại như sơ đồ tư duy…trong mỗi
PT, tác giả đều chỉ rõ PP dùng cụ thể, là tài liệu hữu ích cho GV cấp THPT.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu:
sai lệch của kết quả nghiên cứu nhằm tìm cách hoàn thiện [4].
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: tác động vào đối tượng là các quá trình
dạy học Địa lí và HS để kiểm nghiệm tính đúng đắn, thực tiễn của đề tài nhằm thực
hiện mục tiêu nghiên cứu đề tài.
- Phương pháp toán thống kê: sử dụng các công thức vào trong nghiên cứu
khoa học để trình bày kết quả thực nghiệm sư phạm và kiểm định giả thuyết thống
kê về sự khác biệt trong kết quả thực nghiệm và đối chứng.
8. Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị - đề xuất, hệ thống các bảng biểu, tài
liệu tham khảo, phụ lục…, luận văn được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về sử dụng phối hợp các phương tiện
trong dạy học Địa lí 11 THPT theo định hướng phát triển năng lực.
Chương 2: Sử dụng phối hợp các phương tiện trong dạy học Địa lí 11 thpt
theo định hướng phát triển năng lực.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
9
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỬ DỤNG PHỐI HỢP CÁC
PHƢƠNG TIỆN TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 11 TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG THEO ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
1.1. Phƣơng tiện dạy học địa lí:
1.1.1. Một số khái niệm về phương tiện dạy học địa lí:
1.1.1.1. Khái niệm phương tiện:
- Theo từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng (năm 2003) đề cập, PT là cái dùng
để làm một việc gì, để đạt được mục đích nào đó.
Theo định nghĩa, chúng ta hiểu rằng, trong giáo dục sư phạm nói chung và
dạy học Địa lí nói riêng, cái mà dùng để thực hiện một công việc (ví dụ: bản đồ, sơ
này, GV tiến hành tổ chức, điều khiển quá trình dạy học giúp HS tự tổ chức hoạt
động nhận thức của mình một cách có hiệu quả.
Các quan điểm nêu trên đều có một điểm chung, đó là coi PTDH là toàn bộ
các dụng cụ, đồ dùng, thiết bị kĩ thuật và các tài liệu trang bị cho quá trình giảng dạy
nhằm nâng cao hiệu quả DH.
- Như vậy có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về PTDH, các khái niệm
luôn thay đổi và phát triển theo thời gian. Chúng ta có thể thấy khái niệm sau đây
thể hiện rõ nhất bản chất của PTDH trong dạy học tiếp cận năng lực:
PTDH là những đối tượng vật chất được GV sử dụng để tổ chức, điều khiển
họat động nhận thức và rèn luyện kĩ năng, kỉ xảo của người học. Khái niệm này bao
hàm tất cả những PT dùng trong quá trình dạy học đồng thời cũng nói rõ mục đích
của quá trình dạy học là truyền thụ tri thức và rèn luyện năng lực của người học.
1.1.1.3. Khái niệm phương tiện dạy học Địa lí
- PTDH địa lí là một khái niệm dùng để chỉ tất cả các PT, thiết bị mà GV và
HS sử dụng trực tiếp trong quá trình dạy – học Địa lí, phục vụ các mục đích dạy học
và giáo dục.
- Theo Nguyễn Dược – Nguyễn Trọng Phúc, trong bộ môn Địa lí, các PT và
thiết bị gồm một phần cơ sở vật chất truyền thống hay hiện đại tạo điều kiện cho
việc giảng dạy môn học như: phòng bộ môn địa lí, vườn địa lí…, toàn bộ các đồ
dùng giảng dạy và học tập trực quan như: bản đồ, tranh ảnh, mô hình, mẫu vật, dụng
11
cụ trắc quan, đo đạc, các thiết bị nghe nhìn và cuối cùng là các tài liệu cung cấp
những tri thức cơ bản cho GV và HS như: sgk địa lí, sách tham khảo địa lí…[8].
1.1.2. Vai trò của phương tiện dạy học Địa lí
1.1.2.1. Đối với hoạt động học
- Làm thỏa mãn và phát triển hứng thú học tập, nâng cao lòng tin vào khoa
học, phát huy tính tích cực nhận thức của HS. Phát triển những năng lực chuyên biệt
môn địa lí như sử dụng bản đồ, số liệu thống kê, tranh ảnh, năng lực tư duy.
- Theo Nguyễn Dược – Nguyễn Trọng Phúc trình bày trong cuốn “Phương
pháp sử dụng các phương tiện dạy học địa lí ở trường Trung học Phổ thông” có phân
chia làm hai nhóm: nhóm các PTDH truyền thống, cổ truyền (phòng địa lí, vườn địa
lí, tủ sách địa lí, những bộ sưu tập, bản đồ giáo khoa, quả cầu địa lí, các dụng cụ trắc
quan – đo đạc, các tài liệu và số liệu thống kê); nhóm PT và thiết bị và kỹ thuật dạy
học hiện đại (sử dụng máy bay, sử dụng băng video, sử dụng chương trình trên máy
tính) [8].
- Dựa vào mục đích sử dụng có thể phân loại các PTDH thành hai loại PT
dùng trực tiếp để dạy học và PT dùng để hổ trợ, điều khiển quá trình dạy học:
+ PT dùng trực tiếp để dạy học bao gồm những đồ dùng được GV sử dụng
trong giờ dạy để trình bày kiến thức, rèn luyện kĩ năng, kỉ xảo cho HS. Đó là: các tài
liệu in (sgk, sách chuyên môn, các tài liệu chép tay, sở tay tra cứu, sách bài tập,
chương trình môn học…); các PT mang tính thính giác, thị giác và hỗn hợp (băng
đĩa ghi âm, phim video, sơ đồ, bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh…).
+ PT điều khiển và hổ trợ quá trình dạy học là những PT được sử dụng để tạo
ra môi trường học tập thuận lợi, có hiệu quả và liên tục như các PT hỗ trợ bao gồm
các loại bảng viết, các giá di động hoặc cố định, thiết bị điều khiển âm thanh, ánh
sáng…
- Dựa vào cấu tạo của PT có thể phân loại các PTDH thành hai loại: các PT
dạy học truyền thống và các PT nghe nhìn hiện đại.
Trong bài luận văn này, tôi sử dụng cách phân loại được nhiều nhà giáo dục
chấp nhận và đem vào giảng dạy: PTDH truyền thống và PTDH hiện đại.
1.1.3.1. Phương tiện dạy học truyền thống
13
- Theo Trần Đức Vượng, Nguyễn Dược, Nguyễn Trọng Phúc, Nguyễn Đức
Vũ phân loại PTDH truyền thống gồm: tranh, ảnh, biểu đồ, sơ đồ, hình vẽ, phiếu học
tập, bảng kiến thức, lát cắt địa hình, sách giáo khoa, bản đồ giáo khoa, atlat, mô hình,
Băng, đĩa ghi âm
Đầu đĩa, máy vi tính
Băng, đĩa ghi hình
Video, đầu đĩa hình, máy vi tính
Phần mềm dạy học
Máy vi tính
14
+ Phải có lưới điện quốc gia, đắt tiền gấp nhiều lần PTDH truyền thống; phải
có trình độ sử dụng và bảo quản tốt; phải có phòng ốc chuyên biệt để bảo quản và
lắp đặt.
- PTDH hiện đại, nhất là các phần mềm trong giảng dạy, rất thích hợp theo
định hướng DH phát huy năng lực người học. HS học được cách tư duy, phân tích,
tính tự giác, hứng thú học tập nơi những thiết bị PT hiện đại.
1.1.4. Mối quan hệ giữa phương tiện dạy học địa lí với các yếu tố của quá trình
dạy học
Ta có thể thấy dễ dàng PP, PT hay hình thức giáo dục phụ thuộc chặt chẽ vào mục
đích, nội dung, sự lựa chọn của nhà giáo dục và PP, hình thức PT cũng tác động
ngược trở lại các yếu tố khác. Nếu như PP tốt, phù hợp thì sẽ thúc đẩy hoạt động
giáo dục diễn ra tốt hơn. Hay nói cụ thể sẽ giúp cho mục đích, kết quả giáo dục dễ
đạt được hơn, giúp cho nội dung giáo dục dễ thực hiện hơn và cả quá trình giáo dục
của nhà giáo dục lẫn người được giáo dục cũng diễn ra thuận lợi hơn [3].
1.1.4.1. Mối quan hệ giữa phương tiện dạy học với hoạt động dạy và học
1.1.5.1. Sử dụng phương tiện dạy học phải đúng lúc, đúng chổ
- Sử dụng PTDH có nghĩa là đưa PT vào lúc cần thiết, lúc người học mong
muốn nhất và được quan sát, gợi mở trong trạng thái tâm lý thuận lợi nhất.
+ Hiệu quả của PTDH được nâng cao rất nhiều nếu xuất hiện đúng vào lúc mà
nội dung, PP của bài học cần đến. Cần đưa vào theo trình tự bài giảng, tránh việc
trưng ra hàng loạt PT trong một tiết học hoặc biến tiết học thành phòng trưng bày,
triễn lãm. PTDH phải được đưa ra sử dụng và cất giấu đúng lúc.
+ Nếu các PTDH được sử dụng một cách tình cờ, chưa chuẩn bị trước cho
việc tiếp thu của HS thì sẽ không mang lại kết quả như mong muốn, thậm chí còn
làm tản mạn sự theo dõi của người học.
+ Với cùng một PTDH cũng cần phải phân biệt thời điểm sử dụng: Khi nào
thì được đưa vào trong giờ giảng, khi nào thì dùng trong buổi hướng dẫn ngoại khóa,
trưng bày trong giờ nghĩ…hoặc cho HS mượn về nhà quan sát.
- Sử dụng PTDH đúng chỗ tức là phải tìm vị trí để giới thiệu, trình bày trên
lớp hợp lí nhất, giúp HS có thể đồng thời sử dụng nhiều giác quan để tiếp thu bài
giảng một cách đồng đều ở mọi vị trí trên lớp.
16
+ Một yêu cầu hết sức quan trọng trong việc giới thiệu PTDH trên lớp là phải
tìm vị trí lắp đặt sao cho toàn lớp có thể quan sát rõ ràng, đặc biệt là hai hàng hs ngồi
sát hai bên tường và hàng ghế cuối lớp.
+ Vị trí trình bày PT phải đảm bảo các yêu cầu chung và riêng của nó về điều
kiện chiếu sáng, thông gió và các yêu cầu kỹ thuật riêng biệt khác.
+ Các PT phải được sử dụng ở những vị trí tuyệt đối an toàn cho GV và HS
trong và ngoài giờ giảng, đồng thời phải bố trí sao cho không ảnh hưởng đến quá
trình làm việc, học tập của các lớp khác.
+ Đối với các PT được cất tại các nơi bảo quản, phải sắp xếp sao cho khi cần
đưa đến lớp GV ít gặp khó khăn và mất thời gian.
tích cực sử dụng PTDH địa lí ở trường phổ thông đã được triển khai và thực hiện từ
lâu, song do nhiều yếu tố tác động nên hiện tượng GV giảng dạy chỉ tập trung vào
việc thông báo, cung cấp kiến thức một cách định sẵn hoặc chỉ dạy phục vụ thi cử
đã đi theo lối mòn. Trong xu thế giáo dục mới, đòi hỏi GV không những dạy học
phải phát huy tính tích cực mà còn phải chú ý đến rèn luyện các năng lực cho HS.
1.1.5.4. Sử dụng phương tiện phải đảm bảo tính vừa sức của học sinh.
- Nguyên tắc này yêu cầu trong quá trình GV và HS khai thác tri thức trên
PTDH, GV không nên đặt câu hỏi quá dễ hoặc quá khó. Vì câu hỏi quá dễ thì không
phát huy được tư duy của HS, các em không suy nghĩ vẫn có thể trả lời được dẫn
đến việc chủ quan.
- Nếu câu hỏi quá khó, HS không trả lời được cũng đâm ra chán nản. Do đó
khi chuẩn bị bài giảng, GV cần lựa chọn, cân nhắc để HS trên cơ sở nhận thức của
mình, nắm được tri thức, phát huy được năng lực trí tuệ.
1.1.5.5. Sử dụng phương tiện dạy học phải đảm bảo tính chính xác, khoa học, thẩm
mĩ; phải đáp ứng mục tiêu và phù hợp với nội dung của việc dạy học
- Tính khoa học sư phạm là một chỉ tiêu chính về chất lượng PTDH. Chỉ tiêu
này đặc trưng cho sự liên hệ giữa mục tiêu đào tạo và giáo dục, nội dung PTDH và
nội dung củaPT, thể hiện ở chổ:
+ PTDH phải đảm bảo cho cho HS tiếp thu được kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo
tương ứng với yêu cầu của chương trình học, giúp cho GV truyền đạt một cách thuận
lợi các kiến thức, kĩ năng…làm cho HS phát triển khả năng nhận thức và tư duy
logic.
18
+ Nội dung cấu tạo của PTDH phải đảm bảo các đặc trưng của việc dạy lý
thuyết và thực hành cũng như các nguyên lí sư phạm cơ bản.
+ PTDH phải phù hợp với nhiệm vụ sư phạm và PP giảng dạy, thúc đẩy khả
năng tiếp thu năng động của người học.
+ Trước tiên, cần khai thác và tận dụng các PTDH có sẵn. Việc tự làm PTDH
chỉ nên được khuyến khích khi nó tạo hiệu quả giáo dục lớn hơn các PTDH có sẵn.
+ Cần tận dụng các nguyên vật liệu có sẵn, dễ tìm để giảm giá thành PTDH.
Vệ sinh sạch sẽ các PTDH trước khi sử dụng để đảm bảo tính vệ sinh, an toàn trước
khi sử dụng.
+ Khuyến khích HS tham gia tự làm PTDH để giúp các em nắm chắc, nhớ lâu
bài học, rèn luyện tình yêu lao động, sự khéo léo của các em.
1.1.6. Định hướng chung sử dụng phương tiện dạy học địa lí.
Trên cơ sở phân tích các vái trò, chức năng của PTDH dưới góc độ các quan
điểm của lí luận DH và của tâm lí học tập, có thể rút ra định hướng chung về mặt PP
cho việc sử dụng PPDH Địa lí ở trường THPT:
- Ở các khâu khác nhau của quá trình DH cần sử dụng phối hợp các PTDH
trên các bình diện khác nhau của hoạt động nhận thức: trực quan trực tiếp, trực quan
gián tiếp, nhận thức ngôn ngữ.
- Gắn việc sử dụng PTDH với các hoạt động trí tuệ - thực tiễn của HS, tạo ra
các kích thích đa dạng…phù hợp với quá trình thu nhận và xử lí thông tin của
HS…kích thích sự tranh luận tích cực của HS về đối tượng nhận thức.
- Việc sử dụng PTDH trong quá trình hình thành và vận dụng kiến thức phải
góp phần làm sáng tỏ tính biện chứng giữa cái chung và những cái riêng, cái giống
nhau và cái khác nhau của các hiện tượng, quá trình địa lí.
- Việc sử dụng các PTDH phải góp phần làm tăng tính chính xác và tính hệ
thống của kiến thức mà HS lĩnh hội. Cụ thể, việc sử dụng PTDH thích hợp sẽ tái
hiện lại cảm tính mà HS đã tri giác trong đời sống hàng ngày để không những vận
dụng vốn kinh nghiệm mà còn nhằm phát hiện mà góp phần khắc phục cái sai lầm
của HS[3].
20
1.2 Sử dụng phối hợp các phƣơng tiện trong dạy học địa lí
dụ: các sơ đồ, bản đồ trong sách giáo khoa giúp HS nhìn bao quát được các hiện
tượng diễn ra trong khoảng không gian rộng lớn trên trái đất mà HS không thể tri
giác trực tiếp được.
- Nhiều PT phối hợp với nhau, HS không những nắm bắt được đặc điểmbên
ngoài của sự vật – hiện tượng mà còn khai thác, thiết lập bản chất bên trong của các
đối tượng. PTDH giúp HS mở rộng khái niệm không gian, khái niệm địa lí, cho phép
HS thiết lập các mối quan hệ tương hỗ và nhân quả giữa các hiện tượng, trong các
quá trình tự nhiên, kinh tế - xã hội. Phát triển tư duy logic, năng lực quan sát, đồng
thời hình thành trong người học thế giới quan biện chứng.
Ví dụ: các sơ đồ, lược đồ tham gia hình thành trong HS các quy luật phân bố
của các đối tượng địa lí, quy luật phân bố lực lượng sản xuất, quy luật phân công lao
động theo lãnh thổ, khai thác hợp lí nguồn tài nguyên và chống ô nhiễm môi
trường…[13]. Loại hình này nếu được phối hợp sử dụng với các loại hình bản đồ
khác như bản đồ giáo khoa treo tường, tranh ảnh địa lí, bản đồ câm thì kết quả học
tập địa lí còn tăng lên gấp bội.
- Dạy học phải gắn liền với liên hệ thực tiễn, đó là cách dạy vừa ghi nhớ kiến
thức vừa đào tạo tư duy HS. Các PTDH, khi tiến hành giảng dạy nhất thiết phải liên
hệ thực tiễn, phối hợp các PT với nhau là đẩy mạnh quá trình liên hệ thực tiễn, không
liên hệ với thực tiễn thì tri thức không được củng cố vững chắc.
1.3. Năng lực phát triển
1.3.1. Khái niệm
Chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực có thể coi là một tên gọi
khác hay một mô hình cụ thể hóa của chương trình định hướng kết quả đầu ra, một
công cụ để thực hiện giáo dục định hướng điều khiển đầu ra. Trong chương trình
dạy học định hướng phát triển năng lực, mục tiêu dạy học của môn học được mô tả
thông qua các nhóm năng lực.
- Theo John Erpenbeck “năng lực coi tri thức làm cơ sở, được sử dụng như
khả năng, được quy định bởi giá trị, được tăng cường qua kinh nghiệm và được thực
cho HS 9 năng lực chung sau đây:
22
Năng lực
chung
Biểu hiện
Xác định nhiệm vụ học tập có tính đến kết quả học tập trước đây
và định hướng phấn đấu tiếp; mục tiêu học được đặt ra chi tiết.
1. Năng lực
tự học
Đánh giá và điều chỉnh kế hoạch học tập; hình thành cách học tập
riêng; tìm nguồn tài liệu phù hợp với nhiệm vụ học tập khác nhau.
Tự điều chỉnh những hạn chế của bản thân trong quá trình học tập;
biết vạch kế hoạch điều chỉnh cách học để nâng cao chất lượng
học tập.
Phân tích, phát hiện và nêu được tình huống có vấn đề trong học
tập, trong cuộc sống.
2. Năng lực
giải quyết
vấn đề
Thu thập và làm rõ các thông tin có liên quan đến vấn đề; đề xuất
và phân tích được giải pháp giải quyết.
Thực hiện, đánh giá giải pháp giải quyết vấn đề; suy ngẫm cách
Nhận ra và tự điều chỉnh được một số hạn chế của bản thân trong
học tập, lao động và sinh hoạt, ở nhà, ở trường.
Diễn tả được một số biểu hiện bất thường của cơ thể; thực hiện
được một số hành động vệ sinh và chăm sóc sức khỏe bản thân;
nhận ra được và không tiếp cận với những yếu tố ảnh hưởng xấu
tới sức khỏe, tinh thần trong gia đình và ở trường.
Xác định được mục tiêu giao tiếp với đối tượng phù hợp, bối cảnh
giao tiếp; dự kiến được thuận lợi, khó khăn để đạt được mục đích
trong giao tiếp.
5. Năng lực
giao tiếp
Chủ động trong giao tiếp; tôn trọng, lắng nghe có phản ứng tích
cực trong giao tiếp.
Lựa chọn nội dung, ngôn ngữ phù hợp với ngữ cảnh và đối tượng
giao tiếp; biết kiềm chế; tự tin nói trước đông người.
Chủ động đề xuất mục đích hợp tác để giải quyết một vấn đề do
bản thân và những người khác đề xuất; lựa chọn hình thức làm
việc nhóm với quy mô phù hợp với nhu cầu và nhiệm vụ.
Tự nhận trách nhiệm và vai trò của mình trong hoạt động chung
của nhóm; phân tích được các công việc cần thực hiện để hoàn
thành nhiệm vụ đáp ứng được mục đích chung, đánh giá khả năng
của mình có thể đóng góp thúc đẩy hoạt động của nhóm.
6. Năng lực Phân tích được khả năng của từng thành viên để tham gia đề xuất
hợp tác
phương án phân công công việc; dự án phương án phân công, tổ
chức hoạt động hợp tác.