THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG Ở NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG HOÀN KIẾM - Pdf 62

THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG Ở NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG HOÀN
KIẾM
I- TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG HOÀN KIẾM
1- Ngân hàng công thương hoàn kiếm ra đời trên cơ sở Ngân hàng nhà
nước quận Hoàn Kiếm . Trước 03/1988, tức là trước nghị định 53/HĐBT về
đổi mới hoạt động ngân hàng thì nhiệm vụ chủ yếu của Ngân hàng Công
thương Hoàn Kiếm là vừa phục vụ , vừa kinh doanh tiền tệ tín dụng và thanh
toán trên địa bàn quận. Ngân hàng hoạt động trong cơ chế tập trung bao cấp
của nhà nước.
Sau nghị định 53/HĐBT, ngành ngân hàng nước ta đã chuyển từ hệ thống
ngân hàng một cấp thành hệ thống ngân hàng hai cấp, và từ đây Ngân hàng
Công thương Hoàn Kiếm trở thành một Ngân hàng thương mại trực thuộc hệ
thống ngân hàng công thương Việt Nam.
2. Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm có địa bàn hoạt động chính tại
quận Hoàn Kiếm -một trung tâm mại lớn của thủ đô Hà Nội. Nơi đây bao gồm
18 phường với dân số khoảng hơn 19 vạn người. Nằm giữa trung tâm kinh tế
văn hoá của cả nước, Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm có thuận lợi về
nhiều mặt song không tránh khỏi sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng
quốc doanh khác, các ngân hàng cổ phần và các chi nhánh ngân hàng nước
ngoài tại Việt Nam. Trên địa bàn quận còn có Hội sở chính của Ngân hàng công
thương Việt Nam nên các cơ quan xí nghiệp lớn của các Bộ, Sở và các doanh
nghiệp có tầm cỡ khác thường mở tài khoản và giao dịch trực tiếp với Hội sở
chính. Do đó khách hàng của Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm chỉ có một số
đơn vị kinh tế quốc doanh, còn chủ yếu là các đối tượng khách hàng thuộc
thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Tuy nhiên, trong mấy năm gần đây,
Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm đã chú trọng và tìm mọi biện pháp nhằm
thu hút và lôi kéo khách hàng là các doanh nghiệp nhà nước về mở tài khoản
tiền gửi và giao dịch với ngân hàng. Hiện nay, công ty Thăng Long, Tổng công
ty than Việt Nam, Tổng công ty lương thực Miền Bắc...là những đơn vị lớn,
thường xuyên giao dịch, vay vón của ngân hàng.
3. Do đặc điểm địa bàn hoạt động như vậy nên các khoản cho vay chủ yếu

kinh doanh. Với năng lực tài chính nghèo nàn, thêm vào đó năng lực quản lý
kinh doanh còn non lớt yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của thực
tế nên các doanh nghiệp rất khó có thể đạt được hiệu quả kinh tế cao.
- Số lượng khách hàng vay vốn của Ngân hàng không phải là đơn vị hạch
toán kế toán lại chiếm đa số (tư nhân và hộ các thể chiếm 82% năm 1999; 80%
năm 2000 và 75% năm 2001). loại hình kinh doanh này rất phức tạp, khó có
thể dự đoán được tình hình tài chính của họ nên việc cho vay với các khách
hàng thuộc đối tượng này là phức tạp, mạo hiểm đòi hỏi cán bộ tín dụng phải
linh hoạt nhạy bén, có phương pháp hữu hiệu đối với từng khách hàng cụ thể.
Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn phức tạp, còn có nhiều sai sót cũng như
thất bại song không thể không công nhận răng trong những năm gần đây
Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm đã có những chuyển biến tích cực nhanh
nhạy với yêu cầu đổi mới của nền kinh tế quốc dân nói chung và ngành Ngân
hàn nói riêng. thông qua việc mở rộng quan hệ tín dụng với khách hàng, Ngân
hàng Công thương Hoàn Kiếm đã đẩy mạnh công tác huy động vốn và cho vay
phục vụ sản xuất lưu thông và kinh doanh dịch vụ trên địa bàn quận ngày một
tốt hơn.
II- TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG
HOÀN KIẾM.
1- Tình hình huy động vốn.
Xuất phát từ nguyên tắc của Ngân hàng là "đi vay để cho vay", công tác
huy động vốn của Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm luôn được quan tâm
đúng mức, chỉ đạo kịp thời, chính xác, nhịp nhàng ăn khớp với sự biến động về
cho vay.
Qua phân tích tình hình huy động vốn của Ngân hàng Công thương Hoàn
Kiếm trong 3 năm 1999, 2000, 2001 ta thấy rằng với hệ thống huy động vốn
bao gồm 10 quỹ tiết kiệm, 3 phòng giao dịch và một trụ sở chính, Ngân hàng
Công thương Hoàn Kiếm đã rất năng động trong việc huy động vốn. Biểu hiện
cụ thể là:
- Nguồn vốn huy động bình quân tăng nhanh trong 3 năm. năm 2000

là từ các nguồn khác. Rõ ràng nguồn đầu vào của chi nhánh là rất lớn so với
các ngân hàng khác đến nỗi hầu như Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm
không bao giờ sử dụng hết phải điều chuyển vốn về NHCT TW chứ không rơi
vào tình trạng khó khăn như nhiều ngân hàng thiếu vốn cho vay.
2- Tình hình sử dụng vốn.
Bên cạnh việc coi trọng công tác huy động vốn thì việc sử dụng vốn, đầu
tư vốn đã huy động được vào đâu cho có hiệu quả là vấn đề mang tính sống
còn đem lại lợi nhuận chủ yếu cho nhà ngân hàng. Thời gian qua Ngân hàng
Công thương Hoàn Kiếmđã áp dụng nhiều hình thức cho vay đa dạng và phong
phú như cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn, cho vay vốn đặc biệt, cho
vay tài trợ uỷ thác các dự án (dự án RAP, EC, KFW ...) nhằm khai thác triệt để
nhu cầu tín dụng của khách hàng của mọi thành phần kinh tế. Đặc biệt trong
chiến lược kinh doanh tín dụng của mình, Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm
đã rất chú trọng đến khu vực kinh tế ngoài quốc doanh - một hướng phát triển
hoàn toàn đúng đắn, biểu hiện sự phù hợp giữa điều kiện thực tế của ngân
hàng với đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn
hiện nay. Nhưng cũng phải thừa nhận rằng việc thực hiện tín dụng với khu vực
kinh tế ngoài quốc doanh ở nưóc ta nói chung là rất phức tạp. Để thành công
trong lĩnh vực này yêu cầu đầu tiên là ông chủ ngân hàng phải có tinh thần
trách nhiệm cao, năng lực quản lý kinh doanh giỏi và phải có trong tay đội ngũ
cán bộ tín dụng lành nghề, có tư cách đạo đức tốt. Thực tế về sự đổ vỡ ở Ngân
hàng Công thương Hoàn Kiếm năm 2000 đã phản ững rõ điều này.
2.1- Sự biến động về dư nợ
Khối lượng tín dụng nhìn chung là tăng lên qua các năm kể từ năm 1999
đến năm 2001 và đầu năm 2002. Năm 1999, dư nợ tín dụng là 213 tỷ đồng thì
đến năm 2001 con số này đã tăng lên đến 353 tỷ, tức là đã tăng 65% so với
năm 1999, tương đương 140 tỷ đồng. Việc dư nợ tín dụng tăng lên như vậy
chủ yếu là do sự gia tăng của tín dụng ngắn hạn. Đặc biệt năm 2001, tín dụng
ngắn hạn đối với khu vực kinh tế quốc doanh đã tăng lên một cách chóng mặt:
Từ 4 tỷ năm 2000 đã đạt tới 187 tỷ năm 2001 (tăng gấp hơn 46 lần). điều này

trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ. Mặt khác, do thực hiện chính sách kinh
tế nhiều thành phần, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã có những bước phát
triển đáng kể khiến cho nhu cầu tín dụng ngân hàng có su hướng tăng lên. đặc
biệt đối với quận Hoàn kiếm - Một trung tâm văn hoá kinh tế thương mại và
dịch vụ lớn của cả nước thì sự gia tăng về nhu cầu tín dụng trong thời gian
qua là rất dễ thấy.
* Nguyên nhân thứ 2: Dẫn đến sự gia tăng về tín dụng ở Ngân hàng Công
thương Hoàn Kiếmphải kể đến sự thay đổi về cơ chế quản lý lãnh đạo và chiến
lược của Ngân hàng . Từ quý III /2000 ban lãnh đạo mới lên kế nhiệm đã thay
đổi cách nghĩ, cách làm với phương châm "lùi một bước để tiến hai bước", đã
bám sát vào những quy chế tín dụng, cương quyết loại bỏ những khách hàng
mạo hiểm, tích cực mở rộng lôi kéo các doanh nghiệp nhà nước về phía mình.
Do đó dư nợ tín dụng của năm 2001 đã tăng lên nhiều như vậy.
2.2- Cơ cấu cho vay.
Xem xét về cơ cấu cho vay ở Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm trong
giai đoạn vừa qua ta thấy nổi bật nên một số điểm sau:
* Thứ nhất: Xét theo thành phần kinh tế.
Do có những nét đặc thù riêng về phạm vi, địa bàn hoạt động, về đối
tượng khách hàng, về môi trương kinh doanh... mà trong cơ cấu tín dụng của
Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm, sự phân bố giữa tín dụng cho khu vực
quốc doanh và ngoài quốc doanh không đồng đều. xét giai đoạn từ năm 2000
trở về trước thì khách hàng vay vốn của Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm
chủ yếu là tư nhân, hộ cá thể, doanh nghiệp tư nhân và công ty TNHH: Chiếm
91% năm 1999 và 90% năm 2000. Cho vay đối với các khách hàng này bên
cạnh những ưu điểm lớn lại bộc lộ nhiều hạn chế, dễ ràng cho ngân hàng khi
tìm kiếm khách hàng vay song lại là mạo hiểm bởi vì thông thường các đối
tượng thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh hoạt động nhỏ bé, chế độ sổ
sách kế toán không chặt chẽ rất khó khăn cho ngân hàng trong việc thẩm định,
kiểm tra giám sát. mặt khác họ có những thủ thuận lừa đảo tinh vi, khôn khéo
và bài bản hơn so với các doanh nghiệp Nhà nước.

có hiệu quả.
Mặt khác, kahchs hàng của NHCT Hoàn kiếm thuộc đối tượng kinh tế
quốc doanh ít, và nếu có thì cũng chủ yếu là các đơn vị kinh doanh nên các dự
án cho vay trung dài hạn chiếm tỷ trọng rất nhỏ (chỉ từ 5-10%) .
Xem xét dư nợ tín dụng ta còn thấy một vấn đề nổi lên đó là: Các đơn vị
vay vốn chủ yếu xin vay bằng nội tệ, vạy bằng ngoại tệ không đáng kể (thông
thường cho vay bằng ngoại tệ chiếm từ 15-20%, cá biệt năm 1999 chỉ có 5%
vốn cho vay bằng ngoại tệ). Điều này chứng tỏ rằng hoạt động ngoại tệ chưa
phải là hoạt động sôi động của ngân hàng. Chỉ có các khách hàng (mà chủ yếu
là KTQD) có quan hệ xuất nhập khẩu hàng hoá, thiết bị nguyên vật liệu với các
công ty nước ngoài mới cần vay ngoại tệ, mà số khách hàng đó đóng trên địa
bàn quận Hoàn kiếm rất ít hoặc nếu có các doanh nghiệp này lại quan hệ với
Hội sở chính của Ngân hàng công thương Việt Nam hay Ngân hàng ngoại
thương. Hơn nữa, do quy chế quản lý ngoại hối của ngân hàng Nhà nước Việt
nam khá chặt chẽ nên việc trao đổi và vay mượn ngoại tệ còn gặp nhiều khó
khăn khiến cho khách hàng chưa thích thú và còn hạn chế toói đa các hoạt
động liên quan đến ngoại tệ.
* Thứ ba: Theo ngành kinh tế, theo các báo cáo tổng hợp tín dụng của
Ngân hàng thì khối lượng tín dụng cho ngành thương mại và dịch vụ chiếm tỷ
trọng cao (thông thường lớn hơn 50%) trong tổng dư nợ, trong khi đó khối
lượng tín dụng cho sản xuất (công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp) chỉ chiếm
khoảng từ 12% - 18%, tiếp theo là tín dụng đối với ngành xây dựng chiếm tỷ
trọng từ 6% - 12%, số còn lại là khối lượng tín dụng thuộc các ngànhkinh tế
khác, và một bộ phận tín dụng không phân loại.
3- hiệu quả sử dụng vốn.
thông qua việc phân tích tình hình huy động và cho vay vốn của kcho
ngành thương mại và dịch vụ chiếm tỷ trọng cao (thông thường lớn hơn 50%)
trong tổng dư nợ, trong khi đó khối lượng tín dụng cho sản xuất (công nghiệp
và tiểu thủ công nghiệp) chỉ chiếm khoảng từ 12% - 18%, tiếp theo là tín dụng
đối với ngành xây dựng chiếm tỷ trọng từ 6% - 12%, số còn lại là khối lượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status