ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHAN ĐÌNH KIÊN
VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG HOẠT
ĐỘNG ĐIỀU TRA, THU THẬP CHỨNG CỨ TRONG
GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ (TRÊN CƠ
SỞ THỰC TIỄN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHAN ĐÌNH KIÊN
VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG HOẠT
ĐỘNG ĐIỀU TRA, THU THẬP CHỨNG CỨ TRONG
GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ (TRÊN CƠ
SỞ THỰC TIỄN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN)
Chuyên ngành:Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8380101.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Duy Giảng
HÀ NỘI - 2019
KSND
VAHS
XHCN
An ninh trật tự
Bộ Công an
Bộ luật Hình sự
Bộ luật Tố tụng Hình sự
Công an nhân dân
Cảnh sát điều tra
Cảnh sát nhân dân
Điều tra tội phạm
Điều tra viên
Kiểm sát nhân dân tối cao
Tổ chức điều tra hình sự
Trật tự an toàn xã hội
Tố tụng hình sự
Trật tự xã hội
Kiểm sát nhân dân
Vụ án hình sự
Xã hội chủ nghĩa
ii
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
LỜI CAM ĐOAN.............................................................................................i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT................................................................ii
Thái Nguyên để thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự......26
2.2.2. Thực trạng hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân các cấp của tỉnh
Thái Nguyên đối với hoạt động điều tra thu thập chứng cứ trong điều tra
các vụ án hình sự............................................................................................28
2.3. Nhận xét, đánh giá chung.........................................................................34
2.3.1. Những kết quả đạt được........................................................................34
2.3.2. Một số hạn chế, thiếu sót.......................................................................35
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót...........................................39
Kết luận chương 2.........................................................................................46
Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA
VIỆN KIỂM SÁT ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA THU THẬP
CHỨNG CỨ TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN........................................................................48
3.1. Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong
hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động điều tra thu thập
chứng cứ..........................................................................................................48
3.2. Hoàn thiện tổ chức bộ máy Viện kiểm sát nhân dân hai cấp của tỉnh Thái
Nguyên và đội ngũ Kiểm sát viên, Kiểm tra viên đáp ứng yêu cầu của cải
cách tư pháp.....................................................................................................51
3.3. Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, phối hợp giữa các lực
lượng trong thực hành quyền công tố và kiển sát điều tra các vụ án hình sự..55
3.4. Nâng cao chất lượng, thực hiện có hiệu quả các biện pháp thực hành
quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình khởi tố,
điều tra vụ án hình sự.....................................................................................62
iv
3.5. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động thực hành
quyền công tố, kiểm sát các hoạt động điều tra thu thập chứng cứ trong các vụ
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, hoạt động điều tra đóng vai trò
quan trọng trong việc làm sáng tỏ sự thật của vụ án xảy ra, tạo cơ sở vững
chắc cho việc truy tố và xét xử vụ án hình sự được công minh, đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm.
Để điều tra, khám phá vụ án hình sự xảy ra, Cơ quan điều tra (sau đây
viết tắt là CQĐT) thường phải sử dụng nhiều lực lượng trong sự phối hợp chặt
chẽ với nhau, phải sử dụng đồng bộ các lĩnh vực khoa học, vận dụng linh
hoạt, sáng tạo những phương pháp, biện pháp, thủ thuật và các phương tiện kỹ
thuật vào việc phát hiện, thu thập chứng cứ.
Trong quá trình điều tra vụ án, hàng ngày các Điều tra viên phải tiếp xúc
với các chứng cứ, người làm chứng, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị tạm giữ, người bị
tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người phạm tội tự thú, đầu thú, người bị
bắt, bị tạm giữ, người tố giác, báo tin về tội phạm, người chứng kiến, bị can,
bị cáo..., cộng với sức ép từ thời hạn điều tra, yêu cầu của xã hội trong việc
giải quyết vụ án, nên sẽ không tránh khỏi bị tác động dẫn đến sai sót, những
nhận định mang tính chủ quan trong quá trình thu thập đánh giá chứng cứ.
Bên cạnh đó, với lượng án nhiều, nếu không có sự kiểm tra chặt chẽ có thể
dẫn đến bỏ bê, trì trệ trong việc thu thập chứng cứ. Để giúp Cơ quan điều tra
kịp thời phát hiện ra những sai sót, đồng thời hỗ trợ, giám sát quá trình thu
thập chứng cứ, Bộ luật tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là Bộ luật TTHS) quy
định Viện kiểm sát nhân dân (sau đây viết tắt là Viện KSND) với hai chức
năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết vụ án hình sự có
trách nhiệm đảm bảo các chứng cứ thu thập được trong giai đoạn điều tra phải
đúng quy định của pháp luật, chính xác, nhanh chóng, kịp thời.
Trong những năm gần đây, thực tiễn điều tra vụ án hình sự ở nước ta nói
2
Trong những năm qua, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện
KSND trong giải quyết vụ án hình sự đã có nhiều công trình khoa học nghiên
cứu liên quan đến vai trò của Viện KSND, như:
- Sách chuyên khảo: Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động
tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2005 do TS. Lê Hữu
Thể Chủ biên;
- Quyền công tố ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Khoa Luật - Đại học Quốc
gia Hà Nội, năm 2002 của tác giả Lê Thị Tuyết Hoa ;
- Vai trò của Viện kiểm sát trong việc áp dụng các biện pháp ngăn
chặn: bắt, tạm giữ, tạm giam trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, luận
văn thạc sĩ, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2010 của tác giả
Nguyễn Bá Phùng;
- Vai trò của Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án hình sự, luận văn thạc
sĩ, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2014 của tác giả Nguyễn
Khắc Quang.
Về vấn đề thu thập chứng cứ cũng đã có một số công trình đề cập đến
vấn đề này nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống,
toàn diện hoặc chưa nghiên cứu dưới góc độ vai trò của Viện KSND đối với
hoạt động này trong giai đoạn điều tra, đồng thời cũng chưa có nghiên cứu
nào tìm hiểu một cách sâu sắc cụ thể trên địa bản tỉnh Thái Nguyên.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Luận văn được nghiên cứu nhằm mục đích hoàn thiện cơ
sở lý luận và đưa ra giải pháp nâng cao vai trò của Viện KSND đối với hoạt
động thu thập chứng cứ trong điều tra các vụ án hình sự (sau đây viết tắt là
VAHS) trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ của luận
+ Thời gian nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình, diễn
biến tội phạm và hoạt động của Viện KSND đối với hoạt động thu thập chứng
cứ trong điều tra các vụ án hình sự từ năm 2014 đến 6 tháng đầu năm 2019.
4
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phép biện
chứng duy vật và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Viện KSND tối cao về hoạt
động tư pháp.
- Trên cơ sở phương pháp luận khoa học, luận văn sử dụng các phương
pháp nghiên cứu cụ thể sau:
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp: Được sử dụng để nghiên cứu làm rõ
các vấn đề lí luận, trên cơ sở đó xác định các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
và đưa ra các quan điểm của tác giả về vấn đề cần giải quyết.
+ Phương pháp thống kê khoa học: Phương pháp này được sử dụng để
thống kê tình hình tội phạm và các số liệu về thực trạng hoạt động của Viện
KSND đối với các hoạt động điều tra thu thập chứng cứ các vụ án hình sự của
Cơ quan điều tra, qua đó đánh giá sự biến động, thay đổi, diễn biến của các
yếu tố liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận văn.
+ Phương pháp so sánh: Được sử dụng để đối chiếu giữa giữa lí luận với
thực tiễn để xác định những vấn đề cần phải sửa đổi, bổ sung nhằm đảm bảo
tính phù hợp của pháp luật với yêu cầu của thực tiễn.
+ Phương pháp khảo sát thực tế: Trên cơ sở khảo sát điển hình thực tế
hoạt động của Viện KSND đối với hoạt động thu thập chứng cứ, trong điều tra
một số vụ án nhằm rút ra những ưu điểm, nhược điểm của quy trình tiến hành
các hoạt động này trong thực tiễn nhằm rút ra những kinh nghiệm hay và phát
hiện các nhược điểm để có những kiến nghị phù hợp.
thành cẩm nang, quy trình để nghiên cứu phục vụ hoạt động của Viện kiểm
sát đối với hoạt động điều tra vụ án hình sự của cơ quan điều tra trong thời
gian tới.
- Xây dựng, đề xuất các giải pháp nâng cao vai trò của Viện KSND đối
với hoạt động thu thập chứng cứ trong điều tra vụ án hình sự trong thời gian
tới trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
7. Ý nghĩa khoa học của Luận văn
6
- Ý nghĩa lí luận của luận văn: Luận văn được hình thành trên cơ sở khái
quát lí luận và đánh giá thực tiễn hoạt động của Viện KSND trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên trong thời gian qua, nên kết quả nghiên cứu sẽ góp phần hoàn
thiện hệ thống lí luận về hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động của Viện
KSND nói riêng trong giai đoạn hiện nay. Luận văn là một tài liệu tham khảo
dùng cho nghiên cứu, giảng dạy học tập chuyên ngành tư pháp hình sự.
- Ý nghĩa thực tiễn của luận văn: Các giải pháp nêu trong luận văn có thể
giúp cho Viện KSND các cấp nghiên cứu áp dụng trong thực tiễn để nâng cao
vai trò của Viện KSND đối với hoạt động điều tra thu thập chứng cứ trong
điều tra các vụ án hình sự.
Những kết luận, đề xuất của luận văn được đúc rút từ việc nghiên cứu lí
luận về vai trò của Viện KSND trong điều tra các VAHS có thể được áp dụng
trong thực tế nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Viện
KSND trong thời gian tới.
8. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề tài được kết cấu thành 3 chương, 7 tiết.
Chương 1: Một số vấn đề chung về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân
đối với hoạt động thu thập chứng cứ trong điều tra vụ án hình sự
Chương 2: Tình hình có liên quan và thực trạng hoạt động của Viện kiểm
ngoài nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra.
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện: Theo quy định tại
Điều 21 Luật tổ chức Điều tra Hình sự, trong điều tra vụ án hình sự, Cơ quan
CSĐT công an cấp huyện có thẩm quyền tiến hành điều tra vụ án hình sự về
các tội phạm quy định tại các chương từ Chương XIV đến Chương XXIV của
8
Bộ luật hình sự khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân
dân cấp huyện, trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều
tra Viện KSND tối cao và Cơ quan An ninh điều tra của Công an nhân dân.
- Các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra các vụ án thuộc thẩm quyền của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an
cấp tỉnh: Các cơ quan của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra gồm có Phòng Cảnh sát giao thông; Phòng Cảnh sát
phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; Phòng Cảnh sát phòng, chống tội
phạm về môi trường; Phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công
nghệ cao; Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương; Trại giam. Các cơ quan này, nếu khi đang làm nhiệm vụ phát hiện thấy
sự việc có dấu hiệu tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát
điều tra thì tiến hành khởi tố vụ án hình sự và tiến hành các hoạt động điều tra
ban đầu trong thời hạn 07 ngày, sau đó phải chuyển vụ án và các tài liệu có
liên quan cho Cơ quan Cảnh sát điều tra có thẩm quyền.
Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, các cơ quan điều tra tiến hành các
hoạt động điều tra theo luật định để thu thập chứng cứ
1.2. Một số vấn đề lí luận về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân đối
với hoạt động thu thập chứng cứ trong điều tra vụ án hình sự
1.2.1. Vị trí của Viện kiểm sát nhân dân đối với hoạt động thu
thập chứng cứ trong giai đoạn điều tra
quan trọng trong việc đảm bảo cho các chứng cứ thu thập trong giai đoạn điều
tra bảo đảm khác quan, toàn diện, đầy đủ. Viện KSND vừa có vai trò kiểm tra
giám sát hoạt động thu thập đánh giá chứng cứ của Cơ quan điều tra để đảm
bảo giá trị chứng minh của chứng cứ, vừa có vai trò đốc thúc hoạt động thu
thập chứng cứ để bảo đảm thu thập chứng cứ kịp thời, đầy đủ, lại vừa có vai
trò trực tiếp thu thập chứng cứ trong giai đoạn điều tra để đảm bảo tính đầy đủ
của chứng cứ.
10
Viện KSND giữ một vị trí rất quan trọng đối với hoạt động thu thập chứng
cứ trong giai đoạn điều tra, là một trong những công cụ hữu hiệu để bảo vệ
pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống
nhất.
Hoạt động thu thập chứng cứ trong giai đoạn điều tra của Cơ quan Cảnh
sát điều tra chính là việc tiến hành các hoạt động điều tra và xem xét kết luận
về các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự. Với vị trí của mình,
Viện KSND có trách nhiệm phải bảo đảm giá trị chứng minh của chứng cứ,
bảo đảm tính kịp thời, toàn diện trong thu thập đánh giá chứng cứ và bảo đảm
tính đấy đủ của chứng cứ.
1.2.2. Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo đảm giá trị
chứng minh của chứng cứ được thu thập trong giai đoạn điều tra
1.2.2.1. Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc tạo cơ sở pháp lý
cho hoạt động điều tra thu thập chứng cứ
Các hoạt động điều tra thu thập chứng cứ chỉ được tiến hành sau khi có
quyết định khởi tố vụ án hình sự. Quyết định khởi tố vụ án hình sự chính là cơ
sở pháp lý cho các hoạt động điều tra. Chính vì vậy, vai trò của Viện KSND
các cơ quan có thẩm quyền khởi tố chỉ thực sự có giá trị sau khi đã được Viện
KSND xem xét, quyết định việc điều tra hay quyết định việc khởi tố. Điều đó
có nghĩa là, xét đến cùng việc khởi tố hay không khởi tố vụ án là do Viện
KSND quyết định.
Những hoạt động trên của Viện KSND sẽ tạo cơ sở cho các hoạt động
điều tra thu thập chứng cứ. Thông tin thu thập được chỉ có giá trị chứng minh
khi các hoạt động điều tra được tiến hành sau khi có quyết định khởi tố vụ án
hình sự.
1.2.2.2. Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo đảm tính đúng
12
đắn cho hoạt động điều tra thu thập chứng cứ
- Phê chuẩn, không phê chuẩn hoặc hủy bỏ các lệnh, quyết định tiến
hành các hoạt động điều tra của CQĐT: Viện KSND ra quyết định phê chuẩn
hoặc không phê chuẩn các quyết định của CQĐT như lệnh khám xét, quyết
định thu giữ thư tín điện tín. Đối với các quyết định tố tụng khác, nếu xác
định cơ quan điều tra ra quyết định không có căn cứ thì Viện KSND có quyền
hủy bỏ.
Viện KSND hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của CQĐT là quyền
năng quan trọng mà pháp luật quy định cho Viện KSND, thể hiện sự nghiêm
minh của pháp luật, là phương tiện bảo đảm cho các hoạt động điều tra thu
thập chứng cứ thực hiện theo pháp luật TTHS, tránh tùy tiện.
- Yêu cầu Thủ trưởng CQĐT thay đổi Điều tra viên: Khi phát hiện thấy
Điều tra viên thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều 51 Bộ luật
TTHS, Kiểm sát viên có quyền đề nghị Thủ trưởng CQĐT xem xét để thay
đổi Điều tra viên hoặc đề nghị Viện trưởng Viện KSND cấp mình xem xét để
yêu cầu Thủ trưởng CQĐT thay đổi Điều tra viên.
Quyền năng này của Viện KSND nhằm đảm bảo sự vô tư trong quá trình
tài liệu tạm giữ phù hợp với nhau. Đối với những đồ vật, tài liệu theo quy
định phải niêm phong thì cần xem xét chúng có được niêm phong đúng yêu
cầu và dấu niêm phong còn nguyên vẹn hay không.
+ Kiểm sát hoạt động hỏi cung bị can: Cơ sở pháp lý để Viện KSND
thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc hỏi cung bị can đó là
Bộ luật TTHS năm 2015, Điều 15 Luật Tổ chức Viện KSND năm 2014 và
Điều 16 quy chế công tác kiểm sát điều tra. Để kiểm sát hoạt động hỏi cung bị
can, Kiểm sát viên có thể trực tiếp tham gia các buổi hỏi cung của Điều tra
viên hoặc nghiên cứu biên bản hỏi cung. Kiểm sát hoạt động hỏi cung bị can
phải bảo đảm được ba yếu tố, đó là khách quan, trung thực và đúng pháp luật.
Kết quả lời khai của bị can phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án đã thu
14
thập được thì được coi là chứng cứ. Nếu lời khai của bị can không trung thực,
không khách quan thì lời khai đó không có giá trị chứng minh tội phạm. Viện
KSND phải bảo đảm các bản cung mà CQĐT tiến hành hỏi bị can phải làm rõ
được hành vi phạm tội của bị can đã bị khởi tố, những mâu thuẫn trong lời
khai của bị can cần phải được phân tích làm rõ. Bảo đảm hoạt động hỏi cung
bị can phải do Điều tra viên được phân công điều tra vụ án thực hiện.
+ Kiểm sát các hoạt động điều tra khác: Đối với các hoạt động điều tra
khác như lấy lời người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn
dân sự; đối chất; nhận dạng; xem xét dấu vết trên thân thể; thực nghiệm điều
tra; trưng cầu giám định, định giá tài sản, Bộ luật TTHS trao quyền chủ động
cho CQĐT. Luật TTHS cũng cho phép Viện KSND được tiến hành những
hoạt động này nhưng việc tiến hành các hoạt động đó là nội dung mang tính
chất thực hành quyền công tố hơn là kiểm sát hoạt động điều tra. Vì vậy, việc
kiểm sát các hoạt động điều tra này chủ yếu được thực hiện gián tiếp qua
nghiên cứu hồ sơ, xem xét kết quả các hoạt động đó của CQĐT.
KSND yêu cầu CQĐT áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt như ghi
âm, ghi hình bí mật, thu dữ liệu điện tử bí mật, nghe điện thoại bí mật. CQĐT
có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu này của Viện KSND.
1.2.3.2. Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo đảm tính toàn
diện, đầy đủ của việc thu thập chứng cứ trong giai đoạn điều tra
- Khi phát hiện việc điều tra không đầy đủ, vi phạm pháp luật thì Viện
kiểm sát yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra thực hiện các hoạt động:
+ Tiến hành hoạt động điều tra đúng pháp luật;
+ Kiểm tra việc điều tra và thông báo kết quả cho Viện KSND;
+ Cung cấp tài liệu liên quan đến hành vi, quyết định tố tụng có vi phạm
pháp luật trong việc điều tra.
- Tiến hành các hoạt động điều tra: Viện KSND cần trực tiếp tiến hành
16
điều tra trong các trường hợp, khi có yêu cầu của CQĐT hoặc qua kiểm sát
việc hỏi cung phát hiện thấy bị can kêu oan, lời khai của bị can trước sau
không thống nhất; bị can có khiếu nại về việc điều tra; có căn cứ để nghi ngờ
về tính xác thực của lời khai bị can; trường hợp bị can bị khởi tố về tội đặc
biệt nghiêm trọng thì Viện KSND có thể trực tiếp gặp, hỏi cung bị can. Sau
khi nhận hồ sơ vụ án, nếu có nghi ngờ về tài liệu, chứng cứ; các chứng cứ
quan trọng của vụ án có mâu thuẫn; trường hợp vụ án đặc biệt nghiêm trọng,
có nhiều tình tiết phức tạp khó thống nhất về tính chất vụ án hoặc để củng cố
tài liệu chứng cứ phục vụ cho việc truy tố, thì Viện KSND có thể trực tiếp hỏi
cung bị can. Kiểm sát viên khi hỏi cung bị can thì phải thực hiện theo đúng
quy định tại các Điều 131 và Điều 132 Bộ luật TTHS.
Để bảo đảm việc xét phê chuẩn các quyết định của CQĐT được chính
xác, Kiểm sát viên có thể triệu tập và lấy lời khai người làm chứng, người bị