MỤC LỤC
MỤC LỤC
i
i
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Rau an toàn (RAT) đã trở nên quen thuộc với người dân nước ta từ những
năm 90 cho đến nay, hầu khắp các tỉnh, thành phố của nước ta đã triển khai thực hiện
sản xuất RAT. Những năm gần đây việc triển khai diễn ra ồ ạt, không theo một
khuôn mẫu nhất định mà chỉ nhằm đáp ứng theo nhu cầu thị trường có cầu ắt có
cung. Khi Việt Nam được sự giúp đỡ của các chuyên gia nước ngoài xây dựng hoàn
chỉnh quy trình nông nghiệp an toàn VietGAP và Nhà nước đã hoàn thiện các văn
bản pháp quy quy định về quy trình sản xuất, tiêu thụ RAT đã tạo điều kiện thuận lợi
cho các bên liên quan như : Người sản xuất, Người tiêu dùng, Nhà kinh doanh, Nhà
quản lý cùng với sự giúp đỡ của các Nhà khoa học. Tuy nhiên, trong quá trình triển
khai thực hiện gặp phải không ít khó khăn và thách thức. RAT theo đúng quy định
của VietGAP sẽ đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, đảm bảo sức khỏe cho người
sản xuất và giảm mức độ tổn hại đến môi trường tự nhiên. Một lớp người với mức
sống cao hơn có nhu cầu tiêu dùng Rau hữu cơ (RHC) với sự an toàn được đảm bảo
hơn, tuy nhiên việc trồng RHC được tiến hành theo đúng tên gọi của nó không dễ
thực hiện, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan. Thực tế chứng minh rằng
cả RAT và RHC nếu sản xuất- tiêu thụ đúng theo quy định của Nhà nước sẽ đảm bảo
an toàn thực phẩm, tuy nhiên ý nghĩa đối với môi trường chưa thật rõ ràng. Các nhà
Môi trường luôn nghiên cứu, đề xuất những hướng sản xuất thân thiện với môi
trường nhất, làm giảm thiểu đến mức thấp nhất việc làm phương hại đến tài
nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường. Làm thế nào để có thể vừa khai thác được tối
đa tiềm năng của tự nhiên nhằm tạo ra sản phẩm với chất lượng tốt nhất, năng suất
cao nhất vừa có thể bảo vệ được các nguồn tài nguyên đất, nước, không khí và sức
khỏe con người. Ngoài việc tìm ra những giống mới, kỹ thuật canh tác mới thì khoa
học kỹ thuật (KHKT) tiến bộ còn có thể tìm ra những hướng đi mới phát triển nông
góp ý của các nhà Khoa học, đặc biệt là sự tham gia vào dự án cùng giúp những
người dân trong quá trình chăm sóc, thu hoạch sản phẩm rau, tác giả mới thấy hết
những vất vả, lo toan của những người coi nghề Rau là kế sinh nhai. Bên trong những
lợi nhuận thu được chính là Sức khỏe, là vốn liếng Đất, Nước không gì có thể thay
thế được đang dần bị bào mòn, làm thế nào để cân bằng được kinh tế- xã hội và chất
lượng môi trường là những gì mà tác giả đề tài muốn đề cập trong khuôn khổ đề tài.
º Coi RST như là một hướng đi mới cho nghề trồng rau dưới con mắt của các
nhà môi trường, từ đó có thể hình thành ý tưởng du lịch sinh thái tại những vùng
trồng rau phù hợp với phát triển du lịch. Hướng ngành nông nghiệp nước nhà đến
một nền nông nghiệp văn minh, sạch, thân thiện với môi trường là niềm mong mỏi
2
2
không chỉ từ phía Ngành Nông nghiệp mà còn từ những người học, làm về môi
trường.
º Mở ra định hướng mới cho bà con nông dân trồng rau xã Thọ Xuân huyện
Đan Phượng thành phố Hà Nội: Trồng rau đảm bảo chất lượng và an toàn theo đúng
quy trình kỹ thuật, sản xuất rau sạch theo hướng sạch hơn, tiếp cận với thị trường
tiềm năng hơn.
º Trồng rau đảm bảo an toàn không những giữ được cái tâm trong của người
trồng rau là đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng cũng như việc đảm bảo sức khỏe
cho người trồng không phải tiếp xúc với các chất hóa học.
Do hạn chế về năng lực và kinh nghiệm trong quá trình thực hiện, khóa
luận không tránh khỏi thiếu sót. Sự phản hồi của độc giả sẽ rất bổ ích và thiết
thực để tác giả có thể hoàn thiện mình.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quan về khu vực nghiên cứu: xã Thọ Xuân huyện Đan Phượng
thành phố Hà Nội
3
3
1.1.1. Vị trí địa lý
1 Đất nông nghiệp 252,28 220,29 198,29
1.1 Đất trồng cây hàng năm 193,99 164,14 145,77
1.1.1 Đất trồng lúa 107,46 98,11 89,56
1.1.2 Đất trồng cây hàng năm
khác
86,53 66,03 56,21
1.2 Đất trồng cây lâu năm 43,68 43,14 42,13
1.3 Đất nuôi thủy sản 14,61 13,01 10,91
II Đất phi nông nghiệp 198,69 230,79 251,95
1 Đất ở 54,85 66,95 74,95
2 Đất chuyên dùng 49,71 69 83,18
3 Đất tôn giáo tín ngưỡng 1,33 1,35 1,35
4 Đất nghĩa trang nghĩa địa 4,4 4,4 4,4
5 Đất sông suối và mặt nước 88,4 88,4 88,4
Nhìn vào Bảng 1 có thể nhận xét Quy hoạch sử dụng đất của địa phương đến
năm 2015, 2020 sẽ giảm diện tích đất nông nghiệp, tăng diện tích đất sử dụng cho các
mục đích phi nông nghiệp. Đây cũng là sự thể hiện của quy hoạch theo xu hướng
chung ở những vùng nông thôn đặc biệt là những vùng ngoại vi gần những đô thị lớn.
◦ Hệ thống đường giao thông
Bảng 2: Hiện trạng hệ thống đường giao thông [12]
5
5
TT Loại đường Hiện trạng năm 2009
Tổng chiều
dài (km)
Đã được bê
Tông hóa,
nhựa hóa
1 Đường trục liên xã đi qua địa phương
(đường 417 nối liền với quốc lộ 32 đi
6
6
1.1.3. Điều kiện kinh tế- xã hội
◦ Kinh tế
Năm 2009, chịu ảnh hưởng của thiên tai bất thường, khắc nghiệt đã tác động
mạnh đến phát triển kinh tế -xã hội. Tuy nhiên dưới sự quan tâm chỉ đạo của các cấp
chính quyền, đầu tư phát triển nông nghiệp, mở rộng sản xuất các loại hình dịch vụ,
hình thành các điểm công nghiệp cùng với sự nỗ lực không mệt mỏi của chính quyền
và người dân đã thu được những kết quả đáng khích lệ. Tổng giá trị sản phẩm năm
2009 ước đạt 67 tỉ 426 triệu 012 nghìn đồng.
Bảng 3: Cơ cấu ngành kinh tế của địa phương năm 2009 [11]
Cơ cấu ngành
Giá trị So với cùng
kỳ năm 2008
So với kế
hoạch
Toàn xã 100% 103,7% 96,5%
Nông nghiệp 44,8% 82,4% 80%
Tiểu thủ công nghiệp- xây dựng 18% 131% 121,7%
Thương mại dịch vụ 37,2% 131,3% 113,3%
Các ngành tiểu thủ công nghiệp- xây dựng và dịch vụ nông nghiệp của xã trong
những năm gần đây đã khởi sắc, tuy nhiên nông nghiệp vẫn là thu nhập chính của
toàn xã, trước đây ngoài việc đầu tư cho trồng lúa đáp ứng đủ nhu cầu của nhân dân,
địa phương còn chú trọng đến trồng cây ăn quả, tuy nhiên cây ăn quả chi cho thu
hoạch cao trong vụ đầu, chi phí ban đầu và tính rủi ro cao nên người dân đã dần dần
quan tâm hơn đến việc đầu tư cho sản xuất rau.
◦ Văn hóa- xã hội
- Công tác giáo dục
Công tác quản lý giáo dục ở các cấp học Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở
khá tốt, tỉ lệ học sinh đi học cao và đảm bảo, cải thiện dần về cơ sở vật chất và giáo
quy trình thực hành nông nghiệp tốt đã trở thành thói quen hay sự tự nguyện mà bất
cứ nhà sản xuất hay nhà kinh doanh Rau nào muốn có chỗ đứng trên thị trường.
Bên cạnh sản xuất rau theo tiêu chuẩn Global GAP, thế giới còn đẩy mạnh
phát triển nông nghiệp hữu cơ, đặc biệt là những nước phát triển và có nền nông
nghiệp hiện đại, bền vững. Theo báo cáo của Hiệp hội nông dân sinh học Australia
(2008), lượng sản phẩm rau, quả hữu cơ được tiêu thụ ở nước này tăng 80% kể từ
năm 2004 và có ít nhất 40% người dân có thói quen tiêu thụ sản phẩm hữu cơ.
Australia là nước có nhiều đất nông nghiệp được cấp giấy chứng nhận trồng các sản
phẩm hữu cơ trên thế giới.[19]
8
8
Tại Đài Loan, trong những năm gần đây xu hướng tiêu dùng là lựa chọn thực
phẩm hữu cơ, diện tích canh tác các sản phẩm hữu cơ đã tăng đáng kể. Trong năm
2001, diện tích canh tác RHC chỉ là 171 ha trong tổng số 898 ha các sản phẩm hưu
cơ, nhưng đến hết tháng 3 năm 2010 thì diện tích RHC là 944ha trong tổng số
3.056ha các sản phẩm hữu cơ. [16]
1.3. Khái niệm về các dạng rau sạch trên thị trường nước ta hiện nay
Thị trường rau có những tên gọi chỉ những loại rau đảm bảo an toàn thực phẩm
như: rau sạch, RAT, RHC,… Gọi tên rau sạch mang ý nghĩa chung chung, không rõ
nghĩa, qua tìm hiểu tác giả nhận thấy không có một dạng rau nào trên thị trường là
rau sạch tuyệt đối, chỉ có rau đạt ngưỡng an toàn theo quy định của Nhà nước,
không gây hại hoặc gây hại ở mức nhẹ cho sức khỏe của người trồng và người sử
dụng.
- RAT: Là tên gọi phổ biến nhất là rau mà những chỉ tiêu như : Dư lượng
Nitrat; Dư lượng kim loại nặng; Dư thuốc BVTV; Dư lượng vi sinh vật gây hại phải
dưới mức cho phép, nếu vượt quá có thể gây nguy hiểm cho người sử dụng. (Phụ lục
1,2,3). Gọi là RAT, vì trong quá trình sản xuất, vẫn dùng phân hóa học và thuốc
BVTV, tuy nhiên được hạn chế về liều lượng, dùng vào thời điểm phù hợp và chỉ sử
dụng các thuốc BVTV trong danh mục cho phép. Phải đảm bảo thời gian cách ly khi
sử dụng phân bón và thuốc BVTV đến khi thu hoạch. Như vậy, khi thu hoạch RAT
lớn nhất của RHC là “sạch hơn rau sạch”, sản xuất nông nghiệp bền vững và thân
thiện với môi trường. Tuy nhiên, để mô hình sản xuất RHC có thể mở rộng ra thành
sản xuất đại trà ra thị trường là rất khó bởi những trở ngại khi chuyển từ sản xuất
bình thường sang sản xuất hữu cơ, chưa có cơ quan chứng nhận tiêu chuẩn sản phẩm
hữu cơ cũng như quy định rõ ràng về giá cả.
1.4. Hiện trạng về sản xuất rau, RAT nước ta hiện nay
Theo số liệu thống kê năm 2008 ( Cục Trồng trọt- Bộ NN&PTNT), tổng diện
tích trồng rau trên đất nông nghiệp của Việt Nam là 772000 ha, năng suất 15,9 tấn/ha,
sản lượng là 11.472.000 tấn, bình quân đầu người 133,4 kg/năm nằm ở mức trung
bình so với lượng rau tiêu thụ trên đầu người trên thế giới. Với sản lượng rau trên chỉ
đảm bảo tiêu dùng trong nước và một phần cho xuất khẩu. Tuy nhiên, so với sản
lượng rau của những năm về trước tăng lên đáng kể. Trong đó diện tích RAT mới chỉ
đạt con số khiêm tốn là 12% trong tổng số rau sản xuất ra cho thị trường. ( Viện
nghiên cứu rau quả, 2009)
Bảng 4: Diện tích, năng suất, sản lượng rau phân theo vùng [16]
TT Vùng Diện tích (1000ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng
(1000 tấn)
1999 2005 1999 2005 1999 2005
10
10
Cả nước 459,6 635,1 126 151,8 5792,2 9640,3
1 Đồng bằng
sông Hồng
126,7 158,6 157 179,9 1998,9 2852,8
2 Trung du
miền núi
Bắc Bộ
60,7 91,1 105,1 110,6 637,8 1008
3 Bắc Trung
Bộ
bón phân hữu cơ chưa được ủ hoai, bón nhiều phân Ure. Trên thị trường xuất hiện
nhiều dạng phân bón chất lượng thấp do hàng giả, hàng nhập lậu từ Trung Quốc.
- Thuốc Bảo vệ thực vật (BVTV)
Theo Viện BVTV (1998), Việt Nam đã và đang sử dụng khoảng 270 loại thuốc
trừ sâu, 216 loại thuốc trừ bệnh, 160 loại thuốc trừ cỏ, 12 loại thuốc diệt chuột và 26
loại thuốc kích thích sinh trưởng. [2]
Thời gian cách ly của thuốc BVTV: Người dân cách ly thường theo cảm tính.
Thuốc BVTV góp phần làm giảm số lượng nhiều loài sinh vật có ích, giảm tính
đa dạng sinh học, ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Mặc dù sản xuất RAT nhưng
vẫn còn có nơi sử dụng thuốc BVTV có độ độc cao đã bị cấm sử dụng như: DDT,
Lindan, Monitor, wofatox…Quy định về sản xuất RAT là sử dụng thuốc BVTV
thuộc nhóm III, IV và hạn chế hoặc cấm sử dụng các thuốc BVTV thuộc nhóm I, II.
Khi không có sự kiểm soát từ phía cơ quan chức năng cũng như sự giám sát của
những người có liên quan thì người dân vẫn sử dụng thuốc BVTV cho RAT giống
như rau thường.
- Nước tưới
Nguồn nước tưới cung cấp cho RAT theo quy định là nước giếng khoan, nước
sông, ao hồ không bị ô nhiễm. Tuy nhiên trên thực tế vẫn có hiện tượng sử dụng
nước ao hồ, cống rãnh tù đọng không xử lý gây ô nhiễm vi sinh hay nước thải từ các
khu công nghiệp, bệnh viện, mức độ độc hại rất cao dùng làm nước tưới.
1.4.3. Quá trình thu hoạch và đóng gói
Việc bảo quản rau trong quá trình thu hoạch và đóng gói là một khâu rất quan
trọng trong quá trình đưa sản phẩm đến được với tay người tiêu dùng mà vẫn đảm
bảo được chất lượng và sản lượng. Khâu thu hoạch và bảo quản sản phẩm của nước
ta còn yếu kém. Công nghệ sau thu hoạch như xử lý, bảo quản, vận chuyển ở nước ta
12
12
còn lạc hậu, cơ sở vật chất kèm theo như kho lạnh chuyên dùng, thiết bị rửa, phân
loại, xử lý, buồng ủ chín…ít được các doanh nghiệp đầu tư.
1.5. Hiện trạng về RAT trên thị trường nước ta
Người thu
gom
gom
Người
Người
buôn rau
buôn rau
Người tiêu dùng
Người tiêu dùng
Người bán lẻ rau
Người bán lẻ rau
13
13
Yêu cầu của người tiêu dùng là đảm bảo an toàn thực phẩm, phần lớn người dân
sẵn lòng trả mức giá cao hơn để được ăn những sản phẩm RAT có rõ nguồn gốc,
nhãn mác. Nhưng thực tế thì RAT không hẳn là RAT, tâm lý nghi ngờ, lo sợ vẫn
thường trực cho những người nội trợ khi đi mua rau. Họ mất niềm tin nơi đạo đức
của người bán hàng. Như vậy, rõ ràng việc kiểm soát chất lượng rau phải được tất cả
các ngành liên quan tập trung giải quyết.
Bên cạnh đó, những người có thu nhập thấp chấp nhận sản phẩm rau giá rẻ mà
không quan tâm đến chất lượng của nó cũng như không có điều kiện chi trả cho giá
RAT, tạo điều kiện cho Rau không an toàn có chỗ đứng, len lỏi, nhầm lẫn với RAT.
● Doanh nghiệp:
Nhiều doanh nghiệp vẫn chưa “mặn mà” đến việc kinh doanh RAT, một số chỉ vì
lợi nhuận đã biến Rau không an toàn thành RAT làm mất uy tín cũng như lòng tin
của người tiêu dùng và những người sản xuất chân chính.
● Nhà quản lý:
◦ Nhà nước và các cơ quan như Bộ NN& PTNN, Bộ Y tế cũng như các cơ
quan liên quan đã ban hành các Văn bản pháp luật quy định về quản lý sản xuất kinh
doanh RAT. Tuy nhiên, các văn bản pháp luật còn chưa quy định rõ quyền hạn nhiệm
không được đảm bảo do chưa có sức thuyết phục với người tiêu dùng bởi thực sự
không có sự đảm bảo về chất lượng từ các cơ quan kiểm định. Hơn nữa, do bón
lượng phân vô cơ và thuốc BVTV ít hơn cũng như đúng quy định về thời gian cách
ly cho đến lúc thu hoạch nên RAT không mượt, có vẻ già xấu hơn rau không sạch,
bán không được giá nên không hấp dẫn được người sản xuất.
◦ Chưa xây dựng được kênh bán hàng riêng, tránh tình trạng người trồng bị
động cả đầu vào và đầu ra, họ không dám mạnh dạn đầu tư mở rộng sản xuất mà chỉ
sản xuất cầm chừng, manh mún, nhỏ lẻ.
◦ Trồng RAT chi phí đầu tư cao nhưng tính rủi ro không nhỏ, rủi ro do những
nguyên nhân tự nhiên như thời tiết, hay hiện tượng rau rớt giá trên thị trường trong
khi RAT chưa chứng tỏ được thương hiệu, rớt giá có thể do nguyên nhân xã hội và
do người tiêu dùng chi phối.
● Người tiêu dùng:
◦ Người dân đã có thói quen và ý thức tiêu dùng những sản phẩm sạch, sản
phẩm an toàn và thân thiện với môi trường, còn lại một bộ phận người dân muốn mua
hàng hóa theo giá rẻ, chưa ý thức được tác hại của rau bẩn nên vẫn chưa quan tâm
đến chất lượng an toàn của rau. Người tiêu dùng cũng chưa hiểu rõ và thật ra cũng
chưa quan tâm đến việc sản xuất ra RAT đòi hỏi phải tuân thủ nghiêm ngặt những
yêu cầu về đất đai, nước tưới, công chăm sóc, bảo vệ cũng như việc đầu tư tạo nên
15
15
một khu trồng RAT. Do đó, họ khó chấp nhận việc giá RAT cao hơn so với rau
thường.
● Nhà Doanh nghiệp
◦ Chưa có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong việc kinh doanh mặt hàng có
tính rủi ro cao bởi sự tác động của nhiều yếu tố như sản phẩm mang tính đặc thù chỉ
bán được trong ngày, giá trị thấp, lãi ít, chi phí vận chuyển, thuê cửa hàng cao...
nhiều doanh nghiệp không chú trọng cải tiến phương thức thu mua từ người trồng và
phục vụ người tiêu dùng.
● Người quản lý:
và quy định lẫn nhau: Đất, nước, không khí, con người cũng như các thành phần vi
sinh, sự tương tác hay mâu thuẫn của chúng là thể hiện của sự tồn tại và phát triển,
trong toàn hệ thống môi trường nếu có một yếu tố rối loạn sẽ gây tác động mạnh tới
các yếu tố còn lại, ảnh hưởng đến sự phát triển sản xuất. Con người xuất thân từ tự
nhiên và được quy định bởi tự nhiên, hoạt động của con người được xem như là một
yếu tố của hệ thống tự nhiên. Thông qua lao động, một mặt con người bồi đắp cho sự
phong phú vốn có của tự nhiên, mặt khác con người dần dần có sự đối lập với tự
nhiên, con người đã vay mượn của tự nhiên, lấy đi của cải của thế hệ tương lai nhằm
sinh lợi. Với nước ta, một đất nước nông nghiệp và Nông nghiệp như nền móng cho
sự phát triển, tuy nhiên hiện thực thể hiện sự phát triển không bền vững và một trong
nhiều lý do là lạc hậu. Trong nông nghiệp còn tồn tại nếp nghĩ, nếp làm của một nền
sản xuất nhỏ, việc tiếp khu các tiến bộ KHKT và áp dụng nó vào thực tiễn vẫn còn
chưa đồng bộ và hoàn chỉnh. Nông nghiệp sinh thái đã được hình thành nhưng mới
chỉ tồn tại ở dạng những mô hình và nếu có sự quản lý, giám sát nghiêm túc thì mới
thực hiện có hiệu quả, RST có thể được xem như một khía cạnh nhỏ trong tổng thể
hệ thống sinh thái, hướng tất cả các đối tượng và đặc biệt là người sản xuất cần phải
thay đổi nhận thức- xây dựng nên ý thức sinh thái. Có nghĩa là làm cho người nông
dân nhận thức một cách tự giác về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, người
nông dân và hoạt động sản xuất nông nghiệp chịu sự chi phối, quy định bởi tự nhiên.
Tự thân họ phải nhận thức được vị trí vai trò của mình trong hệ thống tự nhiên- con
người- xã hội.
1.7.1. Lợi ích kinh tế
◦ Qua tìm hiểu và phỏng vấn những gia đình trồng rau lâu năm tại Thọ Xuân
cũng như một số vùng khác trên thành phố Hà Nội, tác giả ghi nhận được việc người
dân yên tâm về thu nhập bằng nghề trồng rau, tuy khá vất vả nhưng so với trồng lúa
thì lợi nhuận cao hơn hẳn, so với trồng màu thì ổn định hơn cả về giá cả và thị trường
cũng như các yếu tố rủi ro tự nhiên.
◦ Đối với một vùng nông nghiệp thuần túy như xã Thọ Xuân, trồng rau theo
hướng tự cung, tự cấp, tuy xã đã có truyền thống trồng rau lâu đời với những kinh
17
tìm ra hướng đi mới cho vùng rau địa phương.
◦ Lợi ích kinh tế sẽ kéo theo lợi ích xã hội, khi rau Thọ Xuân tìm được đường
ra thì lợi nhuận thu được sẽ được đầu tư vào phúc lợi trong gia đình và xã hội, đặc
biệt là nâng cao trình độ dân trí cho thanh thiếu niên. Nếu được có thể kết hợp giữa
18
18
sản xuất RST và làm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng tạo thêm nguồn thu cho địa
phương.
◦ Việc sản xuất, cung ứng rau chứa yếu tố độc hại đối với sức khỏe con người
liên quan đến phạm trù đạo đức, lòng trung thực và ý thức cố kết cộng đồng. Có thể
vì lợi nhuận, tính ích kỷ một số người sản xuất và cung ứng bất chấp giá trị đạo đức,
gây hậu quả suy thoái xã hội, góp phần đáng kể vào cản trở phát triển bền vững và xa
hơn là công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước. Vì vậy khi triển khai dự án trồng RST
không chỉ gắn kết những người trồng rau trong cùng địa phương để chia sẻ kinh
nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau về nhân lực, vật lực mà còn nâng cao cho họ ý thức, trách
nhiệm đối với sức khỏe cộng đồng, giữ được cái tâm trong của người làm nông vì
một sự phát triển bền vững, toàn diện và sâu sắc.
◦ Người trồng rau sẽ hiểu biết hơn mà không sử dụng các hóa chất, thuốc
BVTV độc hại, không rõ nguồn gốc, giúp cải thiện sức khỏe cho chính mình và gia
đình, đặc biệt là phụ nữ.
1.7.3. Lợi ích môi trường
◦ Dần dần hình thành thói quen đi kèm với ý thức bảo vệ môi trường như nâng
cao ý thức của người dân về việc vứt bỏ bao bì, giấy gói đúng nơi quy định bằng
cách tạm thời tạo thành các hố rác ngay tại ruộng sau rồi thu gom lên xe chở rác của
hợp tác xã dịch vụ Thành Công. Sử dụng ít hóa chất, thuốc BVTV, thuốc BVTV phải
nằm trong danh mục cho phép, tận dụng sức lao động và tiếp thu những kinh nghiệm
canh tác hữu cơ vào trong quá trình chăm sóc cây chính là thân thiện với môi trường.
◦ Bản thân tên “RST” đã mang ý nghĩa đặc biệt, thân thiện, gần gũi với môi
trường, hướng cho bà con nông dân biết trân trọng và giữ gìn môi trường trong lành
vốn có của một vùng quê thuần chất. Duy trì cần bằng sinh thái quần thể sinh vật, bảo
phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên (mùa vụ, nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa,
tính chất đất đai), giống, cây trồng cũng như kỹ thuật canh tác. Dùng phân bón và
thuốc BVTV không đúng kỹ thuật không chỉ đất bị thoái hóa nhanh do đất bị lấy đi
nhiều một hoặc vài loại chất dinh dưỡng.
20
20
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, NỘI DUNG NGHIÊN CỨU,
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Hiện trạng của RAT ở nước ta
Cơ sở khoa học của RST
Đề xuất những giải pháp nhằm đảm bảo tính khả thi của dự án thử nghiệm RST
2.2. Nội dung nghiên cứu
- Thông qua đi thực tế tại địa bàn nơi thực hiện dự án tìm hiểu về hiện trạng
sản xuất nhỏ lẻ, manh mún và sự rời rạc giữa những người sản xuất, không đi theo
phương thức sản xuất hàng hóa mà là thuần túy theo hướng tự cung, tự cấp.
- Điều tra, phỏng vấn theo nội dung sẵn có trong phiếu điều tra về việc thực
hiện dự án đối với những thành viên trong dự án.
- Xây dựng cơ sở khoa học của việc trồng RST qua bước đầu thực hiện thử
nghiệm dự án tại xã Thọ Xuân huyện Đan Phượng thành phố Hà Nội.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp phân tích SWOT
* Tiếp cận hệ thống
Tiếp cận hệ thống đã được áp dụng rất nhiều trong các hệ sản xuất và ngày nay
đang được áp dụng trong các ngành nghiên cứu khoa học. Tiếp cận hệ thống chính là
cơ sở phương pháp luận để hình thành và phát triển một hệ thống quản lý và sử dụng
21
21
bền vững. Nó cho phép nhìn nhận các vấn đề của hệ thống một cách tổng thể, thấy
được các mối quan hệ chặt chẽ giữa các thành phần của hệ thống (từ hệ thống cấp
22
Phỏng vấn những người thực hiện dự án về cơ cấu mùa vụ, chủng loại cây trồng,
kỹ thuật canh tác, cách thức sử dụng phân bón, thuốc BVTV, chất lượng môi trường
canh tác, nhận thức về kỹ thuật canh tác rau đạt tiêu chuẩn chất lượng an toàn cho
người sử dụng cũng như chính người trồng, các vấn đề sức khỏe trong quá trình canh
tác do tiếp xúc với phân bón, thuốc BVTV, nhận thức về các vấn đề môi trường liên
quan.
Hình thức phỏng vấn: Các đối tượng được phỏng vấn đều nằm trong dự án trồng
RST, họ cũng chính là những thành viên tiêu biểu trong canh tác sản xuất rau của địa
bàn nghiên cứu câu hỏi được chuẩn bị trước, cuộc phỏng vấn diễn ra bằng cách đặt ra
các câu hỏi thông qua các buổi trò chuyện với người dân.
Dạng câu hỏi:
● Câu hỏi mở: Không định trước câu trả lời, tự do suy nghĩ và trả lời theo ý
kiến của cá nhân.
● Câu hỏi lựa chọn: Câu hỏi mở kèm theo các câu trả lời để người dân lựa
chọn.
- Cơ sở của phương pháp:
Thu thập, nghiên cứu tất cả các tài liệu có liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu,
hệ thống các văn bản, quy định Pháp luật của Nhà nước cũng như các cơ quan Nhà
nước, các tiêu chuẩn môi trường liên quan đến đề tài nghiên cứu, các khóa luận, báo
cáo nghiên cứu, tìm hiểu thông tin trên báo chí và báo điện tử.
- Mục đích của phương pháp:
Thu thập tài liệu thứ cấp, hệ thống hóa cơ sở lý luận có liên quan từ đó đánh giá
những yếu tố thuận lợi, khó khăn trong quá trình tiến hành dự án sao cho phù hợp với
điều kiện thực tế.
Hệ thống tài liệu, số liệu sẵn có về đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa
phương, số liệu về hiện trạng sản xuất RAT và những tài liệu có liên quan.
Phân tích, đánh giá các số liệu sẵn có, với những số liệu về chất lượng sản phẩm
cũng như nhu cầu thị trường đối với rau đạt tiêu chuẩn chất lượng an toàn. Việc phân
tích, đánh giá đi kèm với việc đối chiếu, so sánh với tiêu chuẩn môi trường tương