THỰC TRẠNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY DAD
I. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY DAD
1. Phân tích về số lượng sản phẩm - tiêu thụ sản phẩm của Công ty DAD
Ngành in là bộ phận quan trọng phục vụ cho hoạt động truyền bá các
giá trị văn hoá, phục vụ công tác tuyên truyền đường lối chính sách của đảng
và nhà nước. Cùng với sự tiến bộ của khoa học nay in đã trở thành ngành công
nghiệp nhưng sản phẩm của nó lại phục vụ công tác tư tưởng văn hoá, góp
phần nâng cao dân trí và còn liên quan đến an ninh quốc gia. Vì vậy càng sản
xuất được nhiều sản phẩm in có chất lượng cao để phục vụ cho địa phương là
vô cùng cần thiết nhất là các sản phẩm mang tính thời sự, tuyên truyền.
Sản phẩm của Công ty tương đối đa dạng về kích thước, mẫu mã nhưng
được chia thành các nhóm chính như sau:
Tạp chí: - Tạp chí hàng không
- Tạp chí các loại
Sách giáo khoa
Biểu mẫu các loại.
Biểu số 4
SỐ LƯỢNG SẢN PHẨM TIÊU THỤ QUA 4 NĂM TỪ NĂM 2001 - 2002 - 2003- 2004
(Đơn vị tính: Triệu trang khổ 13 x 19)
Các chỉ tiêu 2001 2002 2003 2004
Tổng trang in (13 x
19)
44,8 48 50,6 53,7
Tạp chí hàng không 7,795 7,795 7,795 7,795
Tạp chí các loại 7,603 7,603 7,603 7,603
Báo 0,192 0,192 0,192 0,192
Sách giáo khoa 13,640 14,880 16,120 17,200
Các loại giấy tờ 10,545 10,666 12,381 13,150
Biểu mẫu các loại 12,820 14,659 14,304 15,560
(Nguồn: Báo cáo Phòng Kế hoạch - Phòng Kế toán)
Qua bảng & biểu đồ trên ta thấy rằng: Nhìn chung số lượng sản phẩm
xuất còn các hoạt động khác đã có các cơ quan khác làm cho. Việc mua các yếu
tố đầu vào ở đâu, khối lượng bao nhiêu, sản xuất bao nhiêu và sản phẩm làm
ra bán ở đâu đều được chỉ định rõ bởi các cơ quan hành chính cấp trên. Do vậy,
trong cơ chế này doanh nghiệp không bao giờ phải lo lắng đến việc tiêu thụ và
tồn kho. Vậy có thể nói hoạt động tiêu thụ là một khâu quan trọng trong quá
trình tái sản xuất mở rộng của mỗi doanh nghiệp khi hoạt động trong nền kinh
tế thị trường. Mặt khác để hoạt động tiêu thụ được diễn ra trôi chảy, liên tục
Công ty phải nhận định được rõ ràng từng loại sản phẩm nào chiếm ưu thế,
chất lượng sản phẩm ra sao để từ đó có các kế hoạch & chiến lược cho sản xuất
kinh doanh.
Kết quả tiêu thụ sản phẩm theo mặt hàng được phản ánh qua bảng số liệu
sau:
Biểu số 5
MẶT HÀNG TIÊU THỤ QUA 5 NĂM TỪ NĂM 2001 - 2002 - 2003 VÀ 2004
(đơn vị tính Triệu đồng)
Các chỉ tiêu 2001 2002 2003 2004
Tổng doanh thu 3.370,09
7
3.626,07
7
3.834,07
7
4.082,5
Tạp chí 409,697 409,697 409,697 409,697
Tạp chí các loại 383,117 383,117 383,117 383,117
Báo 26,580 26,580 26,580 26,580
Sách giáo khoa 1.091,2 1.190,4 1.289,6 1.376
Các loại giấy tờ 843,600 853,280 990,480 1.052
Biểu mẫu các loại 1.025,6 1.172,7 1.144,3 1.244,8
(Nguồn: Báo cáo tài chính - Phòng Kế toán)
3. Phân tích về thị trường tiêu thụ
Nhân tố thị trường bao gồm cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra
của Doanh nghiệp. Thị trường đầu vào (cung cấp các yếu tố cho quá trình sản
xuất như nguyên vật liệu, máy móc thiết bị…) có tác động trực tiếp đến giá
thành sản phẩm, tính liên tục và hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh.
còn đối với thị trường đầu ra quyết định doanh thu của doanh nghiệp trên cơ
sở chấp nhận hàng hoá dịch vụ của doanh nghiệp; thị trường đầu ra sẽ quyết
định tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tạo vòng quay vốn nhanh hay chậm từ đó tác
động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, việc phân tích thị trường là một vấn đề
hết sức quan trọng không thể thiếu được. Phân tích thị trường là để tìm ra
những thị trường mạnh yếu của Công ty: Những thị trường mới, những thị
trường tiềm năng, cần đầu tư vào thị trường nào…
Việc duy trì và mở rộng thị trường có một nhiệm vụ và khả năng tăng
cường doanh số bán. Nếu để mất bất cứ một thị trường nào thì ngoài việc
giảm lợi nhuận thì Công ty sẽ gặp khó khăn lớn trong trường hợp muốn thâm
nhập trở lại thị trường. Do vậy, để mở rộng thị trường Công ty phải chú ý đến
nhiều hoạt động thúc đẩy bán hàng, kích thích nhu cầu sử dụng của khách
hàng. Đối với các sản phẩm kinh doanh đó là biểu mẫu các loại Công ty đã rất
chú trọng thông qua các hoạt động: Hình thức giảm giá cho khách hàng mua
số lượng nhiều, lập kế hoach mở thêm một số cơ sở in nhỏ tại các Huyện vì đây
sẽ là thị trường tiềm năng đối với sản phẩm biểu mẫu các loại. Bên cạnh đó
Công ty phải tổ chức tốt các hoạt động sau bán hàng, nhằm duy trì, củng cố và
mở rộng hoạt động tiêu thụ sản phẩm cũng như thị trường của mình. Tại các
quận, huyện, nguyên tắc chung là đảm bảo chất lượng sản phẩm, không được
gây khó khăn cho khách hàng, xử lý các khiếu nại của khách hàng. Tuy nhiên
hoạt động sau bán hàng của Công ty còn nhiều hạn chế như Công ty chỉ giảm
giá cho khách hàng ký kết những hợp đồng lớn mà chưa có các chương trình
khuyến khích khách hàng có hợp đồng nhỏ lẻ.
Công ty DAD sản xuất nhiều sản phẩm với đa dạng kích thước, mẫu mã.
Tình hình tiêu thụ theo thị trường của Công ty được thể hiện qua bảng
số liệu sau:
Biểu số 7: KẾT QUẢ TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY QUA KÊNH PHÂN PHỐI
(Đơn vị tính: Triệu đồng)
Năm Doanh thu Ngành và
Thành phố
Tỷ lệ % Các Quận,
Huyện
Tỷ lệ %
2001 3.370,097 2.587,297 76,77 782,800 23,23
Tạp chí hàng không 409,697 100 -
Tạp chí các loại 383,117 -
Báo 26,580 -
Sách giáo khoa 1.091,2 100 -
Các loại giấy tờ 568 67,34 275,600 32,66
Biểu mẫu các loại 518,400 50,54 507,200 49,45
2002 3.626,077 2.784,097 76,77 841,980 23,23
Tạp chí hàng không 409,697 100 -
Tạp chí các loại 383,117 -
Báo 26,580 -
Sách giáo khoa 1.190,4 100 -
Các loại giấy tờ 574,400 67,31 278,880 32,69
Biểu mẫu các loại 609,600 52 563,100 48
2003 3.834,077 2.938,657 76,64 895,420 23,36
Tạp chí hàng không 409,697 100 -
Tạp chí các loại 383,117 -
Báo 26,580 -
Sách giáo khoa 1.289,6 100 -
Các loại giấy tờ 667,200 67,36 323,280 32,64
Biểu mẫu các loại 572,160 50 572,140 50
tay người tiêu dùng). Với kênh trực tiếp này, Công ty dễ quản lý được lượng
sản phẩm bán ra của mình, tiết kiệm được chi phí trung gian, nắm bắt được
nhu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng. Tuy nhiên nó có nhược điểm là
thời gian thu hồi vốn chậm, Công ty khó mở rộng ra các thị trường ở các tỉnh,
thành khác ngoài khu vực hoạt động truyền thống của Công ty. Thông thường
hình thức bán hàng này chỉ thực hiện khi khách hàng có nhu cầu đặt hàng với
khối lượng lớn thông qua việc ký kết hợp đồng trực tiếp với công ty. Khách
hàng của Công ty đặt hàng trực tiếp tại Công ty không nhiều, chủ yếu là các
khách hàng truyền thống có quan hệ làm ăn lâu dài, còn các khách hàng nhỏ
thì khó tiếp cận.
4. Phân tích các chính sách giá cả của Công ty
Hiện nay, việc định giá sản phẩm do công ty quyết định dựa vào tổng chi
phí, tình hình cung cầu trên thị trường. Trong thời gian qua công ty đã áp
dụng chính sách theo thị trường, tức là công ty căn cứ vào các mức giá của các
cơ sở in trên thị trường và căn cứ vào tình hình chi phí của mình để xác định
mức giá phù hợp sao cho vừa đảm bảo tiêu thụ được hàng hoá, vừa đảm bảo
làm ăn có lãi (kể cả những sản phẩm công ích do nhà nước định giá cũng trên
cơ sở giá xây dựng của công ty).
Để khuyến khích hoạt động tiêu thụ công ty còn áp dụng chính sách giá
đối với các nội dung sau:
- Đối với khách hàng đặt in trả tiền trước, hợp đồng có giá trị thanh
toán trên 15 triệu đồng được giảm giá 1% so với giá chuẩn trước khi tính thuế
giá trị gia tăng.
- Khách đặt in theo giá chuẩn, trả tiền trước hợp đồng có giá trị thanh
toán trên 15 triệu đồng được khuyến mại 1% doanh thu.
- Đối với khách hàng ở xa có hợp đồng in trên 10 triệu đồng được công
ty chuyển trả hàng đến tận nơi theo mức giá ưu đãi sau: