LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu là của riêng tôi. Kết quả nêu trong
luận văn là trung thực, số liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng .
Luận văn không sao chép bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã từng công bố.
BÙI THỊ MAI PHƯƠNG
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn: “ Giải pháp nâng cao
CLTD tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Tây Hồ”,
em đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý quý báu của Quý thầy cô Trường Đại
học Kinh tế Quốc dân.
Lời đầu tiên, em xin bày tỏ tình cảm chân thành và gửi lời cảm ơn tới toàn
thể thầy cô giáo của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân và đặc biệt là các thầy cô
giáo Viện Ngân hàng Tài chính đã tận tình dạy bảo, truyền đạt lại cho em những
kiến thức bổ ích trong suốt thời gian học tập tại nhà trường.
Em xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới Cao Thị Ý Nhi, người đã dành rất nhiều
thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu, bổ sung ý tưởng và giúp đỡ em hoàn
thành tốt bài luận văn này.
Nhân đây, em cũng xin trân trọng cảm ơn ban lãnh đạo và anh chị em đồng
nghiệp tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi
nhánh Tây Hồ đã hỗ trợ, tạo điều kiện và động viên em trong quá trình thực hiện
luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, ngày…..tháng …. năm 2015
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN....................................................................................................1
LỜI CẢM ƠN..........................................................................................................2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1
BIDV Tây Hồ
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
CLTD
NHNN
CBTD
NHTM
TSBĐ
RRTD
TMCP
TCTD
DNNN
DNNQD
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Tây Hồ
CLTD
Error:
Error: Reference source not found
Bảng 2.5:
Dư nợ tín dụng tại BIDV Tây Hồ....Error: Reference source not found
Bảng 2.6:
Cơ cấu dư nợ tín dụng theo thành phần kinh tế Error: Reference source
not found
Bảng 2.7:
Cơ cấu dư nợ tín dụng theo thời gian tại BIDV Tây Hồ...............Error:
Reference source not found
Bảng 2.8:
Cơ cấu dư nợ tín dụng theo ngành nghề kinh doanh tại Chi nhánh
.........................................................Error: Reference source not found
Bảng 2.9:
Cơ cấu dư nợ tín dụng theo tài sản đảm bảo.....Error: Reference source
not found
Bảng 2.10:
Giá trị TSBĐ tại Chi nhánh..............Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.5: Cơ cấu dư nợ tín dụng theo ngành nghề kinh doanh tại Chi nhánh
.........................................................Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.6: Tình hình trích lập DPRR tín dụng tại BIDV Tây Hồ. Error: Reference
source not found
SƠ ĐỒ
LỜI CAM ĐOAN....................................................................................................1
LỜI CAM ĐOAN....................................................................................................1
LỜI CẢM ƠN..........................................................................................................2
LỜI CẢM ƠN..........................................................................................................2
BIỂU ĐỒ 2.1: SỐ DƯ HUY ĐỘNG VỐN TẠI CHI NHÁNH............................34
2.1.3.3 Hoạt động dịch vụ khác........................................................................................................35
BẢNG 2.3: CƠ CẤU THU DỊCH VỤ RÒNG CHI NHÁNH GIAI ĐOẠN 2010 2014......................................................................................................................... 36
2.1.3.4 Kết quả hoạt động kinh doanh.............................................................................................37
BẢNG 2.4: KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CHI NHÁNH GIAI
ĐOẠN 2010 - 2014.................................................................................................37
2.2. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP
ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH TÂY HỒ GIAI
ĐOẠN TỪ 2008 - 2014
38
Bảng 2.9: Cơ cấu dư nợ tín dụng theo tài sản đảm bảo............................................48
Biểu đồ 2.6: Tình hình trích lập DPRR tín dụng tại BIDV Tây Hồ................................................58
2.3.1. Kết quả đạt được...............................................................................................................................59
2.3.2. Hạn chế trong hoạt động tín dụng tại BIDV Tây Hồ..................................................................60
2.3.3.1. Nguyên nhân từ phía Chi nhánh:........................................................................................61
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
67
của toàn bộ nền kinh tế nói chung. Ngược lại, khi đồng vốn tín dụng không được sử
dụng tốt, có hiệu quả sẽ khiến cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng không ổn định
và suy yếu. Trong giai đoạn hiện nay, khi toàn bộ nền kinh tế thế giới và nền kinh tế
trong nước đều gặp khó khăn thì việc làm thế nào để tăng trưởng tín dụng những vẫn
đảm bảo CLTD luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu của các TCTD, các cơ quan
quản lý Nhà Nước và NHNN.
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Tây Hồ là Chi
nhánh được thành lập từ năm 2008. Trong năm 2011 và 2012, tỷ lệ nợ xấu của Chi
nhánh có dấu hiệu tăng cao vượt quá tỷ lệ nợ xấu theo định hướng của BIDV. Vậy đâu
là nguyên nhân và làm thế nào để nâng cao CLTD của Chi nhánh.
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, tôi chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao CLTD tại
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Tây Hồ” làm đề tài
nghiên cứu
2
2. Mục đích nghiên cứu
- Khái quát những vấn đề chung về CLTD của NHTM;
- Phân tích, đánh giá về thực trạng chất lượng hoạt động tín dụng tại Ngân
hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Tây Hồ để từ đó đưa ra
những mặt đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế cần giải quyết;
-
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng trong hoạt động tín
dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Tây Hồ và đề
xuất những kiến nghị đối với các bộ, ban ngành có liên quan.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Thương mại.
nhánh Tây Hồ: lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức, các hoạt động kinh doanh của
ngân hàng…;
+ Các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Đầu tư và
Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Tây Hồ.
5. Kết cấu của đề luận văn
- Tên đề tài: “ Giải pháp nâng cao CLTD tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát
triển Việt Nam - Chi nhánh Tây Hồ ”
- Kết cấu đề tài: Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 3 chương:
+ Chương 1: Lý luận về tín dụng ngân hàng và CLTD ngân hàng thương mại.
+ Chương 2: Thực trạng CLTD tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt
Nam - Chi nhánh Tây Hồ
+ Chương 3: Giải pháp nâng cao CLTD tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát
triển Việt Nam - Chi nhánh Tây Hồ
4
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ CHẤT LƯỢNG
TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Khái niệm về tín dụng Ngân hàng Thương mại
Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ
thể, trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên kia được sử dụng
trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận được phải cam kết hoàn trả theo
thời hạn đã thỏa thuận
Tín dụng ngân hàng được hiểu là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn
từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí
nhất định. Tại Luật các TCTD ban hành năm 2010 đã đưa ra khái niệm về tín dụng
ngân hàng như sau: “Hoạt động tín dụng là việc TCTD sử dụng nguồn vốn tự có,
khoản tín dụng này thường được dùng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời nhu cầu vốn
lưu động của các doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Hiện nay,
trong tổng dư nợ tín dụng tại các NHTM tín dụng ngắn hạn thường chiếm tỷ trọng
cao nhất do đây là loại tín dụng ít rủi ro cho ngân hàng.
- Tín dụng trung hạn: là loại hình tín dụng có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm và
chủ yếu được sử dụng để đầu tư tài sản cố định, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây
dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Bên cạnh đầu tư
tài sản cố định, tín dụng trung hạn còn là nguồn hình thành vốn lưu động thường
xuyên của các doanh nghiệp và nhu cầu tiêu dùng cá nhân như: mua sắm các tài sản
có giá trị lớn hay đầu tư bất động sản……
- Tín dụng dài hạn: là loại hình tín dụng có thời hạn trên 5 năm. Tín dụng dài
hạn nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc mua sắm các máy móc thiết bị có giá
trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài và thường là đầu tư cho các chương trình dự án
mang tính chiến lược của doanh nghiệp và có thời gian thu hồi vốn lâu.
b. Căn cứ theo đảm bảo:
- Tín dụng có bảo đảm: là hình thức cấp tín dụng có TSBĐ hoặc có sự bảo
lãnh của bên thứ ba. Trên nguyên tắc không phải bất cứ một nghiệp vụ tín dụng nào
cũng phải có bảo đảm. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, điều đó rất có thể dẫn đến rủi
ro của các ngân hàng cho vay. Do vậy, trên thực tế, biện pháp bảo đảm thường được
coi là điều kiện tất yếu của nghiệp vụ tín dụng, bảo đảm phải luôn đi liền với nghiệp
6
vụ tín dụng đồng thời nó cũng là nguồn thanh toán thứ cấp nếu khách hàng vay
không thanh toán được nợ vay.
- Tín dụng không có bảo đảm (tín chấp): là loại cho vay không có tài sản thế
chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của bên thứ ba mà việc cho vay chỉ dựa trên uy tín
của khách hàng. Ngân hàng chỉ thực hiện cấp loại hình tín dụng này cho những
của NHTM đối với doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp giải quyết những vướng mắc
tài chính tạm thời. Phương thức này ngân hàng chỉ áp dụng đối với những khách
hàng có quan hệ tín dụng lâu năm và có uy tín.
+ Cho vay theo dự án đầu tư: là phương thức cho vay đối với khách hàng có
nhu cầu vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống.
+ Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành, sử dụng thẻ tín dụng: là hình thức
cấp tín dụng theo đó ngân hàng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn
vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và
rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động.
+ Cho vay theo hạn mức thấu chi: là hình thức cho vay mà ngân hàng thỏa
thuận cho phép khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản tiền gửi thanh toán của
khách hàng trong phạm vi hạn mức tín dụng được cấp.
- Chiết khấu thương phiếu: là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn của NHTM, trong
đó khách hàng chuyển nhượng quyền sở hữu những thương phiếu chưa đến hạn
thanh toán cho NHTM để nhận lại một số tiền tương ứng với giá trị của thương
phiếu trừ đi lợi tức và hoa hồng phí.
- Bảo lãnh: là hình thức cấp tín dụng theo đó bên bảo lãnh cam kết bằng văn
bản với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo
lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa
vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả
cho bên bảo lãnh theo thỏa thuận. Bảo lãnh bao gồm các loại: Bảo lãnh thanh toán;
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng; Bảo lãnh bảo hành (bảo lãnh chất lượng sản phẩm);
Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước; Bảo lãnh vay vốn; Bảo lãnh thanh toán
- Cho thuê tài chính: là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua
việc cho thuê máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên
cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê. Khi kết thúc thời hạn thuê,
bên thuê được ưu tiên mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã
được thỏa thuận trong hợp đồng.
muốn tăng lượng tiền cung ứng thì NHNN có thể tăng hạn mức tín dụng của các
NHTM đối với nền kinh tế và ngược lại. Như vậy, thông qua hoạt động tín dụng
NHNN có thể kiểm soát được khối lượng tiền tệ lưu thông trong nền kinh tế.
Thứ ba, tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy, củng cố chế độ hạch toán kế
9
toán, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Một đặc trưng cơ bản của hoạt động tín dụng là sự vận động trên cơ sở có
hoàn trả và có lợi tức. Ngân hàng huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của
mọi thành kinh tế và cho vay khi họ tạm thời thiếu vốn. Các doanh nghiệp trong khi
sử dụng vốn vay có quan hệ ràng buộc với ngân hàng bởi trách nhiệm phải hoàn trả
đầy đủ, đúng hạn nợ gốc và nợ lãi trong một thời gian nhất định. Điều này đòi hỏi
các doanh nghiệp phải giảm thiểu chi phí, tăng vòng quay của vốn đảm bảo kinh
doanh có lãi, đồng thời tăng hiệu quả của họa động tín dụng ngân hàng. Muốn vậy
các doanh nghiệp phải xem xét lại chế độ hạch toán kế toán nhằm giám sát mọi hoạt
động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Như vậy,
có thể nói hoạt động cho vay của các ngân hàng đã góp phần làm cho các doanh
nghiệp có ý thức hơn trong cơ chế quản lý tài chính, quản lý đồng vốn của mình, từ
đó tăng cường củng cố chế độ hạch toán kế toán thêm vững chắc.
Thứ tư, tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan hệ
giao lưu kinh tế quốc tế
Với xu thế toàn cầu hóa như hiện nay thì việc phát triển kinh tế của một nước
luôn phải gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thế giới. Trong nền kinh tế mở,
các doanh nghiệp không những chỉ có quan hệ mua bán trong nước mà còn có hoạt
động xuất nhập khẩu với các đối tác nước ngoài. Vốn là nhân tố quyết định đầu tiên
cho việc thực hiện quá trình này. Tuy nhiên, trên thực tế không phải doanh nghiệp
nào cũng có đủ vốn để hoạt động nên tín dụng ngân hàng đã trở thành cầu nối nối
liền kinh tế các nước với nhau. Thông qua các hình thứ tín dụng như: ủy thác đầu
doanh nhằm tạo ra một số tiền lớn hơn để hoàn trả cả gốc, lãi cho ngân hàng đúng
hạn. Tóm lại, CLTD của ngân hàng chính là sự đáp ứng một cách tốt nhất, nhanh
nhất nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng, phù hợp với sự phát triển của xã hội
và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
Qua phân tích trên, ta thấy CLTD được đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau,
cụ thể:
- Đối với bên đi vay: CLTD chính là chất lượng của sản phẩm tín dụng do ngân
hàng cung cấp. CLTD cao đồng nghĩa với việc ngân hàng cung cấp kịp thời và đầy đủ
nhu cầu vay vốn của khách hàng, đáp ứng nhu cầu về: kỳ hạn vay, lãi suất, thủ tục gọn
nhẹ, thái độ phục vụ của ngân hàng đối với khách hàng v.v….Từ đó, tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp phát triển hoạt dộng sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
- Đối với ngân hàng: Nguyên tắc cơ bản trong hoạt động tín dụng của ngân hàng
là vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ và đúng hạn. Vì vậy, CLTD là khoản tín dụng
11
hoàn trả đúng hạn bao gồm cả gốc và lãi, hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro trong quá
trình hoạt động, mang lại lợi nhuận và đảm bảo thanh khoản cho ngân hàng.
- Đối với nền kinh tế: CLTD thể hiện ở việc tạo ra hiệu quả kinh tế và cải thiện
đời sống xã hội. Thông qua các khoản vay tín dụng mà Ngân hàng cung ứng, các
chủ thể kinh tế sẽ có vốn để mở rộng sản xuất, góp phần nâng cao năng suất lao
động, tăng chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản xuất. Đồng thời, thông qua đó
sẽ góp phần thực hiện các nhiệm vụ kinh tế vĩ mô của Nhà Nước như: giải quyết
công ăn việc làm cho xã hội, tăng thu nhập cho dân cư, tăng nguồn thu cho Ngân
sách Nhà Nước, và đặc biệt là góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước.
CLTD là một khái niệm rất bao quát (đó là đáp ứng tốt nhất nhu cầu của
khách hàng, luôn gia tăng tiện ích cho khách hàng….) nhưng cũng rất cụ thể,
như: tỷ lệ tăng trưởng về dư nợ, tỷ lệ nợ quá hạn, lợi nhuận trên đồng vốn v.v....
quốc gia.
- Tín dụng có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chính sách kinh tế vĩ
mô: Thông qua tín dụng, Chính Phủ có thể quản lý và thực hiện các chương trình
kinh tế lớn một cách có hiệu quả. Thực tế cho thấy, các chương trình kích thích xuất
khẩu, kích thích tiêu dùng trong nước đều được cấp vốn thông qua các NHTM, hiệu
quả được đánh giá kỹ hơn và Chỉnh Phủ cũng quản lý dễ dàng hơn các chương trình
đầu tư này. Ngoài ra, Chính Phủ còn có thể hướng tín dụng vào các ngành kinh tế
chủ lực, phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa để các ngành này đi đầu,
tạo đà cho sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
1.2.2.2. Đối với NHTM
Trong hoạt động kinh doanh của các NHTM, nguồn thu từ tín dụng luôn là
nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn nhất của các ngân hàng. Vì vậy, nâng cao CLTD đã trở
thành vấn đề sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng. Điều này
được thể hiện ở một số điểm sau:
- Nâng cao CLTD là yêu cầu để NHTM đảm bảo an toàn về sử dụng vốn: Bên
cạnh sự phát triển chưa bền vững của NHTM trong nước, sự đóng băng của thị
trường bất động sản và nhiều yếu tố biến động khác trên thị trường cũng có tác
động không nhỏ tới hoạt động của các doanh nghiệp và CLTD các NHTM. Sẽ có
nhiều doanh nghiệp không chịu được sức ép cạnh tranh phải giải thể, phá sản
khiến khách hàng không trả nợ đúng hạn, ngân hàng cho vay không thu hồi được
vốn. Khi rủi ro này xảy ra sẽ làm giảm khả năng sinh lời, đe dọa đến khả năng
13
thanh toán thậm chí có thể gây ra nguy hiểm cho ngân hàng. Do đó, việc nâng
cao CLTD sẽ góp phầm giảm thiểu rủi ro, đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh
doanh của các NHTM.
- Nâng cao CLTD làm tăng khả năng sinh lời từ sản phẩm - dịch vụ của
NHTM: Khi ngân hàng và khách hàng có mối quan hệ tốt, thường xuyên, đáng tin
Do khả năng thanh toán lại có mối quan hệ mật thiết với CLTD nên việc nâng cao
CLTD là vấn đề cần thiết vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến những khoản tiền gửi của
khách hàng tại ngân hàng.
- Đối với khách hàng vay vốn: Thông qua việc quản lý CLTD của NHTM đã
giúp khách hàng rút ngắn thời gian thẩm định và phê duyệt các khoản vay; từ đó tạo
điều kiện cho khách hàng kịp thời tiếp cận các cơ hội kinh doanh. Đồng thời, trên
cơ sở đánh giá CLTD của từng khoản vay ở mỗi khách hàng sẽ giúp cho khách hàng
có thể thỏa thuận với ngân hàng về các điều kiện cấp tín dụng phù hợp như: lãi suất;
kỳ hạn vay và trả nợ; biện pháp bảo đảm tiền vay……Mặt khác, để đảm bảo CLTD,
ngân hàng phải thường xuyên tiến hành kiểm tra việc sử dụng vốn vay của khách
hàng để có thể nắm bắt kịp thời tình hình sản xuất, tình hình tài chính cũng như mục
đích sử dụng vốn vay của khách hàng thông qua đó cùng với khách hàng uốn nắn và
chấn chỉnh những sai sót trong hoạt động tài chính của họ.
1.2.3. Một số chỉ tiêu chủ yếu đánh giá CLTD của NHTM
1.2.3.1. Các chỉ tiêu định tính:
Chỉ tiêu định tính là những chỉ tiêu mang tính tương đối, rất khó xác định và
thường được thể hiện qua khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng đồng thời đảm
bảo sự phát triển của ngân hàng và đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước.
Nghĩa là CLTD cần được xem xét gắn liền với ba chủ thể là khách hàng, NHTM và
nền kinh tế - xã hội.
Mức độ đáp ứng nhu cầu của khách hàng là biểu hiện của CLTD. CLTD được
đánh giá là tốt khi ngân hàng đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Mỗi một
khách hàng đều có nhu cầu tín dụng khác nhau về số tiền vay, thời hạn vay, mục
đích vay…Vì vậy, các NHTM phải có một đội ngũ cán bộ tinh thông về nghiệp vụ
để tư vấn cho khách hàng vay vốn một cách hợp lý nhất. Mặt khác, để thu hút khách
hàng các NHTM cũng phải cung cấp cho khách hàng nhiều sản phẩm và dịch vụ
hấp dẫn bằng nhiều hình thức như lãi suất thấp, thời gian giải quyết món vay nhanh,
tăng tỷ lệ cho vay trên TSBĐ… Nếu thực hiện tốt những vấn đề trên thì hoạt động
vay bị chuyển sang trạng thái quá hạn là các khoản vay có vấn đề, khách hàng
không có khả năng trả nợ ngân hàng, khả năng mất vốn của ngân hàng tăng, điều đó
có nghĩa là tính an toàn của khoản vay thấp. Khi phát sinh nợ quá hạn sẽ liên quan
trực tiếp đến thanh khoản và rủi ro thanh khoản, khiến ngân hàng gia tăng chi phí
do phải tìm nguồn mới để chi trả tiền gửi và cho vay đúng hợp đồng. Nợ quá hạn
16
phản ánh CLTD thấp song không một NHTM nào tránh được nợ quá hạn. Đôi
khi nợ quá hạn xảy ra không phải xuất phát từ phía khách hàng mà là từ chính
bản thân nội tại ngân hàng. Như cán bộ tín dụng không đánh giá đúng chu kỳ
kinh doanh của khách hàng dẫn đến định kỳ hạn trả nợ không phù hợp với chu
kỳ kinh doanh từ đó tất yếu phát sinh nợ quá hạn. Hay nợ quá hạn nhưng có khả
năng thu hồi do khách hàng có kế hoạch kinh doanh và trả nợ tốt, tài sản đảm
bảo giá trị lớn...thì không thể vì thế đánh giá ngay CLTD là thấp. Vì vậy, khi
đánh giá CLTD phải đánh giá thêm chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn.
Tỷ lệ nợ quá hạn: là chỉ tiêu quan trọng và phổ biến nhất khi đánh giá về
CLTD của ngân hàng vì nó biểu hiện cho những rủi ro tiềm ẩn về khả năng thu hồi
gốc và lãi vay mà ngân hàng đang phải đối mặt
Nợ quá hạn
x 100
Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này biểu hiện tỷ lệ phần trăm giữa dư nợ tín dụng được cấp ra mà
Tỷ lệ nợ quá hạn
=
không thu hồi được đúng hạn chia cho tổng dư nợ tín dụng tại một thời điểm. Đây
là chỉ tiêu quan trọng và phổ biến khi đánh giá CLTD cả ngân hàng vì nó phản ánh
đúng lịch trả nợ, vi phạm các thỏa thuận đã ký hoặc xảy ra các trường hợp rủi ro
không lường trước mà ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng trả nợ của doanh
nghiệp. Để có thể phát hiện nợ xấu ngân hàng phải thường xuyên kiểm tra, giám
sát hoạt động sau cho vay. Việc phát hiện sớm các khoản nợ xấu sẽ giúp ngân
hàng đưa ra các biện pháp xử lý kịp thời. Theo thông tư 02/2013/TT - NHNN
ngày 21/01/2013 quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập
dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước
ngoài của Thống đốc NHNN quy định nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4 và 5
Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ phần trăm giữa nợ xấu và tổng dư nợ của NHTM ở một
thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm. Chỉ tiêu này được
tính theo công thức sau:
Tỷ lệ nợ xấu =
x 100%
Tỷ lệ nợ xấu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá CLTD của
ngân hàng, nó phản ánh những rủi ro tín dụng mà ngân hàng phải đối mặt. Một ngân
hàng có tỷ lệ nợ xấu cao thì khả năng không thu hồi được nợ vay là rất lớn qua đó ảnh
hưởng tới khả năng thanh toán và kết quả kinh doanh và CLTD của ngân hàng. Nợ xấu
là điều không mong muốn của mỗi ngân hàng. Tuy nhiên, trên thực tế nợ xấu là một
vấn đề khó tránh khỏi trong nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng do bất cứ doanh nghiệp
nào trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh cũng có thể gặp rủi ro từ đó dẫn đến
tình trạng chậm trả nợ gốc, nợ lãi cho ngân hàng. Do đó, điều quan trọng là các NHTM
cần duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp nhất có thể chấp nhận được. Theo ngân hàng thế
giới, tỷ lệ này ở mức dưới 5% là có thể chấp nhận được, tốt ở mức từ 1 - 3%.
c/Chỉ tiêu mức trích lập dự phòng rủi ro
Mức trích lập dự phòng rủi ro là một chỉ tiêu chi phí trong hoạt động tín dụng
của các NHTM, do đó nó đóng vai trò quyết định trực tiếp việc lợi nhuận có tăng
lên cùng với sự mở rộng cho vay hay không. Mỗi nước có quy đinh về trích lập dự
nhuận, tăng giá trị tài sản chủ sở hữu, ngân hàng cũng vậy, ngân hàng luôn tìm cách
tăng mức sinh lời vốn tín dụng nhằm tăng hiệu quả cũng như thu nhập của mình.