CHƯƠNG I:
CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
VÀ YÊU CẦU PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
HIỆN NAY:
1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
trong điều kiện cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0:
1.1.Cách mạng Công nghiệp 4.0:
1.1.1. Khái niệm:
Cách mạng Công nghiệp 4.0 là xu hướng tự động hóa và trao đổi dữ liệu
trong công nghệ sản xuất. Nó bao gồm các Hệ thống Thực- Ảo (CyberPhysical Systems – CPS), Mạng lưới vạn vật kết nối internet (Internet of
Things – IoT) và điện toán đám mây (Cloud Computing).
Bản chất của CMCN lần thứ 4 là dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp
tất cả các công nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình, phương thức sản
xuất; nhấn mạnh những công nghệ đang và sẽ có tác động lớn nhất là công
nghệ in 3D, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động
hóa, người máy,...
1.1.2. Cơ hội – Thách thức cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 mang lại cho
thị trường lao động:
Cơ hội :
+ Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có sự tác động mạnh mẽ trên nhiều
lĩnh vực, với sự xuất hiện của robot có trí tuệ nhân tạo, người máy làm
việc thông minh, có khả năng ghi nhớ, học hỏi vô biên, trong khi khả
năng đó ở con người thường chỉ có trong thời gian giới hạn. Chính vì
vậy, việc các công nghệ cao và máy móc thông minh sẽ tạo cơ hội cho
1
con người làm việc và hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn bằng cách tận
dụng những lợi thế mà cuộc cách mạng công nghệ 4.0 mang lại.
công nghệ vào thực tiễn. Họ có phẩm chất công dân tốt, có đạo đức nghề
nghiệp và đem lại năng suất, chất lượng hiệu quả lao động cao hơn hẳn so
với nguồn nhân lực lao động phổ thông.
1.2.2. Các tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao trong điều kiện
cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0:
Những tiêu chí cơ bản của nhân lực chất lượng cao có thể khái quát như sau:
văn hoá, văn hoá nghề nghiệp, đạo đức, nhân cách, trách nhiệm xã hội, ý
thức công dân; năng lực tư duy sáng tạo; năng lực tri thức chuyên môn; năng
lực thực hành; kỹ năng mềm.
Đối với cá nhân (người lao động) với tư cách là nhân lực chất lượng cao khi
có tổng hợp hữu cơ những tiêu chí cơ bản nêu trên của nhân lực: văn hoá,
đạo đức, nhân cách cao; năng lực tri thức chuyên môn cao; năng lực tư duy
sáng tạo cao; năng lực thực hành cao; kỹ năng mềm phong phú, hiệu quả.
Đối với một đơn vị, ngành, lĩnh vực hay quốc gia, thì nguồn nhân lực chất
lượng cao không chỉ bao gồm những cá nhân người lao động chất lượng cao,
mà còn phải được thể hiện ở sự hợp lý, hiệu quả về số lượng nhân lực chất
lượng cao, về chất lượng nhân lực chất lượng cao, về cơ cấu nhân lực hợp lý
(cơ cấu trình độ, ngành nghề, vùng miền), về mức độ đáp ứng (và hiệu quả
sử dụng) nhân lực đối với yêu cầu phát triển của đơn vị, ngành, hay của cả
đất nước.
1.2.3. Một số lý thuyết về vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao trong
thời đại Công nghiệp 4.0:
Nhân lực chất lượng cao là điều kiện quyết định đến trình độ phát triển kinh
tế - xã hội của mọi quốc gia. Nguồn nhân lực chất lượng cao giúp tiếp cận
3
nhanh nhất với những công nghệ, tri thức mới. Ứng dụng nhanh và hiệu quả
những công nghệ và tri thức mới vào hoạt động sản xuất kinh doanh
Nhân lực chất lượng cao là điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện những
nắm bắt và ứng dụng các thành tựu, và hạn chế thách thức khó khăn của
cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 tại Việt Nam trong việc phát triển kinh tế xã hội.
Bên cạnh thuận lợi, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và
thách thức nghiêm trọng như: trong khi thế giới đang tiến vào cuộc cách
mạng công nghiệp lần thứ tư, thì Việt Nam vẫn chủ yếu ở giai đoạn 2 tức
thực hiện dây chuyền gia công, lắp ráp. Theo thống kê 97% doanh nghiệp
Việt Nam hiện nay thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa, năng suất lao động
và năng lực cạnh tranh còn thấp., trình độ khoa học công nghệ, nhất là chất
lượng nguồn nhân lực còn rất hạn chế.
Trong xu thế của cách mạng công nghiệp 4.0, lực lượng lao động giá rẻ
không còn là lợi thế của Việt Nam. Phần lớn lao động Việt Nam chưa được
đào tạo bài bản, năng lực lý thuyết và tay nghề còn hạn chế nhất là kiến thức
chuyên môn, ngoại ngữ tiếng Anh để giao tiếp làm việc. Đây là thách thức
lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam khi bước vào cuộc cách mạng công
nghiệp 4.0 với nguồn nhân lực chưa được chuẩn bị đầy đủ, đặc biệt nền tảng
công nghệ cao còn hạn chế, sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, thiếu liên kết. Do
vậy về lâu dài Nhà nước cần xây dựng chiến lược và chính sách công nghiệp
phù hợp để nắm bắt kịp xu thế toàn cầu, không để "lỡ tàu" một lần nữa.
2.2.Phân tích thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam:
2.2.1. Cung lao động:
5
Cung lao động là lượng hàng hóa sức lao động mà người bán muốn bán trên
thị trường ở mỗi mức giá có thể chấp nhận được.
Về số lượng nguồn lao động:
Dân số hiện tại của Việt Nam là 96.377.983 người vào ngày 18/05/2018
theo số liệu mới nhất từ Liên Hợp Quốc. (Nguồn: Con số này ảnh hưởng rất lớn đến lực lượng lao động nước ta. Việt
Nam hiện có một đội ngũ nhân lực khá dồi dào so với nhiều nước trong khu
Trên thị trường lao động, cầu lao động là lượng lao động mà người thuê có
thể thuê ở mỗi mức giá chấp nhận.
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 dựa trên các lĩnh vực chính: Kỹ thuật số,
công nghệ sinh học; robot thế hệ mới, xe tự lái, các vật liệu mới... . máy móc
sẽ thay thế toàn bộ lao động đơn giản, lặp đi lặp lại. Nhu cầu lao động trong
cuộc cách mạng 4.0 là cần nguồn nhân lực chất lượng cao, có những kĩ năng
mà máy móc không thể có như khả năng lãnh đạo, làm chủ doanh nghiệp.
Theo khảo sát lương hàng năm vừa được công bố bởi Công ty tư vấn tuyển
dụng nhân sự cấp cao Robert Walters: Nhu cầu tìm kiếm ứng viên có chuyên
môn kỹ thuật cao đang có xu hướng tăng lên, nên mức lương dành cho nhân
sự thay đổi công việc trong năm 2018 dự kiến sẽ tăng khoảng 20%. Các
nhân viên hiện tại có thể kỳ vọng mức tăng khoảng 10% theo như quy trình
đánh giá lương hàng năm.
“Ở Việt Nam, số hoá tiếp tục là ưu tiên hàng đầu ở hầu hết các ngành nghề,
thực tế này thúc đẩy nhu cầu tuyển dụng các chuyên gia công nghệ thông tin
am hiểu vể điện toán đám mây, an toàn thông tin và thiết kế ứng dụng”,
Công ty tư vấn tuyển dụng nhân sự cấp cao Robert Walters dự báo.
Khảo sát của Robert Walters cũng đưa ra những dự đoán tích cực cho năm
2018 và khẳng định rằng: Triển vọng tăng trưởng kinh tế của khu vực Đông
Nam Á với sự bùng nổ số hoá và sự ổn định của thị trường là những yếu tố
thúc đẩy gia tăng mức lương trong năm 2018. “Các ứng viên trong nước
7
nắm vững kỹ thuật chuyên môn, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin
và có kinh nghiệm làm việc trong môi trường quốc tế sẽ được săn đón”,
nghiên cứu của Robert Walters nhận định.
Ông Toby Fowlston, Giám đốc điều hành khu vực Đông Nam Á của Robert
Walters cho biết: Xu hướng số hóa tràn qua khu vực đã thôi thúc nhiều
doanh nghiệp tạo ra nền tảng di động trực tuyến, nhằm gia tăng thị phần và
Thời kỳ bước đầu phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1960-1985):
Thông qua Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp Hành Trung ương khóa 7, Đảng đã
chỉ ra quan điểm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa thời kỳ đổi mới, bao gồm
việc phát huy nguồn lực con người, lấy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản
cho việc phát triển nhanh và bền vững. Cụ thể:
+ Trong các yếu tố tham gia vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
yếu tố con người luôn được coi là yếu tố cơ bản. Để phát triển nguồn lực con
người, đất nước cần đặc biệt chú ý đến phát triển giáo dục và đào tạo.
+ Nguồn nhân lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi phải có khả
năng nắm bắt và sử dụng các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến của
thế giới và có khả năng sáng tạo công nghệ mới.
+ Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất (năm 1975), nền giáo dục của nước
ta bước sang một giai đoạn cách mạng mới. Bộ Chính trị (khóa IV) ra Nghị
quyết số 14-NQ/TW ngày 11/01/1979 : “Trong hệ thống giáo dục phổ thông
10
cần mở những trường - lớp phổ thông cho những học sinh có năng khiếu đặc
biệt...” nhằm chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài cho đất nước.
+ Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 20/4/1981 về “Chính sách khoa học và kỹ
thuật”, trong đó chỉ rõ “Trên cơ sở đảm bảo sự bình đẳng thực sự về quyền
lợi học tập cho mọi người và phổ cập giáo dục cho toàn dân, cần quan tâm
đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật giỏi, những nhân tài của đất nước”.
1.1.2. Thời kỳ đổi mới – Thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước:
(1986 đến nay):
Thời kỳ này, trên thế giới đang diễn ra cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ
3 với kỷ nguyên máy tính và tự động hóa. Với sự phát triển mau lẹ của khoa học
công nghệ, Đảng ta cũng có những chính sách kịp thời trong việc đào tạo và phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao giúp đất nước bắt kịp và hội nhập với thế giới.
cả nước đã có thêm 2,5 triệu người biết đọc, biết viết.
Sau 20 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội và mặc dù có chiến tranh phá hoại
nhưng Miền Bắc vẫn đảm bảo sản xuất phát triển và nâng cao trình độ sản
xuất lên một bậc.
Dựa vào sự phát triển không ngừng của máy tính, đời sống đi vào tự động
hóa, đặc biệt là tự động hóa sản xuất – thay thế hoàn toàn sức người bằng
máy móc, nâng cao năng suất lao động, nâng cao sản lượng. Một số ngành
đã bắt kịp Cách mạng Công nghiệp 3.0 như công nghệ thông tin, viễn thông.
1.3.Nhược điểm đặt ra:
12
Công tác tư tưởng và văn hóa thiếu sắc bén, thiếu tính chiến đấu. Việc xây
dựng thể chế văn hóa còn chậm. Sự suy thoái về đạo đức, lối sống có chiều
hướng phát triển. Đời sống văn học, nghệ thuật còn nhiều bất cập.
Chiến tranh cùng với cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao
cấp và tâm lý bình quân chủ nghĩa đã làm giảm động lực phát triển văn hóa,
giáo dục; kìm hãm năng lực tự do sáng tạo.
Trong thực tế, phần lớn các ngành công nghiệp của nước ta còn ở vị trí của
cuộc CMCN lần thứ nhất và lần thứ hai (CMCN 1.0, CMCN 2.0). Cụ thể,
việc xây dựng cơ sở hạ tầng (đường, cầu, cống, bến cảng, sân bay...) gần đây
được tiến hành mạnh mẽ; đó chính là các công đoạn của thời kỳ CMCN 1.0
mà đặc trưng là cơ khí hóa, phát triển đường sắt nhờ sự ra đời động cơ hơi
nước. Đường sắt Việt Nam rất lạc hậu, tốc độ tàu thấp do khổ đường ray hẹp
từ thời Pháp thuộc, thường xuyên có tai nạn do xung đột với giao thông
đường bộ. Mặc dù sản xuất được điện từ lâu nhưng chúng ta chưa chế tạo
được nhiều chủng loại động cơ, chưa sản xuất được các máy công cụ vốn là
động lực chính cho dây chuyền lắp ráp, sản xuất hàng loạt - một đặc trưng
của CMCN 2.0. Chúng ta chỉ chế tạo được động cơ không đồng bộ công suất
Qua đó ta nhận thấy vấn đề phát triển nguồn nhân lực là vấn đề quan trọng
luôn được quan tâm trong các kỳ Đại hội đặc biệt trong thời kỳ Cách mạng
công nghiệp 4.0 thì nguồn nhân lực chất lượng cao lại càng được quan tâm.
Trong Đại hội XII, Đảng xác định đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục , đào
tạo sẽ là phương hướng đi chính trong việc phát triển nguồn nhân lực. Đảng
khẳng định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu. Phát triển giáo dục và đào
tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển
mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn
14
diện năng lực và phẩm chất người học, học đi đôi với hành, lý luận gắn với
thực tiễn.” Năm 2017 Bộ Giáo dục đã đưa ra Đề án đổi mới chương trình và
sách giáo khoa. Chương trình mới này sẽ quan tâm hơn đến yêu cầu tăng
cường kỹ năng sống, giảm tải nội dung trong các bậc học phổ thông; nâng
cao kiến thức chuyên sâu và tác phong công nghiệp trong đào tạo nghề; phát
huy tư duy sáng tạo, năng lực nghiên cứu ở bậc đại học. Bên cạnh đó, Bộ
cũng sẽ đổi mới mục tiêu, nội dung, hình thức kiểm tra, thi và đánh giá kết
quả giáo dục và đào tạo. Từ năm 2015 trở đi Bộ đã thay đổi hình thức thi
vào đại học khi gộp chung kỳ thi đại học với kỳ thi tốt nghiệp thành một kỳ
thi trung học phổ thông Quốc gia. Đến năm 2017, bộ môn Toán được đổi
mới chuyển từ hình thức tự luận sang trắc nghiệm đòi hỏi phát huy tư duy và
tính linh hoạt hơn rất nhiều đặc biệt là cách áp dụng sử dụng máy tính Casio.
Môn Văn và môn Ngoại Ngữ vẫn giữ nguyên hình thức thi tự luận, còn các
môn Vật lý, Hóa học, Sinh học tích hợp vào bài thi Khoa học tự nhiên; môn
Sử, Địa, Công dân tích hợp vào bài thi Khoa học xã hội. Bộ Giáo dục đã đưa
thêm môn Công dân vào trong kỳ thi đúng với tiêu chí “phát triển phẩm chất
người học”. Kỳ thi THPT Quốc Gia sắp diễn ra trong năm 2018 này sẽ tiếp
tục giữ hình thức thi của năm 2017. Bên cạnh đó đẩy mạnh, liên thông trong
giáo dục, đào tạo. Phát triển giáo dục Đại học định hướng nghiên cứu, ứng
Theo tác giả Đặng Thành Hưng, kỹ năng là một dạng hành động được thực
hiện tự giác dựa trên tri thức về công việc, khả năng vận động và những điều
kiện sinh học-tâm lí khác của cá nhân (chủ thể của kỹ năng đó) như nhu cầu,
tình cảm, ý chí, tính tích cực cá nhân... để đạt được kết quả theo mục đích
hay tiêu chí đã định, hoặc mức độ thành công theo chuẩn hay quy định. Kỹ
năng nói chung rất rộng như kỹ năng xã hội, kỹ năng lãnh đạo,…và thực sự.
16
Kỹ năng tư duy khoa học: kỹ năng tư duy phân tích, suy luận, tổng hợp,
lôgic…Kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề, kỹ năng tư duy sáng tạo,
phản biện, kỹ năng tự học và tự học hiệu quả. Nhân cách và kỹ năng sống:
Kỹ năng lãnh đạo bản thân như: trung thực, chủ động, tự trọng và tự tin. Kỹ
năng đặt mục tiêu, tạo động lực, tổ chức công việc hiệu quả. Kỹ năng ứng xử
- giao tiếp, lắng nghe, đàm phán, trình bày thuyết trình, kỹ năng làm việc
nhóm, đồng đội…Tạo ra thói quen rèn luyện tư duy, kĩ năng phân tích vấn
đề, khả năng tiếp thu, diễn đạt, tổ chức, xử lí thông tin. Nhất là ý thức kỷ
luật lao động, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp, hiểu biết văn hóa
thế giới…
Qua nhiều kỳ Đại hội Đảng đã đề những đường lối chủ trương đào tạo và
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong điều kiện cuộc Cách mạng
Công nghệ 4.0. Trong đó đào tạo tạo kỹ năng đóng vai trò quan trọng tạo ra
nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay. Sau 30 năm đổi mới Đảng cũng đã
có những thành tựu nhất định bên cạnh đó cũng tồn đọng những hạn chế,
khuyết điểm nhất định. Đó là còn nhiều hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực
giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, xã hội, y tế chậm được
khắc phục.Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của
một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng
phí chưa bị đẩy lùi. Tội phạm và tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp; đạo
đức xã hội suy thoái. Điểm yếu của lao động Việt Nam là thiếu kỹ năng
con người. Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, Nhật, Tưởng, Mỹ,…Đảng
cũng đã chủ trương cho những cán bộ xuất sắc du học về phục vụ kháng chiến
và tận dụng rất tốt thời cơ hay có những kế hoạch không đánh mà thắng giải
vây cho ta. Điều đó cho thấy kỹ năng lãnh đạo, kỹ nặng xử lý tình huống, kỹ
năng đàm phán,… được vận dụng thật sự rất thành công. Hơn thế, chúng ta
cũng đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ rất lớn của nước bạn. Tuy khốc liệt, khó
18
khăn nhưng nhờ bước đi đúng đắn mà Đảng đã thuyết phục, từ đó nhận được sự
viện trợ rất lớn từ Liên-xô về cả lương thực lần vũ khí hiện đại. Và trong thời
đại hiện nay để phát triển kinh tế, hòa nhập với thế giới, Đảng vận dụng và phát
triển những bài học kinh nghiệm từ đó có đường lối, chủ trương rất đúng đắn để
đào tạo nguồn nhân lực chát lượng cao phục vụ cho thời đại Công nghệ 4.0.
2. Những chính sách về việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao:
1.
Sàng lọc, thay thế cán bộ yếu kém:
Ngày 18 tháng 10 năm 2000, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số:
16/2000/NQ-CP về việc tinh giản biên chế trong các cơ quan hành chính,
đơn vị sự nghiệp trong hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành trung ương Đảng
(khóa VIII).
Ngày 05 tháng 11 năm 2012, ban tổ chức Trung ương đưa ra Hướng dẫn số
15-HD/BTCTW về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý theo tinh
thần nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30/11/2004 của bộ chính trị (khóa IX)
và kết luận số 24-KL/TW ngày 05/06/2012 của bộ chính trị (khóa XI); Nghị
định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2014 của Chính phủ.
Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/04/2015 của Bộ chính trị về tinh giản
biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức (gọi tắt là Nghị
quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị) nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ, công chức, viên chức, thu hút những người có đức, có tài, đáp ứng
ngành, địa phương tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra công tác cán bộ...
(Công văn số 4951/VPCP-TCCV ngày 15/5/2017 của Văn phòng Chính
Phủ). Sau kiểm tra, thanh tra, Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương
miễn nhiệm chức vụ, điều chuyển công tác, chấm dứt hợp đồng đối với
trường hợp sai phạm; kiểm điểm làm rõ trách nhiệm của những tổ chức, cá
nhân vi phạm trong công tác cán bộ; xử lí kỷ luật nghiêm minh theo quy
định của Đảng và của Pháp luật.
20
Nhiều địa phương cũng đã thực hiện theo đường lối, chính sách của Đảng
về sàng lọc cán bộ không đủ năng lực. Ví dụ như ở huyện ủy Tiền Hải, tỉnh
Thái Bình đã xử lý hàng loạt cán bộ thuộc diện yếu về năng lực, kém về
phẩm chất đạo đức, tín nhiệm thấp, không hoàn thành nhiệm vụ... từng bước
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đảng. Từ đại hội đảng bộ cấp cơ sở và
Đại hội Đảng bộ huyện Tiền Hải nhiệm kỳ 2015 - 2020 đến nay, có 14 cán
bộ thuộc diện Ban Thường vụ Huyện ủy quản lý đã bị cho thôi chức, thay
thế, điều chuyển công tác khác do yếu kém về năng lực, giảm sút uy tín, trì
trệ trong công tác. Thí dụ như dù còn 3 năm nữa mới đến tuổi về hưu, nhưng
Chủ tịch Liên đoàn Lao động huyện đã được đưa xuống làm chuyên viên
của đơn vị này do năng lực và sức khỏe hạn chế. Đối với trường hợp Phó
Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ huyện, qua theo dõi, chỉ đạo, Thường trực Huyện
ủy thấy, nếu đồng chí này tiếp tục giữ nhiệm vụ lãnh đạo Hội Chữ thập đỏ
thì sẽ gây khó khăn cho Hội, vì sức khỏe, năng lực hạn chế. Lãnh đạo Huyện
ủy trực tiếp gặp gỡ trao đổi để đồng chí không tham gia lãnh đạo Hội trong
nhiệm kỳ mới. Bên cạnh đó, vào cuối năm 2016, Thường trực Huyện ủy gợi
ý kiểm điểm đối với 26 cán bộ, hạn chế về năng lực, uy tín, tinh thần trách
nhiệm. Trong sáu tháng đầu năm 2017, có 21 cán bộ, đảng viên bị cấp ủy và
ủy ban kiểm tra các cấp xử lý kỷ luật, trong đó, ba trường hợp bị khai trừ
Đảng. Trước sự chỉ đạo kiên quyết của Huyện ủy, UBND huyện đã điều
dụng và quản lý công chức; Quyết định số 170/QĐ-TTg phê duyệt “Dự án
thí điểm tuyển chọn 600 trí thức trẻ ưu tú, có trình độ đại học tăng cường về
làm Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã thuộc 62 huyện nghèo” (các tỉnh Cao
Bằng, Điện Biên, Nghệ An, Quảng Ngãi và Kon Tum...); ngày 30 tháng 09
năm 2013, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1758/QĐ-TTg của Thủ
22
tướng Chính phủ về phê duyệt “Đề án thí điểm tuyển chọn trí thức trẻ tình
nguyện về các xã tham gia phát triển nông thôn, miền núi giai đoạn 2013 –
2020”; Đối với những sinh viên tốt nghiệp loại xuất sắc, những cán bộ khoa
học trẻ, một bộ phận rất quan trọng của nguồn nhân lực chất lượng cao, Bộ
Chính trị đã có Kết luận số 86-KL/TW ngày 24 tháng 01 năm 2014 về
“Chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán
bộ khoa học trẻ” (Gọi tắt là Đề án 1000).
Theo tinh thần chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, các tỉnh/thành, địa phương
trong cả nước cũng ban hành nhiều chính sách để thu hút, phát triển, sử
dụng, phát huy và trọng dụng đối với nguồn nhân lực chất lượng cao. Quyết
định số 42/2008/QĐ-UBND ban hành Quy định chế độ trợ cấp đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và chính sách thu hút, khuyến khích
người có trình độ cao trên địa bàn tỉnh An Giang;Quyết định số
91/2009/QĐ-UBND của UBND Thành phố Hà Nội ngày 22/7/2009 về việc
ban hành quy định về thu hút, sử dụng, đào tạo tài năng trẻ và nguồn nhân
lực chất lượng cao của Thành phố Hà Nội; Quyết định 93/2003/QĐ- UB
ngày 5/8/2003 của Thành phố Hà Nội về việc thành lập Quỹ ưu đãi khuyến
khích các nhà khoa học đầu ngành, chuyên gia giỏi, người có trình độ cao
tham gia cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và phát triển Thủ Đô;Quyết định
số 22/2011/QĐ-UBND của UBND TP Hồ Chí Minh ngày 14/5/2011về ban
hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ IX
về Chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của thành phố Hồ Chí
Hà Nội là một trong số những địa phương rất tích cực trong việc áp dụng các
chính sách thu hút này. TP.Hà Nội đang tiếp tục thực hiện chính sách thu hút
nguồn nhân lực chất lượng cao theo Nghị quyết số 14/2013/NQ-HĐND
Thành phố; tổ chức tuyển dụng công chức, viên chức theo hướng nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực thông qua tuyển dụng không qua thi tuyển đối
với người tốt nghiệp đại học loại giỏi, loại xuất sắc trong và ngoài nước,
24
người có kinh nghiệm 5 năm công tác. Về tuyển dụng viên chức, Thành phố
tổ chức tuyển dụng nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua xét tuyển đặc
cách đối với thủ khoa xuất sắc, bác sỹ nội trú của ngành y tế (đã tuyển dụng
10 bác sỹ), đối với người tốt nghiệp đại học loại giỏi và thạc sỹ được đào tạo
bằng tiếng nước ngoài, có khả năng sử dụng thành thạo tiếng nước ngoài của
Trung tâm Xúc tiến, Đầu tư Thương mại, Du lịch.
Không chỉ có các cơ quan hành chính nhà nước mới đưa ra những chính
sách đãi ngộ thu hút đối với nhân tài mà ngay cả các công ty doanh nghiệp
cũng đang từng bước đưa ra những chính sách phù hợp hơn với nhân tài để
họ có thể phát huy được mọi khả năng của bản thân và hoàn thành tốt công
việc được giao. Ví dụ như những chính sách thu hút của Công ty phát triển
KCN Biên Hòa cũng khá phù hợp gồm: ngoài lương tháng 13, được thưởng
từ 2-4 tháng lương tùy theo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh hàng năm
của công ty và căn cứ vào kết quả thực hiện công việc của từng các nhân;
được xem xét cử đi đào tạo, huấn luyện nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ,
ngoại ngữ,...
25