MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHIẾN LƯỢC KINH DOANH TRONG GIAI ĐOẠN
2001 2005 CỦA CÔNG TY CƠ GIỚI VÀ XÂY LẮP SỐ 12
I. Nội dung chiến lược của giai đoạn 2001-2005 của công ty cơ giới
và xây lắp số 12.
1. Định hướng và mục tiêu phát triển.
1.1. Định hướng và mục tiêu dài hạn.
1.1.1. Định hướng 10 năm 2001-2010.
Xây dựng và phát triển công ty cơ giới và xây lắp số 12 trở thành một doanh
nghiệp vững mạnh, lấy kết quả kinh tế xã hội làm thước đo chủ yếu cho sự
phát triển bền vững, thực hiện đa dạng hoá ngành nghề. Bên cạnh đó phát
triển sâu ngành nghề truyền thống để đảm bảo công ty cơ giới và xây lắp số 12
là một nhà thầu mạnh có thể thi công các công trình lớn ở trong nước và nước
ngoài. Phát huy cao độ mọi nguồn lực để nâng cao năng lực cạnh tranh, góp
phần quan trọng vào sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.
1.1.2. Phương hưóng và mục tiêu phát triển giai đoạn 2001-2005.
Phát huy truyền thống của công ty tham gia vào một số thị trường có tiềm
năng phát triển, củng cố và phát huy ngành nghề truyền thống của công ty. Xây
dựng đội ngũ cán bộ công nhân viên giàu năng lực, kỹ thuật chuyên môn cao,
có nhiệt tình làm việc phấn đấu làm việc vì đời sống ổn định của cán bộ công
nhân viên và sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.
Để định lượng các mục tiêu trên, bản chiến lược còn nêu ra một số chỉ tiêu
chủ yếu sau:
Bảng 2: Các chỉ tiêu chủ yếu giai đọan 2005-2010.
Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2005 Năm 2010
Giá trị sản lượng Tỷ đồng 80-85 95-100
Tiền lương bình
quân
Triệu
đồng
1.2-1.5 1.7-2
Doanh thu Tỷ đồng 75-80 80-85
đồm của công ty, tăng cường tính chủ động sáng tạo, tự chịu trách nhiệm và
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của từng đội sản xuất, của từng đơn vị
thành viên.
* Tăng cường chiếm lĩnh thị trường trên cơ sở, phát huy năng lực sở trường
cũng như thế mạnh và tiềm năng sẵn có, bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội,
đảm bảo chủ quyền và lợi ích của công ty không bị xâm phạm. Chuẩn bị sẵn
sàng các điều kiện cho hội nhập khu vực và thế giới.
* Tăng cường hạch toán kinh doanh, lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm thước
đo chủ yếu cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hành tiết kiệm chống
quan liêu, lãng phí, tham nhũng.
* Thực hiện cổ phần hoá theo chủ trương của Nhà nước, chẩn bị các điều
kiện để tham gia thị trường chứng khoán.
* Thực hiện tốt công tác đời sống, lao động, việc làm, với các phong trào thi
đua, công tác xã hội, nhằm xây dựng một thế hệ công nhân mới có tri thức, có
đời sống vật chất ổn định, đời sống văn hoá tinh thần phong phú.
2.2. Các giải pháp chiến lược giai đoạn 2001 – 2005.
2.2.1. Về nguồn nhân lực.
Cùng với chiến lược phát triển của công ty, việc đề ra những giải pháp về
phát triển nguồn nhân lực cần thực hiện các bước sau:
Xây dựng nguồn nhân lực vững mạnh để vừa đáp ứng nhu cầu trước mắt,
vừa đáp ứng nhu cầu lâu dài.
Thực hiện đa dạng hoá phương thức đào tạo, vừa đạo tạo mới, vừa đào tạo
lại và tự đào tạo. Bên cạnh đó kết hợp đào tạo nước ngoài và tự tuyển dụng
Nâng cấp trường đào tạo chuyên môn và nghiệp vụ, phải đào tạo cả trình
độ chính trị và ngoại ngữ để có cơ sở tri thức vững chắc khi liên doanh liên kết
với các công ty nước ngoài.
Tạo mọi điều kiện để khuyến khích cán bộ công nhân viên tự nâng cao trình
độ.
2.2.2. Về thị trường.
Củng cố và phát triển lực lượng làm công tác tiếp thị, đấu thầu.
đó vẫn đi sâu khai thác thế mạnh của ngàng nghề truyền thống.
- Đầu tư công nghệ xây lắp, điều động tận dụng các thiết bị máy móc sẵn có,
hiện đại hoá một số thiết bị, đặc biệt là thiết bị thi công san lấp, khoan đóng
cọc, thiết bị thi công ngành đường bộ
II. Đánh giá quy trình chiến lược giai đoạn 2001 - 2005 của công ty
cơ giới và xây lắp số 12.
1. Những ưu điểm.
Việc xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh giai đoạn 2001 - 2005 đã
thông qua các bước như: đánh giá thuận lợi khó khăn thách thưc của giai
đoạn mới, căn cứ vào mục tiêu của đất nước trong giai đoạn chiến lược mới để
đề ra mục tiêu, định hướng chiến lược của công ty. Từ đó đề ra các nhiệm vụ,
giải pháp chủ yếu trong giai đoạn chiến lược nhằm đạt tới các mục tiêu đặt ra.
Trong đó, việc đánh giá thuận lợi, khó khăn thách thức của giai đoạn tới
chính là xem xét, đánh giá môi trường và dự báo môi trường tương lai một
cách sơ lược cùng với việc đánh giá về điểm mạnh cũng như điểm yếu của công
ty.
Mục tiêu của công ty là đa dạng hoá ngành nghề, bên cạnh đó công ty còn
đặt ra mục tiêu xã hội đó là: “ Xây dựng một thế hệ công nhân mới có tri thức,
có đời sống vật chất ổn định, đời sống văn hoá tinh thần phong phú”.
Các biện pháp, nhiệm vụ được đề ra trong giai đoạn tới đã đề cập đến rất
nhiều lĩnh vực đó là: Việc đầu tư mà mục tiêu là các công trình xây dựng lớn,
công trình xây dựng công nghiệp và dân dụng; về nguồn nhân lực; về tình
trạng quản lý; về công tác hạch toán kinh doanh, công tác thị trường, công tác
cổ phần hoá vv...
Nói chung, các nhiệm vụ được đặt ra khá cụ thể và có các biện pháp khá hợp
lý.
Trong quá trình tìm ra giải pháp thực hiện nhiệm vụ, đã căn cứ vào các
phân tích về môi trường, cũng như nguồn lực tương lai của công ty.
2. Những tồn tại.
Việc phân tích môi trường để đề ra chiến lược còn sơ sài, chủ yếu phụ thuộc
liệt, việc nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, khách hàng, nhà cung cấp càng cần
thiết. Đẩy mạnh sản xuất phải đi đôi với việc đẩy mạnh tìm kiếm thị trường,
điều này đòi hỏi công tác nghiên cứu môi trường và thị trường phải tích cực và
được đầu tư phát triển hợp lý.
Việc đưa ra các phương án chiến lược phải chỉ ra được hậu quả của nó và
nguồn lực để đảm bảo thực thi các phương án đó.
Ngoài ra việc xác định danh mục vồn đầu tư là rất cần thiết. Cần phải đẩy
mạnh việc phân tích thị trường để xác định tỉ lệ tăng trưởng thị trường của
từng ngành mà công ty tham gia. Từ đó tìm ra những đơn vị mạnh, chiếm ưu
thế chủ đạo cần phát huy và những đơn vị chủ yếu cần tăng cường đầu tư
hoặc có biện pháp xử lý thích hợp.
3. Về công tác tổ chức thực thi chiến lược.
Để đưa chiến lược vào tổ chức thực thi chiến lược có hiệu quả cần phải rà
soát lại các mục tiêu, nhiệm vụ xem có phù hợp với nguồn lực hiện tại và mục
tiêu hiện tại không, chẳng hạn công tác cổ phần hoá cần phải rà soát cẩn thẩn,
điều kiện và tiền đề phát triển, điều kiện hội tụ của từng đơn vị để đưa ra
chính sách tranh thủ thời cơ, tránh thất bại gây tâm lý không tốt, ảnh hưởng
đến tinh thần làm việc của công nhân viên.
Việc đánh giá nguồn lực và phân bổ nguồn vốn cho từng dự án, từng giai
đoạn phải dự vào kế hoạch đề ra cung như tiến độ thực tế. Nếu có những thay