HIỆU QUẢ CỦA TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI GÓP PHẦN THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI - Pdf 62

HIỆU QUẢ CỦA TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI GÓP PHẦN THỰC
HIỆN
CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN
MỚI

Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối Đổi mới do Đại hội Đại biểu toàn
quốc lần thứ VI của Đảng khởi xướng, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan
trọng trên nhiều phương diện, trong đó sản xuất nông nghiệp và khu vực nông
thôn đã có bước phát triển căn bản và đột phá. Nhận thức được tầm quan trọng
của nông nghiệp, nông thôn, Nghị quyết Đại hội Đảng khóa X đã khẳng định
“Công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan
trọng hàng đầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo bước chuyển
mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống
nhân dân”. Tại Hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành Trung ương khóa X đã ban
hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông
thôn khẳng định “nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở
và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế- xã hội bền vững…”. Thực hiện
Nghị quyết của Đảng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
800/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng
nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 với mục tiêu tổng quát là:“Xây dựng nông
thôn mới để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân; có kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội phù hợp; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản
xuất hợp lý, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển
nông thôn với đô thị; xã hội nông thôn dân chủ, bình đẳng, ổn định, giàu bản
sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; quốc phòng và an ninh,
trật tự được giữ vững”.
Để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới,
Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều chính sách quan trọng, trong đó có chính sách
1


2


sách. Đây là chương trình tín dụng có dư nợ lớn nhất trong các chương trình tín
dụng CSXH đang thực hiện; nguồn vốn cho vay đối với hộ nghèo đã đáp ứng
nhu cầu vay vốn của hộ nghèo trong cả nước, trong đó tập trung cho các xã vùng
sâu, vùng xa, miền núi, vùng khó khăn; đã giúp cho gần 3,3 triệu hộ vươn lên
thoát khỏi ngưỡng nghèo.
2. Chương trình cho vay hộ cận nghèo: Dư nợ đạt 31.652 tỷ đồng, chiếm
15,76% tổng dư nợ với trên 890 nghìn hộ còn dư nợ; doanh số cho vay đạt
70.290 tỷ đồng với gần 2,5 triệu lượt hộ cận nghèo được vay vốn; đáp ứng nhu
cầu vốn phục vụ SXKD của hộ cận nghèo, tăng thu nhập, cải thiện đời sống,
giảm nguy cơ tái nghèo.
3. Chương trình cho vay hộ mới thoát nghèo: Dư nợ đạt 33.583 tỷ đồng,
chiếm 16,72% tổng dư nợ với trên 1 triệu hộ còn dư nợ; doanh số cho vay đạt
45.728 tỷ đồng với gần 1,4 triệu lượt hộ mới thoát nghèo được vay vốn ; đã giúp
cho hộ mới thoát nghèo có vốn để tiếp tục phát triển SXKD, nâng cao thu nhập,
thoát nghèo bền vững. Ngay sau khi ban hành, tín dụng đối với hộ mới thoát
nghèo nhanh chóng đi vào cuộc sống, được cấp ủy, chính quyền các cấp và
người dân đồng tình ủng hộ.
4. Chương trình cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường
(NS&VSMTNT): Dư nợ đạt 34.329 tỷ đồng, chiếm 17,1% tổng dư nợ với gần 2,8
triệu hộ còn dư nợ; doanh số cho vay đạt 58.845 tỷ đồng với trên 5,3 triệu lượt
hộ được vay vốn; giúp các hộ gia đình được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh, nâng
cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn.
5. Chương trình cho vay giải quyết việc làm: Dư nợ đạt 17.560 tỷ đồng,
chiếm 8,74% tổng dư nợ với gần 534 nghìn hộ còn dư nợ; doanh số cho vay đạt
36.879 tỷ đồng với trên 1,4 triệu lượt khách hàng được vay vốn ; góp phần tạo
việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập, mở rộng sản xuất, phát triển các
ngành nghề, thực hiện 02 Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững

Ngoài ra, NHCSXH đang thực hiện một số chương trình, dự án cho vay
do các tổ chức trong và ngoài nước ủy thác với dư nợ 5.005 tỷ đồng, chiếm
2,5% tổng dư nợ.
4


Từ kết quả nêu trên, có thể đánh giá: Các chương trình tín dụng CSXH đã góp
phần tích cực vào việc thực hiện hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia xây
dựng nông thôn mới. NHCSXH đã triển khai thực hiện các chương trình tín
dụng chính sách đến với người dân một cách nhanh chóng, thuận lợi và hiệu quả
nhất. Vốn tín dụng CSXH đã được đầu tư đến 100% xã, phường, thị trấn trên
toàn quốc, trong đó tập trung ưu tiên cho vay khu vực DTTS và miền núi, vùng
khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới. Đến 30/9/2019, dư nợ tại vùng DTTS và
miền núi đạt 105.490 tỷ đồng, chiếm 52,53% tổng dư nợ với hơn 3,2 triệu khách
hàng còn dư nợ; Dư nợ tại các huyện nghèo theo Quyết định số 275/QĐ-TTg
ngày 07/3/2018 đạt 21.963 tỷ đồng, chiếm 10,9% tổng dư nợ với gần 600 ngàn
khách hàng còn dư nợ.
Đồng thời, NHCSXH đã chú trọng cho vay đối tượng hộ nghèo, hộ cận
nghèo, hộ đồng bào DTTS. Về cơ bản hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ đồng bào
DTTS đã được thụ hưởng tín dụng CSXH. Dư nợ cho vay đối với hộ nghèo, hộ
cận nghèo, hộ mới thoát nghèo đạt 100.782 tỷ đồng, chiếm 50,2% tổng dư nợ,
với hơn 3 triệu hộ còn dư nợ; dư nợ cho vay đối với đồng bào DTTS đạt 49.547
tỷ đồng chiếm 24,8% tổng dư nợ với trên 1,4 triệu hộ còn dư nợ. Trong giai
đoạn 2010 đến 30/9/2019 đã có trên 19 triệu lượt hộ nghèo và các đối tượng
chính sách khác được vay vốn từ NHCSXH, với doanh số cho vay đạt 415.440
tỷ đồng; góp phần giúp gần 3,3 triệu hộ vượt qua ngưỡng nghèo; thu hút, tạo
việc làm cho trên 1,6 triệu lao động (trong đó có trên 37 nghìn lao động đi làm
việc có thời hạn ở nước ngoài); trên 1,4 triệu HSSV được vay vốn học tập; xây
dựng trên 10 triệu công trình NSVSMT nông thôn; trên 356 nghìn căn nhà ở cho
hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác... Vốn tín dụng CSXH đã trực tiếp

trong khu vực gắn với yêu cầu phát huy tinh thần tự lực, tự cường của hộ nghèo,
hộ đồng bào DTTS trong phát triển sản xuất, nâng cao đời sống. Nhiều tỉnh,
thành phố đã tích cực phát huy vai trò của vốn tín dụng CSXH trong việc thực
hiện các Đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương, tập trung dành
nguồn lực từ ngân sách địa phương ủy thác qua NHCSXH cho vay để thực hiện
mục tiêu giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới.
6


Nhóm các chương trình tín dụng phục vụ SXKD tạo sinh kế, tạo việc làm
(cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, giải quyết việc làm, đối
tượng chính sách đi làm việc ở nước ngoài, hộ SXKD vùng khó khăn, thương
nhân vùng khó khăn, hộ đồng bào DTTS…), chiếm 72,7% tổng dư nợ với gần
4,5 triệu khách hàng còn dư nợ, đã hỗ trợ người vay có nguồn lực để đầu tư các
mô hình SXKD hiệu quả, mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, ứng
dụng khoa học công nghệ, tham gia sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị gắn.
Trong giai đoạn 2010-2019 đã thu hút, tạo việc làm cho trên 1,6 triệu lao động,
tăng thu nhập cho người vay vốn; góp phần thực hiện tiêu chí số 10 về thu nhập,
tiêu chí số 12 về tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên trong Bộ tiêu chí quốc
gia về xã nông thôn mới.
Thứ tư, phát triển giáo dục ở nông thôn
Chương trình cho vay học sinh sinh viên đã hỗ trợ hộ nghèo và các đối
tượng chính sách khác có nguồn kinh phí trang trải chi phí về học tập cho con
em đang theo học ở các cấp học phổ thông, trung cấp, cao đẳng, đại học, học
nghề, không để tình trạng học sinh, sinh viên phải bỏ học vì không có tiền. Đây
là chính sách có ý nghĩa nhân văn sâu sắc cả về kinh tế, chính trị và xã hội, tạo
được sự đồng thuận cao của các ngành, các cấp, của cộng đồng xã hội. Giai
đoạn 2010-2019 đã có hơn 1,4 triệu HSSV được vay vốn trang trải chi phí học
tập, góp phần đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao cho đất nước, phát triển
nền giáo dục ở địa bàn vùng khó khăn, vùng nông thôn. Từ đó, góp phần thực

Thông qua hoạt động nhận ủy thác từ NHCSXH, các tổ chức Chính trị xã
hội có điều kiện tập hợp lực lượng, củng cố, nâng cao cả về số lượng, chất lượng
phong trào hoạt động, tăng số lượng hội viên, giúp người nghèo có điều kiện
được sinh hoạt tại các tổ chức chính trị xã hội, qua đó được tiếp cận với nhiểu
hoạt động lồng ghép như hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư,
chuyển giao khoa học kỹ thuật, chăm sóc sức khỏe, nâng cao dân trí…, góp
phần củng cố hệ thống chính trị cơ sở, tạo điều kiện để các tổ chức chính trị xã
hội phát huy vai trò trong xây dựng nông thôn mới tại địa phương.

8


Tín dụng CSXH đã góp phần thực hiện tiêu chí số 18.3 về Đảng bộ, chính
quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh” và tiêu chí số 18.4 về tổ chức
chính trị xã hội của xã đạt loại khá trở lên.
Thứ bảy, giữ vững quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội nông thôn
Các chương trình tín dụng CSXH đã giúp người nghèo và các đối tượng
chính sách có việc làm, có thu nhập, nâng cao dân trí, từ đó tránh xa các tệ nạn
xã hội, góp phần ngăn chặn và đẩy lùi tín dụng đen. Việc cho vay thông qua Tổ
TK&VV được thực hiện công khai, dân chủ, tăng cường sự đoàn kết, tình làng,
nghĩa xóm. Nhờ vốn tín dụng CSXH, hộ nghèo, hộ đồng bào DTTS và các đối
tượng chính sách được tiếp cận nguồn vốn của Chính phủ để thực tập làm ăn,
tạo việc làm, từng bước nâng cao trình độ quản lý SXKD, yên tâm làm giàu trên
chính quê hương mình; không bị các thế lực thù địch lôi kéo, lợi dụng; khối đại
đoàn kết toàn dân tộc được củng cố; góp phần thực hiện tiêu chí số 19.2 về xã
đạt chuẩn an toàn về an ninh, trật tự xã hội và đảm bảo bình yên.
Việc tổ chức thực hiện có hiệu quả các chương trình tín dụng CSXH đã
góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội theo định hướng
của Đảng và Nhà nước; ngăn chặn và đẩy lùi tín dụng đen; thực hiện chương
trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới; bảo

chính, hỗ trợ tốt nhất cho người dân, đặc biệt là những người yếu thế. Từ đó, đã
giúp người nghèo và các đối tượng chính sách tiếp cận chính sách tín dụng ưu
đãi của Nhà nước thuận lợi, tiết giảm chi phí, thực hiện quy chế dân chủ, công
khai và tăng cường sự giám sát của chính quyền địa phương, các tổ chức chính
trị xã hội và của cả xã hội trong việc thực hiện chính sách tín dụng đối với người
nghèo và các đối tượng chính sách khác. Theo đánh giá của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội tại báo cáo số 660/BC-UBTVQH13 ngày 19/5/2014:“Thủ tục cho vay
đối với hộ nghèo khá thuận lợi, đơn giản. Việc tổ chức giao dịch tại xã của
NHCSXH đã tạo được hệ thống dịch vụ gần dân, thân thiện và có trách nhiệm,
tiết kiệm chi phí giao dịch, đi lại cho người dân, mô hình tổ chức và hoạt động
của NHCSXH được tổ chức hợp lý, năng động, nâng cao khả năng quản lý…”.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả nêu trên, hoạt động tín dụng CSXH
trong thời gian qua còn một số tồn tại, hạn chế và khó khăn sau:
10


Một là: Nguồn lực để thực hiện các chương trình tín dụng CSXH chưa có
tính chủ động, còn hạn chế so với nhu cầu thực tế của người nghèo và các đối
tượng chính sách khác, trong khi nhu cầu vốn tín dụng rất lớn tại các địa bàn
đang phấn đấu hoàn thành xây dựng nông thôn mới cũng như tại các địa bàn đã
đạt chuẩn nông thôn mới, cần có nguồn lực để đảm bảo giữ vững và tiếp tục xây
dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu. Bên cạnh đó, một số
địa phương dành nguồn lực từ ngân sách để cho vay người nghèo và các đối
tượng chính sách khác trên địa bàn còn thấp.
Hai là: Chất lượng tín dụng CSXH chưa đồng đều, tại một số vùng, địa
phương tỷ lệ nợ quá hạn còn cao (chủ yếu ở khu vực Đồng bằng sông Cửu
Long); một số chương trình tín dụng tiềm ẩn rủi ro dẫn đến gia tăng nợ quá hạn
(chương trình cho vay hộ đồng bào DTTS đặc biệt khó khăn, cho vay hộ nghèo
về nhà ở, cho vay nhà ở vùng thường xuyên ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long).
Ba là: Tại một số nơi, công tác phối hợp giữa các hoạt động khuyến nông,

Cùng với đó, tiếp tục thực hiện tốt Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 22/11/2014 của
Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín
dụng CSXH, hoàn thành Chiến lược phát triển NHCSXH giai đoạn 2011-2020
đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
NHCSXH tiếp tục phát triển theo hướng ổn định, bền vững. Xây dựng
Chiến lược phát triển NHCSXH giai đoạn 2021-2030 theo hướng: “Tập trung
thống nhất chức năng tín dụng chính sách từ các Ngân hàng thương mại sang
NHCSXH; phát triển NHCSXH thành tổ chức có khả năng tự chủ và phát triển
ổn định lâu dài, đồng thời duy trì được vai trò là định chế tài chính công thực
hiện các CSXH của Chính phủ; tập trung vào những lĩnh vực mà các tổ chức tín
dụng hoạt động theo nguyên tắc thị trường không thể đáp ứng hoặc chỉ đáp ứng
được một phần”.
2. Cần tiếp tục cân đối, bố trí đủ nguồn lực để NHCSXH thực hiện các
chương trình tín dụng CSXH đã ban hành, đảm bảo có mức vốn của nhà nước và
12


có nguồn gốc nhà nước đủ lớn để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của hộ nghèo
và các đối tượng chính sách khác.
- Tiếp tục bố trí vốn từ Ngân sách nhà nước dành cho tín dụng CSXH theo
kế hoạch đầu tư công trung hạn trong các giai đoạn tiếp theo; quan tâm bổ sung
vốn cho Quỹ quốc gia về việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn phát triển sản
xuất kinh doanh, tạo việc làm, tạo sinh kế để góp phần thực hiện chương trình
mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.
- Báo cáo cấp có thẩm quyền cho phép tăng hạn mức phát hành trái phiếu
được Chính phủ bảo lãnh cho NHCSXH phù hợp với tỷ lệ tăng trưởng được Thủ
tướng Chính phủ giao, nhằm đáp ứng nguồn lực thực hiện chương trình tín dụng
CSXH có thời hạn cho vay dài.
- Quốc hội cần bố trí, quy định một nguồn vốn riêng từ nguồn ngân sách
Trung ương cho Đề án tổng thể đầu tư phát triển kinh tế xã hội vùng DTTS và

rủi ro phù hợp với đặc điểm, điều kiện của hộ nghèo, hộ DTTS.
- Tập trung tăng thêm nguồn vốn cho các chương trình tín dụng trọng tâm,
đang hỗ trợ đắc lực cho công tác xây dựng nông thôn mới một cách bền vững
như: cho vay giải quyết việc làm, NS&VSMT nông thôn...
5. Cấp ủy, chính quyền các cấp tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo
đối với hoạt động tín dụng CSXH, quan tâm bố trí nguồn lực từ ngân sách địa
phương và các nguồn vốn hợp pháp khác để bổ sung nguồn vốn cho vay hộ
nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn; hỗ trợ về cơ sở vật chất,
địa điểm, trang thiết bị, phương tiện làm việc nhằm nâng cao năng lực hoạt động
của NHCSXH. Chủ động xây dựng chương trình, dự án, gắn kết giữa đầu tư các
mô hình phát triển kinh tế xã hội, xây dựng nông thôn mới với nguồn vốn tín
dụng CSXH; đẩy mạnh hoạt động khuyến nông, khuyến công, khuyến lâm,
khuyến ngư, đào tạo nghề, chuyển giao công nghệ, tiêu thụ sản phẩm để nâng
cao hiệu quả tín dụng CSXH; thường xuyên điều tra, rà soát, thống kê xác nhận
hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác để tạo điều kiện cho
các đối tượng này được vay vốn kịp thời, đúng đối tượng.
14


6. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị xã hội tiếp tục thực
hiện tốt chức năng giám sát phản biện xã hội, trong đó có hoạt động tín dụng
CSXH; đẩy mạnh phổ biến, tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước về tín dụng CSXH đến các tầng lớp nhân dân, nhất là người nghèo
và các đối tượng chính sách khác; phối hợp với các cơ quan chức năng lồng
ghép có hiệu quả việc cho vay vốn và chuyển giao khoa học kỹ thuật, hướng dẫn
cách làm ăn, đào tạo nghề, xây dựng và nhân rộng các mô hình giảm nghèo bền
vững; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đôn đốc hoạt động của cấp dưới,
đặc biệt trong nhiệm vụ quản lý tổ TK&VV; chú trọng công tác đào tạo, tập
huấn cho cán bộ để nâng cao chất lượng tín dụng CSXH./.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status