LÝ LUẬN VỀ CHI PHÍ KINH DOANH VÀ BIỆN PHÁP HẠ THẤP
CHI PHÍ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. TỔNG QUAN VỀ CHI PHÍ KINH DOANH
1.1.1. Khái niệm và vai trò chi phí kinh doanh
* Khái niệm
Chi phí cố thể hiểu là mọi sự tiêu phi kinh doanh bằng tiền cho một xí nghiệp, cả trên
phương diện lý luận và thực tiễn đều khẳng định phạm trù bao trùm, khái quát nhất là
phạm trù chi phí. Dần dần chi phí được phát triển thành phạm trù cụ thể là chi tiêu, chi phí
tài chính và chi phí kinh doanh.
- Chi tiêu: Kosiol, Schult, Schwetlr và Weber cho rằng chi tiêu là lượng
tiền doanh nghiệp đã trả cho một người, một nhóm người hoặc tổ chức nào đó
với nghĩa đó. Chi tiêu là “ sự giảm tiền thanh toán, giảm tiền séc ở ngân hàng,
bưu điện, tăng nợ ở các hình thức nợ, vay ngắn hạn, thay đổi nợ, giảm nợ tiền
khách hàng” chi tiêu gắn với quá trình thanh toán thuần tuý tài chính nên
được sử dụng trong kế toán tài chính.
- Chi phí tài chính : Có thể hiểu “ chi phí tài chính là sự giảm tài sản, là hao
phí của thời kỳ tính toán, được tập hợp ở kế toán tài chính ” chi phí tài chính là
một phạm trù gắn liền với chi phí và chỉ xuất hiện ở bộ phận kế toán tài chính.
- Chi phí kinh doanh: là sự hao phí vạt phẩm hoặc dịch vụ liên quan đến
việc tạo ra kết quả và đánh giá được. Theo Wochi thì “ chi phí kinh doanh là sự
hao phí xét trên phương diện giá trị các vật phẩm, dịch vụ sản xuất và tiêu thụ
sản phẩm cũng như để duy trì năng lực sản xuất cần thiết cho việc sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm đó”. Dù quan niệm như thế nào thì bao gìơ chi phí kinh
doanh cũng mang ba đặc trưng bắt buộc:
+ Một là sự hao phí vật phẩm và dịch vụ
+ Hai là sự hao phí vật phẩm gắn liền với kết quả
+ Ba là những vật phẩm dịch vụ phải được đánh giá.
Như vậy chi phí kinh doanh là một phạm trù gắn liền với chi phí và chỉ
xuất hiện ở tính chi phí kinh doanh khác chi phí tài chính về cả nội dung lẫn độ
lớn.
* Vai trò của chi phí kinh doanh
doanh một loại sản phẩm nhất định.
Chi phí trực tiếp bao gồm chi phí cho nhân viên bán hàng, đóng gói, vận
chuyển, giới thiệu, bảo hành sản phẩm, các chi phí vật liệu bao bì, công cụ,
dụng cụ, đồ dùng phục vụ, quy trình tiêu thụ hàng hoá, chi phí khấu hao tài sản
cố định ở bộ phận bảo quản hàng hoá như nhà kho, cửa hàng, bến bãi.
- Chi phí gián tiếp: Là những chi phí quản lý chung của doanh nghiệp gồm
chi phí quản lý kinh doanh, chi phí quản lý hành chính, chi phí khác có liên
quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chi phí quản lý doanh
nghiệp là loại chi phí gián tiếp nói chung không phụ thuộc vào quá trình tiêu
thụ sản phẩm.
* Phân loại theo chức năng hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp
Theo cách phân loại này thì chi phí kinh doanh của doanh nghiệp thương
mại được phân loại như sau:
- Chi phí mua hàng: Là những loại chi phí phát sinh liên quan đến số
lượng hàng hoá mua về nhập kho để bán của doanh nghiệp trong kỳ. Thuộc
nhóm này bao gồm:
+ Chi phí vận chuyển bốc dỡ bảo quản
+ Thuế, lệ phí và hoa hồng ở khâu mua hàng hoá.
+ Các chi phí về bảo hiểm hàng hoá, tiền thuê kho bãi phát sinh ở khâu
mua hàng hoá.
- Chi phí bán hàng: Là toàn bộ các chi phí gắn liền với quá trình phục vụ
bán hàng và quá trình bán hàng của doanh nghiệp trong kỳ. Thuộc nhóm này
bao gồm:
+ Chi phí vật liệu bao bì là các chi phí về vật liệu bao bì xuất dùng phục vụ
cho quá trình bảo quản và tiêu thụ hàng hoá, bốc dỡ và vận chuyển hàng hoá,
vật liệu sửa chữa tài sản cố định.
+ Chi phí khấu hao ở bộ phận bảo quản hàng hoá như: Kho, cửa hàng,
phương tiện vận chuyển, bốc dỡ kiểm nghiệm hàng hoá.
+ Chi phí mua ngoài: Là các chi phí như thuê ngoài sửa chữa tài sản cố
của mức lưu chuyển hàng hoá. Sự phụ thuộc của chi phí kinh doanh khả biến
vào tổng mức lưu chuyển hàng hoá và còn tuỳ thuộc vào tính chất của từng
khoản mục của chi phí kinh doanh khả biến. Chi phí kinh doanh khả biến bao
gồm:
+ Chi phí vận chuyển, bốc dỡ.
+ Chi phí về bao bì vật liệu đóng gói.
+ Lương cán bộ trực tiếp.
+ Chi phí nguyên, nhiên, vật liệu.
1.1.3 Phạm vi áp dụng và nội dung chi phí kinh doanh trong doanh nghiệp
* Phạm vi của chi phí kinh doanh trong doanh nghiệp
Về mặt lý luận chung, chi phí kinh doanh của doanh nghiệp sẽ được bù
đắp từ doanh thu hoặc thu nhập của doanh nghiệp trong kỳ.
Vì vậy về nguyên tắc, tất cả các chi phí phát sinh trong kỳ được bù đắp từ
nguồn riêng hay nói cách khác là không được bù đắp từ doanh thu hoặc thu
nhập của doanh nghiệp thì đều không phải là chi phí kinh doanh. Hơn thế nữa
chi phí kinh doanh chỉ phục vụ kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ nên tất
cả các chi phí phát sinh trong kỳ không trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ kinh
doanh của doanh nghiệp trong kỳ đó đều không phải là chi phí kinh doanh. Chỉ
được hạch toán vào chi phí kinh doanh là những chi phí trực tiếp liên quan đến
quá trình lưu chuyển hàng hoá.
Theo chế độ mới về quản lý tài chính doanh nghiệp của Bộ tài chính đã
quy định những khoản mục sau không được tính vào chi phí kinh doanh:
- Các khoản đã được tính vào chi phí hoạt động tài chính và chi phí hoạt
động bất thường, các khoản lỗ do liên doanh liên kết, lỗ từ các khoản đầu tư
khác.
- Các khoản thua lỗ, thiệt hại do chủ quan của đơn vị gây ra hoặc khách
quan đưa lại đã được Chính phủ trợ cấp hoặc được bên thiệt hại, các công ty
bảo hiểm bồi thường.
- Chi phí đi công tác nước ngoài vượt định mức do nhà nước quy định.
- Các khoản thuộc nguồn kinh phí khác đài thọ như khoản chi sự nghiệp
~ Phần doanh thu từ 10 đến 15 tỷ đồng được chi thêm không quá 1% trên
số doanh thu tăng thêm.
~ Phần doanh thu từ 50 đến 100 tỷ đồng được chi thêm không quá 0.1%
trên số doanh thu tăng thêm.
* Nội dung của chi phí kinh doanh
- Chi phí mua hàng:
Chi phí mua hàng bao gồm: Chi phí vận chuyển bốc dỡ bảo quản, lương
cán bộ công nhân viên chuyên trách ở khâu mua hàng hoá, thuế, lệ phí, hoa
hồng ở khâu mua và các chi phí về bảo hiểm hàng hoá, tiền thuê kho bãi phát
sinh ở khâu mua hàng.
- Chi phí bán hàng
Chi phí bán hàng là các khoản chi phí phát sinh trong quá trình bán hàng
và tiêu thụ sản phẩm. Chi phí bán hàng gồm có:
+ Chi phí nhân viên: Là các khoản chi trả cho nhân viên bán hàng, nhân
viên đóng gói vận chuyển, bảo quản hàng hoá. Bao gồm tiền lương, tiền công
và các khoản phụ cấp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn.
+ Chi phí vật liệu bao bì: Là các khoản chi phí vật liệu bao bì phục vụ cho
việc giữ gìn, tiêu thụ sản phẩm hàng hoá dịch vụ như chi phí vật liệu đóng gói
sản phẩm hàng hoá, chi phí vật liệu nhiên liệu dùng cho bảo quản bốc vác, vận
chuyển sản phẩm hàng hoá trong quá trình tiêu thụ, vật liệu dùng cho sửa
chữa bảo quản tài sản cố định.
+ Chi phí dụng cụ đồ dùng: Là các khoản chi về công cụ đồ dùng phục vụ
trong quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá như dụng cụ đo lường, phương
tiện tính toán, phương tiện làm việc.
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định: Là khoản chi khấu hao tài sản cố định
ở bộ phận bảo quản bán hàng như kho bãi, cửa hàng, phương tiện bốc dỡ vận
chuyển, phương tiện tính toán, đo lường kiểm nghiệm chất lượng.
+ Chi phi dịch vụ mua ngoài: Là các khoản chi mua ngoài phục vụ cho
khách hàng như các chi phí thuê ngoài sửa chữa tài sản cố định, tiền thuê kho,
tiền bốc vác vận chuyển hàng hoá tiêu thụ, hoa hồng cho các đại lý bán hàng
cơ bản, phụ cấp lưu động,phụ cấp không ổn định sản xuất, lương phụ cho nghỉ
lễ tết phép và một số chi phí lương khác) của công nhân trực tiếp làm nhiệm vụ
xây lắp kể cả công nhân chuyên nghiệp hoặc không chuyên nghiệp.Chi phí này
không bao gồm lương của công nhân điều khiển máy, công nhân sản xuất ở các
phân xưởng phụ cũng như của cán bộ công nhân viên gián tiếp. Các khoản