ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
HOÀNG THỊ NGA
VẬN DỤNG LÝ THUYẾT DI ĐỘNG XÃ HỘI ĐỂ
XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH THU HÚT NHÂN LỰC
R&D TẠI VIỆN HÀN LÂM KH&CN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội, 2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
HOÀNG THỊ NGA
VẬN DỤNG LÝ THUYẾT DI ĐỘNG XÃ HỘI ĐỂ
XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH THU HÚT NHÂN LỰC
R&D TẠI VIỆN HÀN LÂM KH&CN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KH&CN
MÃ SỐ: 8 34 04 12 01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Đào Thanh Trƣờng
1.2 Khái niệm nhân lực R&D .................................................................................22
1.2.1 Khái niệm nhân lực KH&CN ..........................................................................22
1.2.2 Quan niệm về nhân lực R&D ..........................................................................25
1.2.3 Tầm quan trọng của nhân lực R&D trong phát triển kinh tế - xã hội ........26
1.3 Chính sách thu hút nhân lực ............................................................................28
1.3.1 Khái niệm chính sách và chính sách quản lý nhân lực .................................28
1.3.2 Khái niệm chính sách thu hút nhân lực.......................................................... 29
1.3.3 Khái niệm chính sách thu hút nhân lực R&D ...............................................31
1.3.4 Vai trò của chính sách thu hút nhân lực R&D đối với các viện nghiên cứu ...
............................................................................................................................ 32
1.4 Quan điểm vận dụng lý thuyết di động xã hội cho chính sách thu hút nhân
lực R&D ........................................................................................................................33
Tiểu kết chƣơng 1 ........................................................................................................34
Chƣơng 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THU HÚT NHÂN LỰC
R&D TẠI VIỆN HÀN LÂM KH&CN VIỆT NAM .................................................35
2.1. Tổng quan về nhân lực R&D trong các viện nghiên cứu..................................35
2.1.1. Sự phát triển của nhân lực R&D trong các viện nghiên cứu ........................35
2.1.2. Những thách thức trong phát triển nhân lực R&D tại các viện nghiên cứu37
2.2. Thực trạng nhân lực R&D tại Viện hàn lâm KH&CN Việt Nam ...................40
2.2.1. Những thay đổi về nhân lực R&D tại Viện hàn lâm KH&CN Việt Nam
trong giai đoạn 2012-2018 ........................................................................................... 40
2.2.2. Thực trạng di động xã hội của nhân lực R&D tại Viện hàn lâm KH&CN
Việt Nam .......................................................................................................................48
2.3. Thực trạng chính sách thu hút nhân lực R&D tại Viện hàn lâm KH&CN ....59
2.4. Đánh giá chính sách thu hút nhân lực R&D tại Viện hàn lâm KH&CN Việt
Nam ............................................................................................................................. 63
2.4.1. Các tác động dƣơng tính của chính sách .........................................................63
2.4.2. Các tác động âm tính của chính sách .............................................................. 70
học và kinh nghiệm thực tiễn hữu ích giúp tôi thực hiện luận văn này.
Tôi cũng không thể thiếu lời cảm ơn tới cơ quan chủ quản, tổ chức chủ trì
và cá nhân chủ nhiệm đề tài: “Chính sách quản lý di động xã hội đối với nguồn
nhân lực KH&CN chất lượng cao của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc
tế” (Mã số KX01.01/16-20) thuộc Chương trình KH&CN trọng điểm cấp quốc
gia KX.01/16-20 do PGS.TS Đào Thanh Trường làm chủ nhiệm vì đã cung cấp
số liệu, tài liệu tham khảo từ đề tài và hỗ trợ tác giả trong quá trình triển khai và
hoàn thiện Luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp của tôi đang
công tác tại các Viện hàn lâm KH&CN Việt Nam, và đặc biệt là gia đình đã
động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện
và hoàn thành luận văn này.
Tuy đã hết sức nỗ lực và cố gắng nhưng do hạn chế về kinh nghiệm, kiến
thức trong quản lý KH&CN nên luận văn Thạc sỹ này không thể tránh khỏi
những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của
các thầy cô và các bạn.
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu
Một trong những quy luật đóng vai trò chủ đạo chi phối hoạt động của nhân lực
KH&CN thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu hiện nay trong sáng kiến chính sách
đó là quy luật di động xã hội. Trong hệ thống khoa học, công nghệ và đổi mới liên tục
vận động, các chính sách gia luôn mong muốn tìm cách điều chỉnh thậm chí là tận
dụng các dòng lưu động nhân lực KH&CN giữa các quốc gia, khu vực hay giữa các tổ
chức nhằm biến chúng thành động lực cho phát triển nền kinh tế tri thức. Với nghiên
cứu này, qua phân tích bối cảnh chính sách thu hút nhân lực KH&CN hiện nay, tác giả
hy vọng có thể đưa ra những đề xuất chính sách dựa trên việc vận dụng quy luật di
số công bố quốc tế đạt chuẩn ISI, với mức tăng trong một số năm gần đây đến
25%/năm và chiếm 40-45% số công bố quốc tế của cả nước về khoa học tự nhiên
(riêng 5 năm 2010 - 2015 Viện hàn lâm có gần 9.300 công bố khoa học, trong đó có
trên 3100 công bố quốc tế với trên 2000 công trình đạt chuẩn ISI, hàng trăm sách
chuyên khảo, bằng sáng chế). Tính riêng năm 2017, Viện đã có gần 20 bằng độc quyền
sáng chế và 20 bằng độc quyền giải pháp hữu ích. Viện có 3 tạp chí về lĩnh vực toán
học và công nghệ nano được xếp vào danh mục Scopus quốc tế và đang. Viện Hàn lâm
đã trở thành cái nôi đào tạo sau đại học cho cả nước về lĩnh vực khoa học tự nhiên với
19 Viện nghiên cứu chuyên ngành của Viện hàn lâm được Thủ tướng Chính phủ giao
nhiệm vụ đào tạo tiến sỹ và thạc sỹ, hàng năm có trên 400 nghiên cứu sinh và 300 học
viên cao học được . Năm 2014, Học viện KH&CN trực thuộc Viện Hàn lâm
KH&CNVN được Thủ tướng Chính phủ thành lập đã mở ra giai đoạn mới cho Viện
Hàn lâm đẩy mạnh hơn nữa cả về số lượng và đặc biệt là chất lượng đào tạo cán bộ
khoa học có trình độ cao cho đất nước về khoa học tự nhiên.
Theo bảng xếp hạng Nature Index 2018 do tổ chức Nature Research vừa công
bố, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam là đơn vị dẫn đầu danh sách các cơ sở giáo dục
đại học, nghiên cứu trong nước về hoạt động nghiên cứu khoa học. Mỗi năm, Nature
Index công bố bảng xếp hạng dựa trên số lượng nghiên cứu chất lượng cao của năm
trước đó. Vị trí xếp hạng được đánh giá dựa trên 2 yếu tố: AC 1 và FC2. Năm 2018, số
bài báo AC của Việt Nam là 73, nhưng số bài báo tính theo FC chỉ là 12,56. Viện Hàn
lâm KH&CN Việt Nam đứng đầu các cơ sở giáo dục đại học, nghiên cứu của Việt
Nam với 32 điểm AC; 2,6 điểm FC. Trong đó, ngành Khoa học Vật lý chiếm số điểm
FC cao nhất – 6,2 điểm. Tiếp theo sau là ngành Khoa học sự sống với 3,18 điểm FC.
Ngành Khoa học Môi trường và Trái đất có 2,46 điểm. Cuối cùng là ngành Hoá học có
1,8 điểm.
1
quả khoa học tạo nên vị thế của VAST. Trong Quy hoạch phát triển Viện Hàn lâm
KH&CNVN đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030 xác định mục tiêu đến năm 2020 trở
thành một trung tâm nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ hàng đầu của cả
nước, với tiềm lực KH&CN đạt trình độ tiên tiến ở khu vực Đông Nam Á, đáp ứng tốt
các yêu cầu phát triển KH&CN và sự phát triển bền vững của đất nước. Để thực hiện
mục tiêu chiến lược này, VAST xác định vấn đề về nhân lực KH&CN đứng vị trí thứ
ba trong tổng số 5 mục tiêu phát triển, đó là “xây dựng chiến lược phát triển nguồn
nhân lực khoa học phù hợp trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu về KH&CN để có đội
ngũ cán bộ khoa học đáp ứng trình độ, năng lực cho sự phát triển của Viện trong giai
đoạn mới. Triển khai thực hiện tốt các cơ chế, chính sách ưu đãi trọng dụng đối với
cán bộ KH&CN cũng như chú trọng công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt cán
bộ trẻ tài năng để có đội ngũ cán bộ khoa học kế cận có trình độ cao về KH&CN trong
các lĩnh vực như công nghệ sinh học, y dược, công nghệ vật liệu mới, năng lượng,
công nghệ thông tin, công nghệ vũ trụ… tập trung ưu tiên hợp tác vào các lĩnh vực mà
tận dụng được thế mạnh của Việt Nam”. Theo đó, mục tiêu cụ thể cho nhân lực
KH&CN được xác định đến 2020 “xây dựng được đội ngũ 3.500 cán bộ biên chế và
1.700 cán bộ hợp đồng, trong đó 50% là cán bộ khoa học có học vị tiến sỹ, thạc sỹ.
3
/>3
Phấn đấu đạt tỷ lệ cán bộ nghiên cứu/cán bộ hỗ trợ nghiên cứu nhỏ hơn 1 để tạo ra cơ
cấu vận hành hợp lý của các viện chuyên ngành”, đến 2030 “xây dựng được đội ngũ
4.000 cán bộ biên chế, 2.000 cán bộ hợp đồng, trong đó 60% là cán bộ khoa học có
học vị tiến sỹ, thạc sỹ. Tỷ lệ cán bộ nghiên cứu/cán bộ hỗ trợ nghiên cứu nhỏ hơn 1 để
tạo ra cơ cấu vận hành hợp lý của các viện chuyên ngành”.
Hàng năm số lượng nhân lực R&D đầu ngành, có trình độ chuyên môn cao tại Viện
hàn lâm KH&CN VN đang ít dần chủ yếu do tuổi tác và sức khỏe không cho phép các
nhà khoa học này tiêp tục cống hiến. Lớp nhân lực R&D kế cận có trình độ cao chưa
quốc gia về dòng di động, việc nhấn mạnh ban đầu vào sự thất thoát các nguồn lực kỹ
năng cao ở các khu vực kém phát triển hơn – gắn liền với khái niệm "chảy máu chất
4
xám" - ngày càng được thay thế bằng tiếp cận về "tuần hoàn chất xám", thay thế ý
tưởng về dòng chảy một chiều và xác định di động khoa học như một hiện tượng phức
tạp, mà hiệu năng của nó lên sản sinh và truyền tải tri thức vẫn còn chưa được hiểu cặn
kẽ. Mặc dù những vấn đề liên quan của di động khoa học ngày càng gia tăng, các nhà
nghiên cứu đang phải đối mặt với việc thiếu dữ liệu đáng tin cậy về các dòng di động.
Điều này dẫn đến việc tìm kiếm các phương pháp mới cho phép nắm bắt sự phức tạp
và đa chiều của hiện tượng này. Vì tính di động ngày càng gắn bó với chuỗi các sự
kiện diễn ra trong sự nghiệp của một nhà khoa học, phân tích các quỹ đạo của các nhà
khoa học nổi lên như một phương pháp đầy triển vọng và lý lịch khoa học (CV) được
xem là một nguồn thông tin phong phú. Mục tiêu của bài báo chính xác là sử dụng một
cơ sở dữ liệu CV điện tử mới - Nền tảng DeGóis của Bồ Đào Nha - để khám phá khả
năng xây dựng các chỉ số di động có ý nghĩa và sử dụng chúng để hiểu tính năng động
của di động khoa học, như cũng như để xác định các tác động của di động lên sản sinh
và lưu thông tri thức, cả ở cấp độ cá nhân và cấp độ tổ chức hoặc quốc gia.
Nhóm tác giả Fontes, Videira và Calapez trong bài báo “Tác động của di động
khoa học dài hạn đến sự hình thành mạng lưới tri thức bền vững” đã tác động của tính
di động khoa học quốc tế dài hạn – gắn với các vị trí nghiên cứu hoặc đào tạo nâng cao
– đến sự hình thành mạng lưới kiến thức và sự bền vững của mạng lưới này. Nghiên
cứu thực nghiệm về trường hợp của các nhà khoa học Bồ Đào Nha trong ba lĩnh vực
khác nhau cung cấp bằng chứng về sự liên quan và sự bền vững của các mạng được
thiết lập trong các điều kiện nhất định và xác định một số yếu tố làm gia tăng khả năng
xảy ra các hiệu ứng này.
Tìm hiểu về ảnh hưởng của di động khoa học đến khả năng thúc đẩy tinh thần
doanh thương, và về vai trò của di động khoa học có phải là chất xúc tác để giảm thiểu
sự mất cân bằng giữa khoa học địa phương và quốc tế, cũng như các thiệt hại kinh tế
Từ một nghiên cứu thực nghiệm về 497 nhà nghiên cứu nước ngoài ở Ý và Bồ
Đào Nha, nhóm tác giả Baruffaldi và Landoni đã xác minh được tác động của các mối
liên kết của quốc gia gốc đến các lựa chọn di động trở lại và năng suất khoa học qua
bài báo “Di động trở về và năng suất khoa học của các nhà nghiên cứu làm việc ở
nước ngoài: Vai trò của các liên kết với quốc gia gốc”. Khảo sát sự hiện diện của một
số loại liên kết khác nhau của các nhà nghiên cứu làm việc ở nước ngoài với quốc gia
nguồn và kiểm soát các yếu tố bối cảnh phù hợp nhất (tuổi, khu vực nghiên cứu, vị trí
ở nước sở tại, v.v.) bài báo biện luận: xác suất trở về nước và năng suất khoa học ở
nước sở tại đều cao hơn đối với các nhà nghiên cứu duy trì mối liên kết với quê nhà, rõ
ràng sự hiện diện của các mối liên kết với quê nhà mang lại lợi ích trực tiếp cho cả hai
quốc gia bên cạnh lợi ích gián tiếp của việc mở rộng mạng lưới khoa học. Qua đó ý
nghĩa chính sách được thảo luận và nghiên cứu tiếp theo được đề xuất.
Bài báo “Các chính sách di động khoa học: cách thức các nhà khoa học Bồ Đào
nha đối diện với sự trở về quốc gia nguồn” của Fontes đề cập đến đặc tính di động của
các nhà khoa học và ý nghĩa của nó đối với các quốc gia có hệ thống KH&CN yếu
hơn. Tập trung vào “tình huống khó xử khi trở lại” và, sử dụng trường hợp Bồ Đào
Nha làm bối cảnh thực nghiệm, thảo luận về các điều kiện để trở lại, lựa chọn cộng
đồng phân tán và vai trò của các chính sách trong việc giảm thiểu tác động của các
dòng chảy không cân bằng, ông đi đến đề xuất một phương pháp nhằm xác định và
định vị các nhà khoa học nước ngoài tiêu biểu (một vấn đề cơ bản trong nghiên cứu di
động) và tiến hành áp dụng khai phá phương pháp đó trong một lĩnh vực cụ thể, để thu
thập một số thông tin về quỹ đạo của các nhà khoa học cũng như đạt được một số hiểu
biết sơ bộ về thái độ của họ đối với đất nước.
Các nghiên cứu quốc tế đã cho thấy những nỗ lực trong việc tìm ra những cách
thức xác định quỹ đạo di động, đo lường di động, các ảnh hưởng của di động đến hiệu
suất kinh tế, đến mạng lưới nghiên cứu, hay tinh thần doanh thương... Các giải pháp
chính sách ở quy mô quốc gia cũng được trao đổi một cách thẳng thắn để tìm ra những
bất cập trong chính sách hiện nay đối với sự di động của cộng đồng khoa học, cũng
như thảo luận một số phương hướng chính sách dựa trên đặc trưng của loại hình di
động này.
quan giữa các chỉ số, số lượng bài viết, tác phẩm đồng tác giả, tỉ lệ di cư và nhập cư
trong nội bộ Asean. Bài báo rà soát các chính sách thu hút nhân tài ở các quốc gia
Asean, đặc biệt nhấn mạnh vào thành công của Singapore trong chính sách xây dựng
cơ sở nghiên cứu mạnh, chính sách nhập cư, chính sách học bổng... Bài báo đã góp
phần khẳng định tầm quan trọng của di động xã hội trong chiến lược phát triển của
mỗi quốc gia tại Asean, song cũng đồng thời mở ra hướng nghiên cứu sâu hơn về cách
thức thu hút, đào tạo, giữ chân nhân lực KH&CN thông qua các chương trình sàng lọc.
Trong bài viết “Di chuyển nhân lực KH&CN và những hàm ý chính sách”
nhóm tác giả Đinh Thị Huyền Trang và Phạm Quang Trí đề cập đến di chuyển nhân
lực KH&CN như một nguyên lý vàng tác động đến phát triển nhân lực KH&CN qua
việc tăng cường sự lưu chuyển tri thức, đặc biệt là tri thức ẩn, tăng sự cọ xát giữa
nghiên cứu và thực tiễn, thúc đẩy năng lực nghiên cứu toàn cầu trong giải quyết các
vấn đề chung. Từ thực tiễn của các hướng di chuyển nhân lực KH&CN xét trên quy
mô quốc gia, các chính sách di chuyển nhân lực sau được đề xuất: chính sách phải gắn
7
với định hướng ưu tiên lĩnh vực/ngành nghề đào tạo, khuyến khích sự tự do học tập,
sáng tạo, tự do di chuyển để có sự hỗ trợ tốt nhất, thúc đẩy di chuyển giữa khối nghiên
cứu – đào tạo – sản xuất, tăng cường di động theo chiều dọc gắn với việc nâng cao vai
trò của hệ thống giao dục đại học. Mới dừng lại ở một hàm ý chính sách do đó dù có
những thông tin hữu ích song bài viết chưa đưa ra được một triết lý chính sách cụ thể
cho di chuyển nhân lực KH&CN Việt Nam.
Nghiên cứu về hiện tượng di động xã hội trong cộng đồng khoa học có thể đề
cập đến luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý KH&CN với tựa đề “Quản lý hiện
tượng di động xã hội nguồn nhân nhân lực KH&CN chất lượng cao tại Viện Hàn lâm
KH&CN Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế” của Nguyễn Thanh Tâm. Từ cơ
sở lý thuyết về di động xã hội của nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao, tác giả đã
phân tích thực trạng và tác động của di động xã hội đến Viện hàn lâm KH&CN Việt
Nam, từ đó đề xuất các giải pháp điều chỉnh di động xã hội trên tiếp cận hành chính và
chính trong khoa học, di động dọc liên quan đến sự phát triển chiều sâu của khoa
học… cũng như vai trò của các loại hình di động xã hội trên tới sự phát triển KH&CN
của các tổ chức KH&CN, các quốc gia. Có thể xem đây là một trong những công trình
nghiên cứu khá toàn diện với những số liệu phong phú, cùng những phân tích đa chiều
về di động xã hội của nhân lực có kỹ năng cao tại Việt Nam.
Bài báo Chính sách lưu chuyển nhân lực KH&CN ở một số quốc gia của Hoàng
Văn Tuyên, Nguyễn Thị Minh Nga đặc biệt nhấn mạnh đến chính sách khuyến khích
sự lưu chuyển giữa khu vực khoa học và khu vực công nghiệp gồm cả lưu chuyển
nhân lực KH&CN trong nước và quốc tế dựa trên hai hướng tiếp cận: hỗ trợ kinh tế và
tạo điều kiện thuận lợi cho lưu chuyển nhân lực. Chính sách lưu chuyển nhân lực
KH&CN trong nước có những điểm nhấn sau: hình thành môi trường và nội dung đào
tạo phù hợp, hướng dẫn luận văn từ cả khu vực khoa học và khu vực công nghiệp, tạo
cơ hội lưu chuyển, đề cao sự lưu chuyển nhân lực, lưu chuyển lâu dài tới khu vực
khác, tăng quyền tự chủ và khắc phục các trở ngại hành chính, tăng cường hợp tác
giữa khoa học và công nghiệp, đưa lưu chuyển cán bộ vào tiêu chí đánh giá
viện/trường đại học, hình thành mạng lưới hợp tác, đào tạo nhân lực. Những chính
sách lưu chuyển nhân lực KH&CN quốc tế được bài báo đề cập và phân tích bao gồm:
khuyến khích về tài chính, định cư đặc biệt, công nhận bằng cấp nước ngoài, dịch vụ
hỗ trợ, tạo điều kiện nghiên cứu ở nước ngoài. Các dữ liệu chính sách được phân tích
đa dạng và phong phú song chưa thể hiện rõ các tác động thực tế của những chính sách
này lên sự di động của cộng đồng khoa học trên thế giới.
Nhìn chung các nghiên cứu trong nước đã thể hiện được khá rõ ràng các dạng
thức, mức độ di động của nhân lực KH&CN tại Việt Nam qua việc xác định các tiêu
chí của di động cũng như một số nỗ lực đo lường di động nói chung. Phần lớn các
nghiên cứu vẫn mới dừng ở một hàm ý chính sách cho di động song việc bàn sâu hơn
về chính sách cụ thể nào để thu hút nhân lực KH&CN nói chung, nhân lực R&D nói
riêng vẫn còn để mở. Các tác giả đều có chung một nhận định về hiện tượng di dộng
trong cộng đồng KH&CN là tất yếu, nó diễn ra theo nhiều hình thức khác nhau tùy
từng giai đoạn lịch sử, vấn đề cần được quan tâm lúc này là: chính sách nào để điều
không thu hút được nguồn nhân lực trình độ cao, từ đó đưa ra đề xuất ưa ra giải pháp
chính sách lương theo thỏa thuận để thu hút nguồn nhân lực trình độ cao, áp dụng cho
từng nhóm nhân lực khác nhau: chuyên gia, chuyên viên và các nhóm nhân sự khác.
Tên cơ sở nghiên cứu nhận diện về triết lý, mục tiêu, các nguyên tắc và điều
kiện thực hiện, các hình thức thu hút nhân lực KH&CN tác giả Tạ Hữu Thanh trong
luận văn thạc sĩ “Thực hiện chính sách thu hút nhân lực KH&CN theo mục tiêu dự án
(nghiên cứu trường hợp thành phố Hải Phòng)” đã phân tích thực trạng về số lượng,
chất lượng nhân lực KH&CN thành phố; thực trạng thu hút nhân lực KH&CN theo dự
án của thành phố Hải Phòng thông qua một số mô hình hút nhân lực KH&CN theo dự
án KH&CN trên địa bàn, đánh giá về vấn đề thu hút nhân lực KH&CN theo dự án của
thành phố thông qua những mặt được, những vấn đề tồn tại và nguyên nhân của những
vấn đề tồn tại. Luận văn đã đề xuất 04 nhóm giải pháp thu hút nhân lực KH&CN theo
mục tiêu dự án của thành phố Hải Phòng, bao gồm: Thúc đẩy hình thành các dự án
theo kiểu cạnh tranh để có thể thu hút nhân lực KH&CN; đổi mới chính sách tuyển
dụng, sử dụng nhân lực KH&CN; đào tạo nhân lực thông qua các dự án; đổi mới cơ
chế quản lý, tài chính KH&CN.
Trong bài viết “Chính sách phát triển nguồn nhân lực KH&CN ở Việt Nam hiện
nay” của Đỗ Phú Hải từ nhận diện thực trạng nhân lực KH&CN tại Việt Nam, tác giả
khẳng định hiện không có các chính sách cụ thể để thu hút nguồn nhân lực KH&CN ở
nước ngoài làm việc cho Việt Nam; Chính sách mới chỉ là dừng ở mức khuyến khích
về tinh thần, không có các điều kiện vật chất để thực hiện; Chưa có chính sách cụ thể
hữu hiệu cho việc đào tạo đội ngũ những người làm công tác nghiên cứu khoa học.
Thảo luận về chính sách thu hút nhân lực KH&CN, nhân lực R&D cho tổ chức,
địa phương hay quốc gia đã thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu vào các cách thức
giải quyết vấn đề dựa trên chính sách lương, chính sách ưu đãi, chính sách tuyển dụng,
chính sách hình thành dự án KH&CN song cho đến nay chưa thấy có nghiên cứu nào
10
tập trung vào giải pháp gắn với di động nhân lực KH&CN. Góp phần trả lời cho câu
- Thúc đẩy các hoạt động thuê chuyên gia bên ngoài VAST tham gia vào hoạt động
đào tạo.
- Tạo cơ hội trở về cộng tác trong các hoạt động KH&CN cho những nhân lực R&D
đã di động sang các tổ chức KH&CN khác ở trong và ngoài nước.
- Tiếp tục mở rộng các ưu đãi tuyển dụng theo nhiệm vụ KH&CN dựa trên mạng
thông tin nhân lực R&D công khai
- Hình thành các chương trình đào tạo chuẩn quốc tế có các hỗ trợ học bổng, kết nối
học viên vào các hoạt động nghiên cứu, hỗ trợ giảng dạy tại VAST.
- Xây dựng và phổ biến văn hóa khoa học nhằm tạo sức hút từ môi trường làm việc
chuyên nghiệp và tự chủ.
11
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ yếu là
nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu thực tế bằng quan sát, hỏi ý kiến của chuyên gia
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: được thực hiện dựa trên việc tìm hiểu các tài liệu về
chính sách thu hút nhân lực KH&CN, lý thuyết về di động xã hội, ảnh hưởng của di
động nhân lực đến cộng đồng khoa học … nhằm đánh giá, phân tích, tìm ra những
luận cứ lý thuyết cho nghiên cứu. Các báo cáo hàng năm (giai đoạn 2015 – 2018) về
hoạt động của Viện hàn lâm KH&CN Việt Nam, Quy hoạch tổng thể phát triển Viện
KH&CN Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 và các văn bản pháp
luật có liên quan được khảo sát, phân tích nhằm làm rõ hiện trạng nhân lực R&D cũng
như chính sách thu hút nhân lực R&D tại Viện hàn lâm KH&CN VN hiện nay. Đặc
biệt, Luận văn có sử dụng số liệu, báo cáo số liệu, báo cáo tổng hợp của đề tài nghiên
cứu khoa học cấp Nhà nước “Chính sách quản lý di động xã hội đối với nguồn nhân
lực KH&CN chất lượng cao của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế” (Mã số
KX01.01/16-20) do PGS.TS Đào Thanh Trường làm chủ nhiệm.
Phương pháp quan sát: trực tiếp quan sát những biểu hiện di động của nhân lực R&D
qua một số trường hợp tiêu biểu tại Viện hàn lâm KH&CN VN nhằm đưa ra những
ngược lại tụt hậu xã hội là việc cá nhân giữ vị thế thấp trên thang bậc hệ thống. Các
chuyển dịch không làm thay đổi vị thế của cá nhân trong hệ thống xã hội được gọi là
di động ngang. Theo Stephen Anldridge, di động xã hội có vai trò quan trọng bởi5:
- Công bằng trong cơ hội là khát vọng vương tới của các thể chế chính trị, nếu không
có di động, điều đó có nghĩa là hông có sự công bằng trong các cơ hội;
- Hiệu quả kinh tế phụ thuộc vào sự toàn dụng và toàn năng của moi người,
- Sự liên kết xã hội có thể đạt được ở những nơi con người tin tưởng rằng họ có thể cải
thiện được chất lượng cuộc sống và con cái của họ có thể sống tốt nhờ vào khả năng,
trình độ và nỗ lực của họ.
Như vậy, di động xã hội là sự vận động của những cá nhân, gia đình, nhóm xã
hội trong cơ cấu xã hội và hệ thống xã hội thể hiện qua sự vận động của con người từ
một vị trí xã hội này đến một vị trí xã hội khác trong hệ thống phân tầng xã hội.
1.1.2 Di động xã hội trong cộng đồng khoa học
Trên quan điểm về vị trí địa lý của tri thức và sự di chuyển khoa học Sami
Mohroum6 cho rằng di động là “sự di chuyển vật lý và địa lý qua biên giới và sống
trên đất nước khác trong khoảng thời gian không dưới một năm”, “di động khoa học là
một quá trình kết nối và mở rộng không gian xã hội của một người...được kích thích
bởi nhu cầu xã hội hóa chuyên nghiệp”.
Đề cập tới khái niệm “di chuyển - Mobility” và “di chuyển nhân lực KH&CN",
Nguyễn Thị Minh Nga và cộng sự (2009) cho rằng, “di chuyển” là sự chuyển đổi về
mặt không gian, hoặc bất kỳ một sự “thay đổi trạng thái” liên quan đến công việc (theo
4
Đào Thanh Trường (2016), Di động xã hội của nhân lực KH&CN trong bối cảnh hội nhập quốc tế: Lý luận và
thực tiễn, NXB Thế giới
5
Đào Thanh Trường (2016), Di động xã hội của nhân lực KH&CN trong bối cảnh hội nhập quốc tế: Lý luận và
thực tiễn, NXB Thế giới
6
mới, chúng cũng là một phần của phương thức khoa học giúp họ tiếp nhận các tri thức
khoa học được bối cảnh hóa. Tri thức khoa học được tồn tại dưới dạng tri thức mã hóa
và tri thức ngầm định, điều này khiến cho tri thức không tồn tại như một loại hàng hóa
thuần nhất để phân loại vào hàng hóa công hay hàng hóa thông thường trên thị trường.
Khi tri thức là ngầm định, nó thuộc vềi cá nhân nhà khoa học và được truyền bá thông
quá thực hành, chủ yếu là cùng học hỏi trong những kế hoạch định sẵn. Nếu không
quản lý tốt, những giá trị ẩn trong vốn nhân lực khoa học sẽ tách rời khỏi bối cảnh mà
tri thức mới xuất hiện và phát triền, kết quả là những bất lợi cho phát triển năng lực
khoa học. Theo đó, chính sách thu hút các nhà khoa học hồi hương hay chính sách
“chống chảy máu chất xám” có thể ngăn trở việc chuyển giao tri thức đa chiều, thay
vào đó chính sách nên được thiết kế để nguồn vốn nhân lực được sử dụng trong mạng
lưới nghiên cứu.
7
Đinh Thị Huyền Trang, Phạm Quan Trí (2017), Di chuyển nhân lực KH&CN và những hàm ý chính sách, Tạp
chí KH&CN Việt Nam
8
Woolley, Richard and Cañibano, Carolina, (2010), Scientific mobility and development: toward a
socioeconomic conceptual framework, No 201007, INGENIO (CSIC-UPV) Working Paper Series, INGENIO
(CSIC-UPV), />
14
Để rõ hơn quan điểm trên, chúng ta cần đi từ sự ưu tiên hàng đầu của cộng đồng
khoa học đó là việc tìm tòi và khám phá những yếu tố mới trong đời sống xã hội để tạo
ra các tri thức mã hóa và tri thức ngầm định có ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn.
Di động nhân lực khoa học diễn ra theo tác động của tri thức khi:
- Chính sách quốc gia, chính sách tổ chức và các thiết chế xã hội khác tạo thuận lợi và
thúc đẩy quá trình mã hóa tri thức cho các nhà nghiên cứu. Ví dụ các chính sách bảo
15
dùng
Số lượng người dùng
Thời gian
Hình 1.1. Biểu đồ quá trình biến đổi tri thức qua ba giai đoạn chuyển giao công nghệ
Phần A tương ứng với thời kỳ đầu công nghệ khi tri thức ngầm là thành phần chủ yếu
(công nghệ vừa ra khỏi bộ phận R&D hoặc công nghệ mới của tổ chức), những cá
nhân di động sẽ tiếp cận một số cá nhân, hay tổ chức nắm giữ được tri thức ngầm cần
thiết để nhận chuyển giao công nghệ.
Phần B tương ứng với giai đoạn công nghệ bắt đầu được mã hóa nhiều hơn, khả năng
truyền bá công nghệ vào xã hội được phổ biến hơn, yêu cầu đối với di động nhân lực
khoa học giảm dần.
Phần C tương ứng với giai đoạn công nghệ được mã hóa toàn bộ, tiến trình chuyển
giao công nghệ hoàn thiện, lúc này di động liên quan có xu hướng tương thích với khả
năng hấp thụ của hệ thống sản xuất hơn.
Như vậy khi tri thức mới gắn với những bối cảnh xã hội nhất định ra đời, quá
trình lan tỏa toàn cầu sẽ xuất hiện tương ứng với sự chuyển đổi từ tri thức ngầm sang
tri thức hiện, ở giai đoạn đầu nó có tính chất loại trừ một phần đối tượng hấp thụ bởi
tính chất ngầm ẩn mà cách giải quyết phù hợp được lựa chọn là di động để nâng cao
khả năng hấp thụ và phát triển tri thức.
Một tiếp cận khác về nguyên nhân dẫn đến di động trong cộng đồng khoa học là
sự mất cân bằng về môi trường hoạt động của lao động khoa học, di động xảy ra để
thiết lập lại sự cân bằng giữa các môi trường này. Thứ nhất là sự khác biệt về mức
lương và số lượng công việc khoa học trên thị trường lao động khiến nhân lực có xu
hướng di động từ khu vực có mức lương thấp (khu vực A) đến khu vực có mức lương
cao (khu vực B) với giả định về chi phí cho di động ở mức chấp nhận được, và lượng
quyết định di động bởi các điều kiện về cơ sở vật chất, phương tiện hay tài chính phục
vụ nghiên cứu, điều kiện về tài nguyên thiên nhiên, khí hậu hay các điều kiện an sinh
xã hội thuận lợi như dịch vụ văn hóa – nghệ thuật, bệnh viện, du lịch... Nó còn ảnh
hưởng đến các quyết định di động của nhân lực KH&CN ở góc độ mức độ tự chủ của
tổ chức khoa học, hay đúng hơn là sự tương tác giữa tự do học thuật, tự do tư tưởng
với hệ thống quản lý các cấp. Quá trình khám phá, sáng tạo tri thức của nhân lực
KH&CN đôi khi sẽ dẫn đến những kết quả khác biệt với các thiết chế xã hội vốn đang
giúp tổ chức KH&CN hay quốc gia vận hành và kiểm soát theo một quỹ đạo quen
thuộc. Xung đột xuất hiện khi những tư tưởng khoa học mang tính khác biệt xuất hiện
có thể thúc đẩy các quyết định di cư. Ngược lại, trong một môi trường có tính tự chủ
về nhân sự, về khoa học, về tài chính... các nhà nghiên cứu có thể thích ứng thay vì lựa
chọn di động.
1.1.4 Vai trò của di động xã hội trong cộng đồng khoa học
Di động góp phần thay đổi cấu trúc của hệ thống KH&CN
Các lĩnh vực nghiên cứu không ngừng nở rộ, sự xuất hiện của các phương
hướng nghiên cứu mới thúc đẩy sự hình thành của các trường phái khoa học, từ đó đưa
đến những cơ hội cho các bộ môn khoa học mới xuất hiện. Quá trình khám phá, sáng
tạo không ngừng nghỉ này của các nhà khoa học không chỉ là sự sáng tạo thuần túy của
tư duy mà còn là quá trình di động của các nhà nghiên cứu ra khỏi vị trí khoa học ở
một bộ môn ban đầu để kế thừa và phát triển hệ thống khái niệm và phương pháp
nghiên cứu cho các bộ môn khoa học mới hình thành. Di động chính là cách thức các
17
nhà khoa học mở rộng biên giới khoa học, ví dụ để có được bộ môn toán tin thì ban
đầu những nhà toán học đã góp phần đưa ra những hướng nghiên cứu toán ứng dụng
gắn với thành tựu kỹ thuật về máy tính để khởi động cho một giai đoạn di động từ toán
học sang các lĩnh vực liên quan.
Di động đưa đến sự tương tự trong đa dạng giữa các cá nhân, tổ chức khoa học
nhằm đảm bảo sự hòa hợp giữa các chuẩn mực khoa học và tiêu chí đánh giá khoa
chuyển công việc liên ngành đề cập đến con đường sự nghiệp của họ. Nhóm nghiên
cứu đã tìm ra mối liên hệ: tính di động của công việc trong ngành và tính di động của
công việc xuyên quốc gia ảnh hưởng tích cực đến sản lượng nghiên cứu và tính đa
9
Euiseok Kim, 2005, Impacts of discipline mobility on scientific productivity, Georgia Institute of Technology
18
ngành của nó, trong khi đó tính di động của công việc giữa các ngành, di và di động về
trình độ, di động giáo dục xuyên quốc gia chỉ ảnh hưởng nhẹ hoặc không ảnh hưởng.10
Nghiên cứu của Avveduto (2001) đã chỉ ra lợi ích của di động đến sự phát triển
của sinh viên đại học và các giảng viên. Theo OECD (Tổ chức hợp tác và phát triển
kinh tế) quốc tế hóa đang gia tăng ở bậc đại học, do đó nó đòi hỏi năng lực và trình độ
của sinh viên và giảng viên phải được hoàn thiện qua di động xã hội.
Việc lưu động các nhà nghiên cứu và sinh viên được liên kết chặt chẽ với hợp tác
quốc tế ngày càng tăng trong giáo dục đại học và là một khía cạnh quan trọng khác của
quốc tế hóa nghiên cứu công. Việc thu hút nhân tài khoa học từ nước ngoài có thể thúc
đẩy các nỗ lực nghiên cứu trong nước, khi các nhà nghiên cứu ra nước ngoài để phát
triển tri thức, triển vọng mới và các cơ hội gặp gỡ với giới chuyên môn
Di động thúc đẩy hình thành mạng lưới tương tác giữa các cá nhân, tổ chức
khoa học
Tầm nhìn về một thế giới toàn cầu hóa, trong đó các nhà khoa học lưu hành trên
nhiều quốc gia khác nhau thực hiện công việc của họ và cả quốc gia gốc và quốc gia
đích của họ được hưởng lợi từ sự hợp tác của họ trong một mạng lưới kết nối chuyên
gia. Có nhiều bằng chứng cho thấy các chuyên gia di cư có thể đóng góp cho đất nước
của họ mà không nhất thiết phải quay trở về bởi khả năng huy động vốn xã hội, mạng
lưới liên kết trong giới nghiên cứu thông qua các hiệp hội chính thức hoặc không
của các nhà nghiên cứu trong Châu Âu qua hai kênh là “Cổng thông tin di động” và
“Mạng lưới trung tâm di động Châu Âu”. Trong đó, “Cổng thông tin di động” cung
cấp các dịch vụ như thông tin quảng cáo tìm người của các tổ chức, thông tin tìm việc
của các cá nhân, “Mạng lưới trung tâm di động Châu Âu” cung cấp cho nhà nghiên
cứu và gia đình của họ những thông tin đầy đủ và cập nhật cùng những sự hỗ trợ thích
hợp về tất cả các vấn đề liên quan đến sự nghiệp và đời sống hàng ngày. Bộ Nghiên
cứu khoa học ở New Zealand đưa ra chiến lược đảm bảo quốc gia này tiêp tục thu hút,
duy trì và phát triển những người có trình độ, các nhóm nghiên cứu, cán bộ KH&CN.
Ở Thụy Điển, “Quỹ cho nghiên cứu chiến lược” đã dành một khoản kinh phí 15 triệu
SEK để tài trợ cho chương trình lưu chuyển cán bộ KH&CN trong 2 năm, cụ thể là tài
trợ cho các nhà khoa học từ viện nghiên cứu/trường đại học muốn làm việc trong khu
vực công nghiệp hoặc ngược lại, thời gian các dự án được chia là 4-12 tháng có thể
chia thành các giai đoạn khác nhau. Chương trình hướng đến nhân lực KH&CN muốn
đóng góp cho khu vực khác rồi sau đó quay trở về với tổ chức nguồn ban đầu12.
1.1.5. Phân loại di động xã hội trong cộng đồng khoa học
Các nhà nghiên cứu xã hội học tùy thuộc vào mục đích sử dụng và biểu hiện của di
động xã hội giữa các đơn vị trong cấu trúc và hệ thống xã hội để phân chia theo các
quan điểm sau:
Tony Bilton và cộng sự phân chia di động thành:
- Di động liên thế hệ: thể hiện qua việc con cái có địa vị xã hội khác biệt với địa vị
của cha, mẹ (có thể cao hơn hoặc thấp hơn).
- Di động nội thế hệ: thể hiện sự thay đổi địa vị xã hội của một cá nhân trong suốt
cuộc đời.
Theo đó, di động trong cộng đồng khoa học cũng có thể theo 2 hướng:
- Di động liên thế hệ thể hiện sự khác biệt/sự dịch chuyển giữa địa vị khoa học của
con cái (là nhà khoa học, hoặc không phải là nhà khoa học) đến tuổi trường thành so
với địa vị cha, mẹ (không là nhà khoa học, hoặc là nhà khoa học).
- Di động nội thế hệ thể hiện sự thay đổi địa vị khoa học của cá nhân ở các giai
đoạn khác nhau trong hệ thống phân tầng KH&CN, nó cho thấy khả năng vận động
của một cá nhân giữa các thang bậc khoa học.