1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, làn sóng dư luận trong nước liên tục lên
tiếng về việc Trung Quốc tranh thủ các diễn đàn khoa học trong nước và quốc
tế, các công trình nghiên cứu ở tất cả các lĩnh vực khoa học xã hội cũng như
khoa học tự nhiên để lồng ghép tuyên bố trắng trợn "đường lưỡi bò" về chủ
quyền trên Biển Đông. Những bản đồ có "đường lưỡi bò" này xuất hiện ở hầu hết
các ấn phẩm khoa học, kể cả sách ngôn ngữ, sách dân số... Người Trung Quốc
ngang nhiên tuyên bố cho cả thế giới biết rằng quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa của Việt Nam thuộc về Trung Quốc. Còn ở Việt Nam, chúng ta nói gì?
Một mặt, chúng ta lên tiếng phản đối sự ngang ngược của Trung Quốc
trước vấn đề biển Đông. Nhiều nhà khoa học nỗ lực chứng minh Hoàng Sa và
Trường Sa của Việt Nam từ nhiều căn cứ pháp lý cũng như bằng chứng lịch
sử có thật, góp phần không nhỏ vào cuộc chiến bảo vệ biển đảo quê hương,
chống lại những luận điểm xuyên tạc của Trung Quốc nhằm chiếm hữu hai
quần đảo này của nước ta.
Tuy vậy, trái với những nỗ lực nêu trên, hàng triệu bản đồ của người
Việt xuất hiện trong các ấn phẩm trong nước, trên các trang mạng internet
cũng như những bản đồ phục vụ du khách nước ngoài đến Việt Nam lại
nghiễm nhiên "từ chối" chủ quyền của chúng ta đối với Hoàng Sa và Trường
Sa. Nhiều ấn phẩm còn thiếu sót đến mức in bản đồ Trung Quốc để minh họa
cho nội dung sách lại xuất hiện "đường lưỡi bò" ngạo ngược.
Mặt khác, nhiều bản đồ lậu có sai phạm về nội dung được xuất bản, in
ấn và phát hành rộng rãi mà không có sự kiểm tra, xử lý của bất kỳ cơ quan
quản lý nhà nước nào, không chỉ gây thiệt hại về quyền lợi chính trị của đất
nước mà còn gây ảnh hưởng không nhỏ tới các nhà xuất bản, doanh nghiệp,
cơ quan xuất bản bản đồ hiện nay. Việc in lậu và phát hành bản đồ không rõ
pháp quyền, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1996; Khuất Duy Hải:
3
"Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức quản lý ở các nhà xuất bản nước ta hiện
nay", Chuyên ngành Kinh tế, quản lý và kế hoạch hóa kinh tế quốc dân, Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1994 …; hay luận văn thạc sĩ của các tác
giả: Trần Thu Hà: "Tăng cường quản lý Nhà nước bằng pháp luật về xuất bản ở
Việt Nam hiện nay", Chuyên ngành lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật, Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2005; Phạm Quốc Chính: "Những giải
pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về xuất bản ở nước ta hiện nay", Chuyên
ngành Quản lý hành chính công, Học viện Hành chính quốc gia, 2006; Trương
Thị Văn: "Tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản nước ta
hiện nay", Chuyên ngành Xuất bản, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2007,…
Các công trình nghiên cứu này đã xây dựng một hệ thống lý luận chặt
chẽ và đầy đủ về quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản nói chung cũng
như đánh giá được thực trạng công tác quản lý nhà nước về hoạt động xuất
bản dưới nhiều góc độ khác nhau: hệ thống văn bản pháp luật, tổ chức bộ máy
quản lý nhà nước, chế độ kiểm tra, giám sát thực hiện, chế độ xử phạt... Hơn
nữa, nhiều công trình đã đề cập đến quản lý nhà nước đối với từng loại hình
xuất bản phẩm cụ thể: sách giáo khoa, từ điển, sách thiếu nhi, sách lý luận
chính trị... tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập tới hoạt động quản lý nhà
nước về xuất bản phẩm bản đồ.
Về lĩnh vực xuất bản bản đồ, dưới góc độ là một chuyên ngành độc
lập cũng đã có một số nghiên cứu, đánh giá tổng quan, thể hiện qua một số
Khóa luận tốt nghiệp bậc Đại học chuyên ngành Biên tập - Xuất bản tại Học
viện Báo chí và Tuyên truyền như: Nguyễn Thế Phương: "Xuất bản bản đồ du
lịch - Thực trạng và Giải pháp", Chuyên ngành Biên tập - Xuất bản, Phân
viện Báo chí và Tuyên truyền, 1997; Biện Thị Lan "Xuất bản bản đồ ở Việt
VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT BẢN BẢN ĐỒ
1.1. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT BẢN BẢN ĐỒ
1.1.1. Khái niệm về bản đồ và hoạt động xuất bản bản đồ
1.1.1.1. Khái niệm về bản đồ
a) Định nghĩa bản đồ
Bản đồ là sản phẩm của nền văn minh cổ đại, từ nhiều năm qua đã có
nhiều cách định nghĩa khác nhau về bản đồ. Đứng trên các bình diện, bản đồ
được diễn đạt với những nội hàm và ngoại diên khác nhau. Tuy nhiên, bản đồ
theo cách hiểu khái quát và phổ thông cũng có những điểm chung cơ bản.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý (chủ biên), có
định nghĩa: "Bản đồ dt.hình ảnh thu nhỏ và khái quát hóa của một phần mặt
đất lên mặt giấy phẳng theo những quy luật toán học nhất định" [52, tr. 65].
Bản đồ trong định nghĩa này đã thể hiện được bản chất của bản đồ là "hình
ảnh thu nhỏ và khái quát hóa một phần mặt đất... theo những quy luật toán
học nhất định", tuy nhiên lại bị giới hạn về hình thức thể hiện bản đồ "lên mặt
giấy". Hiện nay, sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật đã mở đường cho công
nghệ bản đồ phát triển vượt bậc, nếu giới hạn bản đồ "lên mặt giấy" sẽ chỉ
phản ánh được một phần rất nhỏ của bản đồ. Hơn nữa, định nghĩa trên chưa
phản ánh được khả năng giải thích toàn bộ tính chất của các đối tượng có trên
bản đồ.
Còn theo nhà khoa học bản đồ hàng đầu nước Nga, A.V Gheđưmin
cho rằng: "Bản đồ địa lí là những biểu hiện thu nhỏ quy ước của bề mặt trái
đất lên mặt phẳng, xây dựng trên cơ sở toán học và phản ảnh sự phân bố,
7
trạng thái và mối liên hệ tương quan của các hiện tượng tự nhiên và xã hội
đồ. Nơi đây có những bản đồ đạc điền đầu
tiên khi
người Ai Cập cổ đại thực
9
hiện việc theo dõi và chia ruộng đất tại vùng thung lũng sông Nin - nơi bị
ngập lụt hàng năm. Khoảng 3.000 năm Tr.CN, người Ai Cập đã có thành tựu
rất lớn "lập được bản đồ bầu trời, nhận dạng các định tinh chính và khá thành
công trong việc định vị trí chính xác các tinh tú" [28]. Người ta cũng tìm thấy
bản đồ các mỏ khai thác vàng ở Ai Cập từ 1.400 năm trước công nguyên, trên
đó thể hiện rõ những núi quặng, những hố khai thác, đường giao thông…
Bản đồ trong thời kỳ văn minh Hy Lạp - La Mã cũng có nhiều thành
tựu phát triển đáng kể. Thời kỳ đế quốc La Mã phát triển mạng lưới đường sá
nhằm cai quản đất đai và thu tô, do đó bản đồ đường sá được ra đời, trong đó
có tấm bản đồ đường sá dài 6,32m, rộng 0,33m. Bản đồ chưa có lưới chiếu,
không có kinh, vĩ tuyến nhưng rất có giá trị về quân sự và hành chính, được
xem là tấm bản đồ "vĩ đại" nhất của thời Cổ đại.
Ở Trung Quốc, những biểu hiện bản đồ cổ nhất được tìm thấy trên các
vật liệu khác như một bình bằng bạc chạm các sông chảy từ dãy Capcadơ ra
biển đã đào được trong ngôi mộ cổ ở Maikôp (Miền Cuban) và chín đỉnh cổ
của Trung Quốc từ thời Hạ Vũ (từ 2205 Tr.CN - 2198 Tr.CN) có khắc bản đồ.
Đến thế kỷ thứ III, nhà bác học Trung Quốc Bùi Tú (234 - 271) đã thành lập
bản đồ lãnh thổ Trung Quốc và đề ra 6 nguyên tắc đo vẽ bản đồ là Phân xuất
(Tỷ lệ); Chuẩn vọng (phương hướng); Đạo lí (khoảng cách); Cao hạ (cao
thấp); Phương tà (góc độ) và Vu trực (cong thẳng). Những nguyên tắc này có
ý nghĩa thực tiễn rất lớn, đặc biệt đối với việc đo vẽ các bình đồ. Cùng thời
gian này, một người Trung Quốc tên là Thái Luân đã phát minh ra giấy (năm
105), đã góp phần đáng kể vào sự phát triển của khoa học bản đồ.
Độ. Ở trung tâm của bản đồ Peutigeriana
là thành Rome. Thành Rome (được biểu
Nguồn:
diễn
bởi http://en.wikipedia.org
hình vương miện đặt trên ngai vàng) có vô số con đường dẫn đến và
tỏa ra từ nó. Một số con đường, như Via Appia và Via Aurelia, vẫn tồn tại cho
đến tận ngày nay. Bản đồ Peutingeriana có niên đại khoảng cuối thế kỷ 12 tới
đầu thế kỷ 13, và được làm tại miền Nam nước Đức hoặc ở nước Áo.
11
Thế kỷ XV, XVI, các cuộc thám hiểm lớn của các nhà địa lí như
Cristoforo Colombo (1492 - 1504 - tìm ra châu Mỹ), Vasco da Gama (1497 1499 - phát hiện thêm các chi tiết vùng bờ biển Nam Phi trên đường sang Ấn
Độ); Fernando de Magallanes (1519 - 1522 - thám hiểm vòng quanh thế giới)
đã cho nhiều hiểu biết để vẽ bản đồ các châu lục và thế giới.
Cùng với những phát kiến mới, sự tiến bộ của các ngành khoa học liên
quan như Thiên văn học, Toán học, Vật lí học, Địa lí học và các ngành kĩ
thuật, đặc biệt ngành in phát triển vượt bậc được đánh dấu bởi phát minh của
Johannes Gutenberg (1456) đã tạo ra sự phát triển mạnh mẽ của ngành bản
đồ. Cũng trong thế kỷ XV, Italia đã xây dựng bản đồ châu Phi bằng những kí
hiệu quy ước thay cho những dấu hiệu hình tượng phức tạp trước đây trên các
bản đồ, đã tạo nên sự biến đổi về chất trong sự biểu hiện bản đồ.
Người được ghi nhận có công lớn nhất đối với khoa học bản đồ thời
kì này phải kể đến nhà bản đồ học người Hà Lan G. Mercator (thế kỷ XVI).
Những công trình lớn của G. Mercator là bản đồ châu Âu, chữa những chỗ
sai trên bản đồ của Ptôlêmê (Địa Trung Hải), cải tiến hệ thống chữ viết,
đưa kiểu chữ in nghiêng vào bản đồ thay thế kiểu chữ Gô tích. Hai công
trình nổi tiếng nhất của G.Mercator là đưa toán học vào Bản đồ học,
toán học của bản đồ.
Từ cuối thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX khi các ngành khoa học
như Toán học, Thiên văn học, Vật lí học phát triển đến trình độ cao đã tạo cho
khoa học Bản đồ phát triển mạnh mẽ. Đặc biệt với sự phát triển của các ngành
khoa học nghiên cứu Trái Đất như Địa chất học, Khí hậu học, Địa mạo học...
đã đặt ra cho khoa học Bản đồ những nhiệm vụ mới, nội dung biểu hiện bản
đồ không chỉ giới hạn những đối tượng phân bố trên mặt đất mà còn những
đối tượng nằm sâu trong lòng đất và cả các hành tinh khác.
Ngày nay, nhờ những thành tựu của khoa học kĩ thuật mới (chụp ảnh
13
máy bay, ảnh vệ tinh, các máy chụp nhiều màu, máy tính, công nghệ tin học,
v.v…) công việc đo vẽ, biên tập, vẽ và sản xuất bản đồ, atlat được thuận lợi,
nhanh chóng. Do đó các sản phẩm bản đồ ngày càng phong phú và đa dạng cả
về nội dung và hình thức.
Nhìn chung, lịch sử hình thành và phát triển của bản đồ thế giới là kết
quả trực tiếp từ sự phát triển của ngành bản đồ học cũng như các ngành khoa
học có liên quan, đặc biệt là toán học, thiên văn học, vật lý học…
Ở Việt Nam, đất nước trải qua nhiều năm trong chiến tranh và bão lụt,
thành quả nghiên cứu khoa học không nhiều, tuy nhiên chúng ta cũng có
những thành tựu nhất định trong ngành bản đồ học.
Việc đo vẽ bản đồ đã được ông cha ta tiến hành từ những năm đầu
công nguyên nhằm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Năm 43 sau công
nguyên, đã đo đạc và dựng các mốc đồng dọc biên giới và năm 724 đo vẽ bản
đồ để đắp cao hệ thống đê phòng thủ Đại La.
Thời Hồng Đức, tập bản đồ có giá trị khoa học và được coi là xuất
hiện sớm nhất là "Tập bản đồ Hồng Đức", thành lập ở triều vua Lê Thánh
Tông (1460- 1497).
không thông qua hoạt động sản xuất. Vì vậy, xuất bản còn là hoạt động sản
xuất, hoạt động kinh tế.
Như vậy, hoạt động xuất bản là một quá trình lao động sản xuất
trong xã hội, vừa thuộc lĩnh vực tư tưởng văn hóa vừa thuộc lĩnh vực kinh
tế, gồm ba lĩnh vực: tổ chức bản thảo và biên tập, in, phát hành; 03 lĩnh vực
này có những đặc thù hoạt động riêng, độc lập nhau, nhưng lại gắn kết hữu cơ
với nhau.
- Xuất bản, gồm các công việc: tổ chức bản thảo, biên tập, là đầu vào
của xuất bản, là quá trình tổ chức việc sáng tạo của tác giả để có bản thảo tác
phẩm, xử lý và hoàn chỉnh bản thảo, bản mẫu.
15
- In: sau khi hoàn chỉnh bản thảo, bản mẫu được chuyển đến cơ sở in,
nhân thành nhiều bản (xuất bản phẩm) để phát hành. Với thiết bị, công nghệ
in hiện nay, công đoạn này được thực hiện rất nhanh chóng, thỏa mãn nhu cầu
xuất bản.
- Phát hành: là việc đưa xuất bản phẩm đến với bạn đọc, là đầu ra của
xuất bản, quyết định sự tồn tại, phát triển của xuất bản, là thước đo hiệu quả
của hoạt động xuất bản.
Xuất bản bản đồ là một bộ phận của hoạt động xuất bản cũng mang
những nét tương đồng cơ bản. Xuất bản bản đồ được thực hiện dựa trên cơ sở
tuyển chọn những đề tài đáp ứng nhu cầu của người sử dụng, thành lập, biên
tập hoàn thiện, in ấn thành nhiều bản và phát hành rộng rãi ra thị trường. Vì
thế có thể định nghĩa về hoạt động xuất bản bản đồ như sau:
Hoạt động xuất bản bản đồ quá trình tổ chức các nguồn lực xã hội
để thành lập, biên tập, hoàn thiện những tác phẩm bản đồ hoàn chỉnh với
mục đích để nhân bản và phổ biến đến nhiều người, đáp ứng nhu cầu sử dụng
bản đồ của xã hội.
thể về tổ quốc cách nay hơn 500 năm. Tập này đã bị thất truyền. Tuy nhiên,
theo các tài liệu dẫn, các bản đồ này đã thể hiện hình dạng nước ta trong đó đã
công bố chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Vào thời kỳ cận hiện đại các nước châu Âu mở rộng sự truyền giáo và
xâm chiếm thuộc địa, nhiều nhà truyền giáo và nhà quân sự đã đến vẽ bản đồ
nước ta. Năm 1650 nhà truyền giáo Alexandre de Rhodes đã lập bản đồ "Vương
quốc An Nam" và cùng thời gian này (1666) nhà hàng hải Pieter Goos lập bản
đồ bờ biển vùng bờ biển nước ta. Cuối thế kỷ XVII để chuẩn bị cho sự xâm
chiếm thuộc địa, nhiều sĩ quan Pháp đã đến quan sát và lập bản đồ bờ biển
nước ta như bản đồ Hàng hải Nam Kỳ (1818), bản đồ Địa lí An Nam (1838)...
Vào thời Nguyễn, bản đồ "Việt Nam thống nhất toàn đồ" xuất hiện
(năm 1834), thể hiện lãnh thổ Việt Nam tương đối đầy đủ về đất liền và vùng
biển như ngày nay. Đây là bằng chứng pháp lý quan trọng chứng minh 2 quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam.
17
Khi Pháp đặt chân đến
Đại Nam thống nhất toàn đồ (1834)
Việt Nam, bắt đầu cuộc viễn chinh
bằng việc vẽ bản đồ Việt Nam theo
kỹ thuật khoa học hơn cho đúng
kinh tuyến và vĩ tuyến. Về phần
bờ biển - biển Đông - hải đảo,
Pháp trao nhiệm vụ cho hải quân
Pháp (Service hydrographique de
la Marine) đo đạc và thực hiện các
1.1.1.3. Phân loại bản đồ
Dựa trên các tiêu chí khác nhau có thể phân loại bản đồ theo một số
cách cơ bản như sau:
a) Hình thức biểu hiện: in, số, khác
Về hình thức biểu hiện bản đồ ngày càng trở nên phong phú đa dạng.
Từ thuở sơ khai, người cổ đại vẽ bản đồ lên đất sét, da, giấy papyrus,… Mỗi
bản đồ thường chỉ có 1 bản chính hoặc kèm một hai bản sao, đối tượng sử
dụng bản đồ hạn chế. Ngày nay, bản đồ lại được in ấn hàng loạt, phát hành
rộng rãi. Hình thức bản đồ phổ biến nhất là bản đồ in trên giấy. Với công nghệ
in ngày càng phát triển, hình ảnh rõ nét, màu sắc phong phú. Người sử dụng
bản đồ ngày càng có nhiều lựa chọn với nhiều loại sản phẩm bản đồ in có chất
lượng cao. Bản đồ in giấy thường được phân thành 3 loại cơ bản: bản đồ gấp
(thường là bản đồ du lịch, bản đồ chỉ dẫn đường phố…), bản đồ tập hoặc bản
đồ đóng kèm sách báo (bản đồ khảo sát, nghiên cứu…) và bản đồ treo tường
(bản đồ hành chính, quy hoạch, bản đồ giáo khoa, địa lý…). Ngoài ra còn
nhiều loại bản đồ in với các hình thức thể hiện và mục đích sử dụng khác
nhau. Tùy mục đích sử dụng và ý đồ thông tin mà người làm bản đồ lựa chọn
hình thức phù hợp.
Song song với bản đồ giấy, bản đồ số sử dụng trực tuyến trên mạng
internet và các thiết bị số ngày càng phát triển. Bản đồ số thường được phân
thành 2 loại, bản đồ raster và bản đồ vector. Bản đồ raster là dạng bản đồ tĩnh,
các yếu tố trên bản đồ được thể hiện bằng hình ảnh chết. Thông qua các tuyến
19
thông tin hình ảnh và hệ thống chú thích người xem có thể nắm bắt được
thông tin. Trong khi đó, bản đồ vector là sự tích hợp của hệ thống hình cảnh,
số liệu, các phép toán bản đồ thông minh cho phép người dùng nhận diện đối
tượng, xác định hướng, đo khoảng cách giữa các đối tượng, tìm kiếm điểm
- Bản đồ hàng không: dùng cho việc xác định đường bay để chuẩn bị
và dẫn đường không thực hiện chuyến bay. Trên bản đồ hàng không thường
ghi những yếu tố địa lí và hàng không có liên quan đến việc bay như hệ thống
các sân bay, đài dẫn đường, vật cản thẳng đứng, khu vực có từ lực dị thường,
tuyến từ sai khu đặc biệt trên không... để vạch đường bay, xác định cự li,
phương hướng, độ cao bay và tìm mục tiêu trên mặt đất. Theo mục đích sử
dụng, bản đồ hàng không gồm có: bản đồ bay và bản đồ trong buồng lái.
- Bản đồ khí hậu: bản đồ phản ánh đặc điểm khí hậu. Gồm các nhóm
bản đồ: các nhân tố khí hậu (tổng bức xạ Mặt Trời, cân bằng bức xạ, số giờ
nắng); chế độ nhiệt (nhiệt độ trung bình năm, tháng...); chế độ ẩm (lượng mưa
trung bình năm, mùa, tháng, số ngày có mưa, độ ẩm không khí...); chế độ gió
(hướng, tần suất, tốc độ gió); các hiện tượng khí quyển (số ngày sương muối,
bão, gió nóng...); khí hậu ứng dụng (khí hậu nông nghiệp, khí hậu kĩ thuật...);
phân vùng khí hậu. Bản đồ khí hậu thường lập ở tỉ lệ nhỏ. Phương pháp biểu
thị chủ yếu là đường đẳng trị kết hợp với thang tầng màu và biểu đồ định vị.
- Bản đồ kinh tế: bản đồ phản ánh sự phân bố, cơ cấu và phát triển
toàn bộ nền kinh tế cũng như của từng ngành, từng đối tượng kinh tế. Chủ đề
của bản đồ kinh tế rất phong phú. Bản đồ kinh tế chia ra: Bản đồ kinh tế
chung và bản đồ phân vùng kinh tế, bản đồ kinh tế của từng ngành (công
nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải...), bản đồ chuyên ngành hẹp (cơ khí luyện kim, chăn nuôi...) và bản đồ đối tượng kinh tế hoặc thành phần (diện
tích gieo trồng cà phê, năng suất và sản lượng lúa, vv.). Bản đồ quy hoạch
phát triển kinh tế và phân bố lực lượng sản xuất cũng thuộc bản đồ kinh tế.
Bản đồ giáo khoa: là những bản đồ được sử dụng trong mục đích giáo
dục, cần đảm bảo cho việc dạy và học trong các cơ quan giáo dục, dưới tất cả
21
mọi hình thức, tạo nên một hệ thống giáo dục cho tất cả các tầng lớp từ học
sinh đến đào tạo chuyên gia. Những bản đồ đó được sử dụng trong nhiều
Bản đồ dân cư (phân bố dân cư, thành phần dân cư, biến động tự
nhiên, di cư…)
Bản đồ kinh tế (bản đồ tài nguyên thiên nhiên với những đánh giá
chung về mặt kinh tế, các bản đồ nông nghiệp, công nghiệp, giao thông, các
phương tiện liên lạc, thương mại, quan hệ tài chính,…)
Bản đồ văn hóa (giáo dục, nghiên cứu khoa học…)
Bản đồ y tế
Bản đồ hành chính - chính trị
Bản đồ lịch sử
+ Nhóm bản đồ kỹ thuật cũng được chia thành các nhóm nhỏ:
Bản đồ hàng hải
Bản đồ hàng không
Bản đồ thiết kế
Bản đồ kỹ thuật khác
- Phân theo mức độ bao quát lãnh thổ: bản đồ có thể chia ra thành bản
đồ thế giới, các bán cầu, các châu lục, các đại dương, các biển, nhóm các châu
lục, các nước riêng biệt hoặc các nhóm nước, bản đồ quốc gia hoặc các khu
vực thuộc quốc gia…
Như vậy, về phân loại bản đồ có rất nhiều phương thức phân loại dựa trên
các nhóm tiêu chí khác nhau. Trên đây, chúng tôi chỉ trình bày một vài phương
pháp phân loại cơ bản để thấy bản đồ rất phong phú, có ứng dụng rộng rãi trong
đời sống, giáo dục, nghiên cứu khoa học cũng như các lĩnh vực hoạt động khác.
23
1.1.2. Vị trí, vai trò của xuất bản phẩm bản đồ
trong đời sống xã hội
Xuất bản phẩm nói chung giữ vị trí quan trọng trong đời sống chính trị kinh tế - xã hội. Vị trí ấy càng được khẳng định trong điều kiện xã hội hiện
đại, với nền tri thức phát triển đồng thời với nhu cầu tiếp nhận thông tin, khoa
hay đào tạo chuyên sâu sau đại học, xuất bản phẩm bản đồ cung cấp công cụ
giảng dạy trực quan, sinh động và gắn chặt với thực tiễn. Bên cạnh đó, bản đồ
cung cấp cho học sinh cách tư duy khoa học, hệ thống về vấn đề đang nghiên
cứu. Ngày nay, không chỉ riêng khoa học địa lý mà ở nhiều bộ môn khoa học
đều sử dụng bản đồ như một công cụ giảng dạy và học tập thiết yếu như lịch
sử, sinh học, nhân chủng học, ngôn ngữ học, văn hóa học… đặc biệt là những
bộ môn khoa học chuyên sâu.
Với đặc trưng là sản phẩm của văn hóa và tri thức, bản đồ cũng thể
hiện vị trí, vai trò quan trọng với các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội giống như các xuất bản phẩm nói chung. Tuy nhiên, với những đặc trưng
riêng có của mình, bản đồ còn thể hiện vai trò quan trọng ở những khía cạnh
khác mà không phải xuất bản phẩm nào cũng làm được.
Vai trò định vị, vai trò đầu tiên và quan trọng nhất của bản đồ đó là
xác định vị trí đối tượng được thể hiện trên bản đồ. Từ xác định vị trí châu lục
trên thế giới, xác định vị trí quốc gia trong châu lục, đến xác định vị trí núi,
sông, hồ, công trình xây dựng, mỏ quặng… Khả năng định vị của bản đồ giúp
cho người xem biết được đối tượng họ cần tìm kiếm nằm ở phía nào, khoảng
cách tới đó bao xa, địa hình khu vực và xung quanh khu vực đối tượng đó thế
nào… Vai trò định vị còn thể hiện ưu việt hơn trong điều kiện công nghệ
thông tin phát triển như hiện nay. Với các công cụ hỗ trợ, người ta có thể định
vị được vị trí của một cá nhân riêng lẻ thể trên phạm vi toàn cầu. Điều đó cho
thấy, với sự hỗ trợ của bản đồ con người có thể làm được những việc tưởng
như không thể.
25
Vai trò chỉ dẫn, khi đã biết được vị trí nơi cần đến người ta sẽ quan
tâm đến việc làm thế nào để đi đến đó. Bản đồ từ xưa đã là người bạn đồng
hành của con người trên khắp các nẻo đường. Chúng ta có bản đồ giao thông