TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y
TS.NGUYỄN THỊ THU HÈ
GIÁO TRÌNH CÁ
VÀ BỆNH CÁ
(Tài liệu lưu hành nội bộ)
Name:……………………………….
Lớp: Thú y K04
BUÔN MA THUỘT, NĂM 2008
2
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, nuôi cá nói riêng và nuôi trồng thủy sản nói chung đang có sự chú ý và
quan tâm của các ban ngành. Ở nhiều dự án, phát triển nuôi cá là một hợp phần rất quan
trọng, góp phần đáng kể trong việc cải thiện đời sống người dân. Trong lĩnh vực nuôi cá
không thể không quan tâm đến việc phòng trị bệnh cá, nhất là trong các ao nuôi thâm canh,
mật độ quá dày, sử dụng nhiều thức ăn, phân bón.
Nghiên cứu các yếu tố môi trường ảnh hưởng tới đời sống, năng suất thủy vực và
phòng, trị bệnh cho cá là những vấn đề cơ bản của môn học “Cá và bệnh cá” - môn học cho
sinh viên ngành Thú y, trường Đại học Tây Nguyên. Giáo trình này nhằm trang bị những
hiểu biết cơ bản về các yếu tố ảnh hưởng đến nuôi cá, phòng trị bệnh cá, nâng cao năng suất
cá nuôi trong các thủy vực. Khi học xong người học có thể chỉ đạo, hướng dẫn kỹ thuật và
trực tiếp thực hiện các hoạt động nuôi cá.
Đây là giáo trình được cấu tạo phù hợp với trình độ của sinh viên ngành thú y và kế
hoạch, thời gian phân bố của Trường. Nó dựa trên thành tựu của nhiều môn học, gần nhất là
môn Nuôi trồng thủy sản.
Sau khi học, yêu cầu người học nhận thức được những vấn đề sau:
- Hiểu được những vấn đề cơ bản nhất của giáo trình, cách bố cục giữa các chương và
tính lôgich của chương trình.
- Biết áp dụng những kiến thức đã học để giải thích những hiện tượng bệnh lý của cá
xảy ra trong các ao nuôi, biết phòng và trị bệnh cá, không ngừng nâng cao trình độ
kỹ thuật để góp phần giải quyết và nâng cao năng suất cá nuôi.
- Môn học thủy lý, thủy hóa, vi sinh vật, đặc điểm sinh học của cá sẽ cung cấp được
những kiến thức để xác định nguyên nhân gây bệnh cá.
- Hiểu sâu đặc tính lý hóa học của thuốc sẽ có cơ sở sử dụng thuốc tốt hơn.
- Kỹ thuật nuôi cũng là căn cứ để chữa bệnh cá có hiệu quả cao.
Vì thế muốn nghiên cứu bệnh cá cũng cần phải tham khảo các môn học khác và hiểu sâu
về chúng.
2. Lịch sử phát triển của khoa học cá và bệnh cá
Trên thế giới, nghề nuôi cá đã có từ lâu đời. Khi con người biết nuôi cá đã chú ý đến
năng suất cũng như sản lượng cá nuôi. Tuy nhiên người ta chỉ chú ý đến thức ăn và chăm
sóc cá khi nuôi, ít người suy nghĩ đến việc phòng và trị bệnh cá. Khoa học bệnh cá còn rất
trẻ, cuối thế kỷ 18 mới bắt đầu phát triển. Đầu tiên các nhà khoa học chỉ phát hiện ra bệnh cá
và mô tả phân loại ký sinh trùng ký sinh trên cơ thể cá, mãi cuối thế kỷ 19 vi khuẩn gây bệnh
cá mới bắt đầu được nghiên cứu. Thế kỷ 20 đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật lớn mạnh dần,
các kết quả nghiên cứu về bệnh ký sinh trùng, bệnh truyền nhiễm ở cá được công bố ngày
càng nhiều. Kết quả nghiên cứu đã thu được những thành tựu đáng kể, đã tìm ra nguyên
nhân gây bệnh cho cá và có các biện pháp phòng trị hữu hiệu góp phần nâng cao năng suất
cá nuôi. Cuối thế kỷ 20 một số công trình nghiên cứu bệnh cá, tôm do vi rút, vi khuẩn gây ra
đã được công bố.
Ở Việt Nam, trước hòa bình lập lại ở miền Bắc 1954, một số nông dân đã biết nuôi
cá và phòng trị bệnh một cách đơn giản như dọn tẩy ao nuôi trước khi thả cá, vớt cá bột về
nuôi phải lọc cá dữ cá tạp.
Sau 1954, đất nước bị chia làm hai miền, miền Bắc phát triển nuôi trồng thủy sản,
đội ngũ cán bộ được đào tạo cả trong và ngoài nước. Năm 1960, tổ nghiên cứu bệnh cá đầu
tiên được thành lập ở Việt Nam. Công tác nghiên cứu bệnh cá phát hiện ra bệnh ký sinh
trùng mỏ neo và bệnh nấm thủy mi bắt đầu vào năm 1961 tại các ao nuôi thuộc thành phố
Hà Nội. Năm 1968, công trình nghiên cứu bệnh cá đầu tiên ở nước ta được công bố với luận
4
án PTS của Hà Ký, tác giả đã mô tả 120 loài ký sinh trùng ký sinh trên cá trong các thủy vực
nước ngọt miền Bắc Việt Nam.
Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, công tác nghiên cứu Bệnh cá dần dần tiến
Cá chóng lớn, thịt ngon, được nhân dân ưa chuộng, giá rẻ, có sức chịu đựng với bệnh
tật.
Cá sinh sản tự nhiên hoặc có thể đẻ nhân tạo được, thích nghi với điều kiện của địa
phương về điều kiện khí hậu, về điều kiện môi trường nước và điều kiện kinh tế, xã hội.
Thức ăn đơn giản, rẻ tiền, phù hợp địa phương.
Tận dụng các mặt nước hoang hoá để nuôi cá và chuyển biến tập quán thả cá của dân
sang nuôi theo quy trình kỹ thuật, áp dụng các biện pháp kỹ thuật để không ngừng nâng cao
năng suất, tạo nhiều thực phẩm tươi sống cho người dân tại chỗ, tăng thu nhập cho họ.
1.2 Các công việc chủ yếu:
- Chuẩn bị ao nuôi.
- Thao tác vận chuyển cá giống.
- Quản lý, chăm sóc.
- Thu hoạch.
Phòng và trị bệnh cá có ở tất cả các công việc trên.
1.3 Công cụ lao động:
Lưới, vợt, cuốc, xẻng, đăng, giai, lồng, bè, xô, chậu, liềm, quang, sọt, máy bơm
nước, dụng cụ đo pH.
1.4 Điều kiện lao động:
- Yêu thích nghề nuôi cá.
- Có mong muốn thành thạo nghề nuôi cá, có tính kiên trì, cẩn thận.
2. Nước, các yếu tố môi trường nước, quan hệ của chúng với thủy sinh vật
Mỗi cơ thể, quần thể loài sinh vật bất kỳ, kể cả con người đều sống dựa vào môi
trường đặc trưng của mình, ngoài mối tương tác đó sinh vật không thể tồn tại được. Môi
trường ổn định, sinh vật sống ổn định và phát triển hưng thịnh, khi môi trường suy thoái sinh
vật giảm cả về số lượng lẫn chất lượng. Nếu môi trường bị phá hủy thì sinh vật cũng bị phá
hủy theo. Có nghĩa là sinh vật sống trong môi trường phải chịu ảnh hưởng của môi trường,
khi có một yếu tố của môi trường thay đổi thì sinh vật trong môi trường sẽ chịu ảnh hưởng
của sự thay đổi đó. Theo bản chất của tác nhân trong môi trường có thể chia thành ba loại:
Tác nhân vô sinh: tác động lý hóa học của môi trường vô sinh như nhiệt độ, ánh
sáng, nồng độ muối...
35 1.02822
Nhiệt riêng (Specific heat: lượng nhiệt tính bằng Calo cần thiết để nâng nhiệt độ của
một đơn vị khối lượng vật chất lên 10C): Nước có nhiệt riêng rất lớn (1). Nó như chất đệm
đối với sự giao động nhiệt, đủ khả năng cải thiện điều kiện khí hậu của một vùng đất nằm kề
các vực nước lớn. Tốc độ lạnh đi hay nóng lên của nước bao giờ cũng chậm hơn trên cạn, vì
thế mùa thủy văn bao giờ cũng chậm hơn mùa khí hậu.
Nước còn là một dung môi hòa tan nhiều chất hữu cơ và vô cơ thành một môi trường
dinh dưỡng cung cấp cho thủy sinh vật.
Nước có độ dẫn điện và truyền âm cao. Nước là một chất điện ly lớn nên cân bằng
áp suất thẩm thấu của thủy sinh vật với môi trường nước dễ dàng.
Nước luôn trong trạng thái vận động theo cả chiều thẳng đứng và chiều nằm ngang,
mang theo thức ăn trực tiếp và gián tiếp cho thủy sinh vật, cung cấp nhu cầu ôxy, điều hòa
nhiệt độ, độ mặn, khí hòa tan trong nước,..Ngoài ra dòng chảy còn ảnh hưởng tới di cư dinh
dưỡng và di cư kiếm mồi, nhất là những loài cá sinh sản cần có dòng chảy.
Bên cạnh những tính chất của nước có ý nghĩa rất quan trọng tới đời sống thủy sinh
vật thì nền đáy cùng với nước là tác nhân xác định hay chuyển động sinh vật trong thủy vực.
Nếu nền đáy không ổn định gây nên sự xáo trộn thủy sinh vật đáy về dinh dưỡng, về sinh
7
trưởng, một số loài cá sinh sản vùi trong đáy nếu nền đáy không ổn định dễ làm trứng bị phá
hủy hoặc lơ lửng trong nước.
Tính chất của nền đáy còn ảnh hưởng tới sự chuyển động của sinh vật đáy, khả năng
bám, kiếm mồi của chúng, song chất đáy không những ảnh hưởng tới sinh vật đáy mà còn
ảnh hưởng tới các thủy sinh vật sống trong các tầng nước khác, thí dụ: nền đáy bị xáo trộn
các loài cá ăn trôi nổi dễ bị nổi đầu do thiếu ô xy. Chất đáy còn ảnh hưởng tới khả năng
cung cấp thức ăn cho các loài cá ăn thực vật cỡ lớn.
Tính chất quan trọng của nền đáy là kích thước các hạt, độ đậm đặc và bền vững
trong sự sắp xếp của chúng, khả năng giữ các chất lắng đọng, sự bào mòn bởi dòng chảy.
2.2 Nhiệt độ nước
Nguồn nhiệt lớn nhất nước nhận được là từ mặt trời, sau đó là sự phân hủy các hợp
chất hưũ cơ có trong nước.
C, ở cực 00C.
Ở vùng cực sự phân bố nhiệt độ theo tầng ngước với hai vùng trên.
Như vậy vùng ôn đới sự giao động nhiệt ở tầng mặt lớn hơn.
Trong giới hạn sinh thái của mình, ở những loài ưa lạnh các quá trình sinh lý được
đẩy mạnh trong điều kiện nhiệt độ thấp, khi nhiệt độ nước nâng cao, các quá trình đó giảm
và đi tới đình chỉ, ở những loài ưa ấm bức tranh trên ngược lại.
Riêng cá là loài biến nhiệt nên quá trình hình thành nhiệt hay tích tụ (thải nhiệt) thấp
hơn so với các loài sinh vật đồng nhiệt và nhiệt độ phát triển liên quan chặt chẽ đến môi
trường. Thí dụ: cá chép 1,05kg trong một ngày đêm thải ra 10,2 kgCal/kg cơ thể dưới dạng
nhiệt, con sáo 0,75kg trong một ngày đêm thải ra 240 kgCal/kg cơ thể.
Nhiệt độ nước cần thiết cho sự phát triển của thủy sinh vật, trao đổi chất được tăng
cường khi nhiệt độ tăng song đến một nhiệt độ nào đó quá giới hạn cho phép thủy sinh vật
lại ngừng trao đổi chất và ngoài giới hạn cho phép thủy sinh vật bị chết. Như vậy mỗi loài có
một giới hạn nhiệt độ nào đó (ngưỡng nhiệt độ) và có một nhiệt độ cực thuận cho thủy sinh
vật phát triển, quá nóng cá men bị phá hủy, quá lạnh dịch bị đông và thủy sinh vật sẽ chết.
Khi cá đẻ có một nhiệt độ cực thuận, ngoài giới hạn sinh thái trứng sẽ bị ung hoặc cá
nở sẽ bị dị hình. Như vậy nhiệt độ ảnh hưởng đến sự chín mùi của tế bào sinh dục, không
những đẩy nhanh quá trình chín mùi của thủy sinh vật mà còn ảnh hưởng đến cấu trúc hiển
vi và thành phần hóa học của trứng cá.
Sự thích nghi với sự biến đổi của nhiệt độ còn được thể hiện ở những dấu hiệu hình
thái của thủy sinh vật như các dạng hình của động vật nổi trong mùa đông và mùa hè hoặc
sự di cư của thủy sinh vật.
8