BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI
TIÊU DÙNG TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
ĐINH NGỌC THÙY
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN AM HIỂU
HÀ NỘI – 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu, tư liệu được sử dụng trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc
và xuất xứ rõ ràng. Những kết quả khoa học của Luận văn chưa được công bố
trong bất kỳ công trình nào.
Hà Nội, ngày 31 tháng 12 năm 2019
Tác giả luận văn
Đinh Ngọc Thùy
LỜI CẢM ƠN
1.1.2. Đặc điểm của thương mại điện tử. ....................................................................8
1.2. Bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động thương mại điện tử. ...........................10
1.2.1. Khái niệm người tiêu dùng..............................................................................10
1.2.2. Sự cần thiết phải bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động thương mại điện tử.
...................................................................................................................................11
1.3. Khái quát pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động thương mại điện
tử một số nước trên thế giới. .....................................................................................13
1.4. Khái niệm, nội dung pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động thương
mại điện tử. ................................................................................................................18
1.4.1. Khái niệm pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động thương mại điện
tử................................................................................................................................18
1.4.2. Nội dung pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động thương mại điện
tử................................................................................................................................21
1.5. Kinh nghiệm pháp luật bảo vệ NTD trong thương mại điện tử ở một số quốc
gia trên thế giới đối với Việt Nam. ...........................................................................24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ........................................................................................26
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI
TIÊU DÙNG TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT
NAM………………………………………………………………………………27
2.1. Quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng trong hoạt động thương mại điện tử. .27
2.1.1. Quyền của NTD trong hoạt động thương mại điện tử. ...................................27
2.1.2. Nghĩa vụ của NTD trong hoạt động thương mại điện tử ................................32
2.2. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với người tiêu dùng trong
hoạt động thương mại điện tử. ..................................................................................34
2.2.1. Trách nhiệm bảo vệ thông tin của người tiêu dùng. .......................................34
2.2.2. Trách nhiệm cung cấp thông tin cho người tiêu dùng. ...................................36
2.2.3. Trách nhiệm cung cấp bằng chứng giao dịch cho người tiêu dùng. ...............39
2.2.4.Trách nhiệm bảo đảm chất lượng vật mua bán. ...............................................40
hoạt động thương mại điện tử. ..................................................................................84
3.2.1. Yêu cầu điều chỉnh pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt
động thương mại điện tử. ..........................................................................................84
3.2.2. Đảm bảo nội dung cơ bản và tính đặc thù của pháp luật bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng trong hoạt động thương mại điện tử. ..............................................85
3.2.3. Đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ với pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng trong hoạt động thương mại điện tử và tương thích với các cam kết quốc tế. .86
3.3. Một số kiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng trong hoạt động thương mại điện tử. ................................................................86
3.3.1. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
trong hoạt động thương mại điện tử. .........................................................................86
3.3.2. Một số kiến nghị về các giải pháp thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng trong hoạt động thương mại điện tử ..........................................................89
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ........................................................................................93
KẾT LUẬN ..............................................................................................................94
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TMĐT
Thương mại điện tử
NTD
Người tiêu dùng
BLDS
đang phát triển mạnh mẽ nhưng các quy định về cơ chế bảo vệ người tiêu dùng vẫn
1
còn nhiều hạn chế làm cho môi trường giao dịch thương mại điện tử ở Việt Nam
diễn biến theo hướng không có tổ chức. Vì vậy, rất nhiều vụ vi phạm quyền lợi
người tiêu dùng đã diễn ra gây tâm lý e ngại cho người tiêu dùng khi tham gia các
giao dịch thương mại điện tử ảnh hưởng đến các hoạt động phát triển kinh tế, xã
hội.
Thực tế để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động thương mại
điện tử, Nhà nước đã đưa những nội dung này vào trong các văn bản pháp luật như:
Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010; Luật Giao dịch điện tử năm 2005;
Luật An toàn thông tin mạng năm 2015… và các văn bản dưới luật có liên quan
nhưng đây mới chỉ là những quy định áp dụng chung cho tất cả các loại giao dịch
mà chưa có quy định áp dụng riêng rẽ về việc giao kết hợp đồng giữa người tiêu
dùng và tổ chức cá nhân kinh doanh qua phương tiện điện tử. Luật Giao dịch điện tử
năm 2005 đã bước đầu tạo dựng khung pháp lý cho các giao dịch điện tử nói chung
tuy nhiên Luật lại không đề cập đến những vẫn đề về bảo vệ người tiêu dùng trong
loại giao dịch đặc thù này. Có thể thấy vẫn đề bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt
động thương mại điện tử ở Việt Nam được quy định rải rác trong nhiều văn bản
pháp luật khác nhau với những phạm vi điều chỉnh và mục đích điều chỉnh khác
nhau còn nội dung thì chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ người tiêu dùng khi quyền
lợi của họ bị xâm phạm. Mặt khác, các thiết chế Nhà nước tỏ ra rất yếu kém, có vai
trò khá mờ nhạt trong việc thực hiện chức năng của mình và vấn đề bảo vệ người
tiêu dùng trong hoạt động thương mại điện tử ở Việt Nam còn rất mới mẻ ở Việt
Nam.
Trước tình hình thực tiễn như vậy, tôi chọn đề tài “Pháp luật bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng trong hoạt động thương mại điện tử ở Việt Nam” làm đề tài luận
văn thạc sỹ của mình .
- Trần Văn Biên “Những vấn đề pháp lý về giao kết hợp đồng điện tử” Tạp
chí Toàn án nhân dân số 01/2007.
3
- Dương Thị Mai Ngọc (2009), Pháp luật về thương mại điện tử ở Việt NamThực trạng và phương hướng hoàn thiện” Luận văn thạc sỹ luật học, Trường đại
học Luật Hà Nội.
- Nguyễn Thị Ngọc Anh (2016), Pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam
trong xu thế hội nhập quốc tế” Luận văn thạc sĩ luật học, Trường đại học Luật Hà
Nội.
- N.H, “Pháp luật của các nước trên thế giới về bảo vệ người tiêu dùng”, Tạp
chí Bưu chính và Viễn thông, website: tapchibcvt.gov.vn, 2015;
Có thể thấy các công trình trên mới đưa ra những vấn đề về bảo vệ người tiêu
dùng khi tham gia giao dịch qua mạng điện tử hoặc bảo vệ NTD dưới góc độ một
quyền nói chung được pháp luật bảo vệ. Số lượng các nghiên cứu chuyên sâu về
bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động TMĐT còn rất hạn chế và chỉ nghiên cứu
một vài khía cạnh của quyền này chứ chưa nghiên cứu thành hệ thống. Luận văn
muốnnghiên cứu một cách chuyên sâu về các vấn đề pháp lý bảo vệ người tiêu dùng
trong hoạt động TMĐT ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài.
Mục đích của đề tài là nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về bảo vệ
người tiêu dùng trong hoạt động thương mại điện tử trong mối liên hệ thực tiễn. Từ
đó kịp thời phát hiện những quy định thiếu tính cụ thể và không phù hợp cũng như
tìm ra những bất cập trong việc thực thi trên thực tế. Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp
hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật đối với vấn đề này,
đảm bảo chi việc bảo vệ người tiêu dùng được thực hiện trên thực tế.
Nhiệm vụ của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận về bảo vệ người
tiêu dùng trong giao dịch điện tử, các nội dung cơ bản của pháp luật về bảo vệ
người tiêu dùng trong giao dịch điện tử trong mối liên hệ với thực tế. Thông qua đó,
phương pháp phân tích và tổng hợp là phương pháp được sử dụng nhiều nhất trong
luận văn.
5
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Qua công trình nghiên cứu chuyên sâu của đề tài đã góp phần đem lại giá trị
rất lớn về lý luận và thực tiển cho NTD trong việc tham giacác giao dịch thương
mại điện tử, hậu quả pháp lý từ các giao dịch này mạng lại, từ đó giúp cho NTD
thận trọng hơn để bảo vệ quyền lợi cho mình, tránh được những rủi ro có thể xảy ra,
vì trong tất cả NTD thì họ đều là người thế yếu. Đồng thời giúp cho NTD hiểu biết
được pháp luật, biết cách lựa chọn cho mình hình thức giải quyết khi phát sinh tranh
chấp. Thông qua việc làm rõ những quy định, những bất cập của pháp luật trong
việc giải quyết các tranh chấp xuất phát từ các giao dịch thương mại điện tử đã giúp
cho người viết đề tài này tìm ra những biện pháp hữu hiệu để hoàn thiện pháp luật
trong thời gian tới, nhằm đem lại kết quả cuối cùng là bảo vệ NTD trong các hoạt
động thương mại điện tử.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, luận văn bao gồm 3 chương được kết cấu
như sau:
Chương 1: Một số vấn đề chung về thương mại điện tử và pháp luật bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động thương mại điện tử.
Chương 2: Thực trạng pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt
động thương mại điện tử ở Việt Nam.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
trong hoạt động thương mại điện tử và giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng trong hoạt động thương mại điện tử.
6
Theo Luật mẫu của UNCITRAL về thương mại điện tử năm 1996 thì TMĐT
là việc sử dụng “thông tin dưới dạng một thông điệp dữ liệu trong khuôn khổ các
hoạt động thương mại”. Còn thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, gửi đi, tiếp
nhận hoặc lưu trữ bằng phương tiện điện tử, quang học và các phương tiện tương tự
bao gồm nhưng không hạn chế ở, trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), thư điện tử, điện
tín, điện báo hoặc fax. 1
Pháp luật Việt Nam không đưa ra khái niệm thương mại điện tử mà chỉ có
khái niệm về giao dịch điện tử được quy định trong Luật Giao dịch điện tử năm
2005. Điều 4 khoản 6 Luật giao dịch điện tử quy định: “Giao dịch điện tử là giao
dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử”, và Điều 4 khoản 10 quy định:
“Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử kỹ
thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện tử hoặc công nghệ tương
tự”. Từ khái niệm giao dịch điện tử, có thể hiệu hoạt động thương mại điện tử là các
hoạt động thương mại được thực hiện bằng phương tiện điện tử.
1.1.2. Đặc điểm của thương mại điện tử.
Thứ nhất, các bên trong giao dịch điện tử không trực tiếp tiếp xúc với nhau
mà thực hiện giao dịch qua phương tiện điện tử. Trong các giao dịch truyền thống
các bên phải gặp gỡ nhau trực tiếp để tiến hành đàm phán và ký kết hợp đồng. Còn
trong giao dịch điện tử nhờ việc sử dụng các phương tiện điện tử có kết nối với
mạng toàn cầu, chủ yếu là sử dụng mạng Internet, nên các bên tham gia vào giao
dịch không phải gặp gỡ nhau trực tiếp mà vẫn có thể đàm phán, giao dịch được với
nhau dù cho các bên tham gia giao dịch đang ở bất cứ quốc gia nào. Quá trình giao
kết hợp đồng có thể bao gồm nhiều bước từ tìm kiếm bạn hàng, giới thiệu sản
phẩm, chào hàng, đàm phán hợp đồng, ký kết hợp đồng…. Nếu như được thực hiện
theo cách truyền thống, trực tiếp gặp mặt thì sẽ tốn rất nhiều thời gian và chi phí,
tuy nhiên, chỉ cần sử dụng phương tiện điện tử là các bên đã có thể thực hiện tất cả
quá trình trên trong thời gian ngắn và không cần thiết phải tiếp xúc với nhau, tiết
1
Thứ tư, hoạt động thương mại điện tử mang tính rủi ro cao hơn hoạt động
thương mại thông thường.
Đặc điểm này xuất phát từ nguyên nhân do các bên trong giao dịch không
trực tiếp gặp nhau mà mọi giao dịch được thực hiện qua phương tiện trung gian.
Việc kiểm chứng chất lượng hàng hóa dịch vụ cũng khó được như ý muốn người sử
9
dụng. Người tiêu dùng cũng dễ bị lừa do thiếu hiểu biết về cách thức giao dịch trên
phương tiện điện tử mà mình đang sử dụng. Do đó, để thực hiện giao dịch điện tử
đòi hỏi các bên phải có một trình độ nhất định trong việc sử dụng các phương tiện
kỹ thuật này nhằm tránh các sai sót có thể xảy ra khi giao dịch. Đồng thời cần phải
xây dựng và không ngừng nâng cao trình độ công nghệ thông qua việc phát triển cơ
sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động TMĐT như mạng máy tính băng thông rộng hay
mạng không dây…
1.2. Bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động thương mại điện tử.
1.2.1. Khái niệm người tiêu dùng
Dưới góc độ kinh tế, NTD (consumer) là một phạm trù khá rộng chỉ chủ thể
tiêu thụ của cải được tạo ra bởi nền kinh tế. NTD là người mua nhưng khác với việc
mua nguyên liệu (materials) hoặc mua hàng để bán lại, họ là những người sử dụng
hàng hóa, dịch vụ cuối cùng (consumer goods/services hoặc final goods/services) và
làm chúng tiêu hao hoặc biến mất qua việc sử dụng đó.
Dưới góc độ pháp lý, qua nghiên cứu pháp luật của nhiều nước trên thế giới,
có thể nhận thầy rằng nhà làm luật các nước có hai quan điểm khác nhau về khái
niệm NTD:
Quan điểm thứ nhất, chỉ quy định NTD là thể nhân (hoặc cá nhân) mua, sử
dụng hàng hóa dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, đây là cách quy định của châu Âu2
và Quebec. Cách quy định này thể hiện rõ luật bảo vệ NTD chỉ bảo vệ đối với cá
nhân, còn pháp nhân do họ có những vị thể và điều kiện tốt hơn so với cá nhân
phương tiện điện tử, NTD phải đối mặt với những rủi ro rất lớn. Do đó, đòi hỏi phải
có sự can thiệp của pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NTD.
Như một hệ quả của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào cuộc sống, việc mua
sắm của NTD đã có những thay đổi căn bản. Sự có mặt của các phương tiện điện tử
như điện thoại, máy tính và mạng internet khiến cho giao dịch điện tử có được
những lợi thế đáng kể so với hình thức giao dịch truyền thống. Interner giúp cho
NTD và doanh nghiệp có thể ký kết hợp đồng, trao đổi và nhận hàng hóa từ bất cứ
nơi nào trên thế giới. Tuy nhiên, cũng như trong giao dịch truyền thống, NTD luôn
Bộ Công thương (2010), Báo cáo tóm tắt của Bộ Công thương về kinh nghiệm quốc tế về xây dựng pháp
luật bảo vệ người tiêu dùng và đề xuất cho Việt Nam
3
11
ở trong vị trí “yếu thế” hơn so với thương nhân. NTD thường bị hạn chế về thông
tin, về khả năng, trình độ chuyên môn nên luôn gặp những rủi ro khi đàm phán, giao
kết hợp đồng với các cá nhân, tổ chức kinh doanh. Mặt khác, tính đặc thù của giao
dịch qua phương tiện điện tử là các bên không trực tiếp tiếp xúc với nhau, chính vì
lẽ đó mà NTD khi giao kết hợp đồng mua bán với thương thương nhân qua phương
tiện điện tử càng ở một vị thế mong manh hơn nhiều.
Thứ hai, thực trạng tổ chức, cá nhân kinh doanh lợi dụng sự thiếu hiểu biết
của NTD để thực hiện các hành vi xâm phạm quyền, lợi ích của NTD ngày càng
phổi biến và tinh vi. Các hành vi vi phạm chủ yếu là không giao hàng cho NTD theo
thỏa thuận, hoàng hóa có chất lượng kém, không cung cấp đầy đủ thông tin về hàng
hóa, dịch vụ cung cấp…Có thể thấy rằng trong quan hệ giữ NTD và nhà sản xuất,
kinh doanh thì NTD luôn ở thế yếu bởi NTD thường là cá nhân riêng lẻ trong khi đó
các nhà sản xuất, kinh doanh thường là những tổ chức có cơ cấu chặt chẽ. NTD
không thể hiểu rõ tất cả các khâu trong quá trình sản xuất đến khâu tiêu thụ sản
phẩm do đó, trong trường hợp hàng hóa đến tay NTD có lỗi thì NTD không biết yêu
cá nhân kinh doanh sản xuất hàng hóa dịch vụ của chính NTD trong việc đảm bảo
cho những quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của họ. Việc bảo vệ quyền lợi
NTD đang ngày càng trở thành một vấn đề có tính cấp thiết và thu hút được sự quan
tâm của các cơ quan hữu quan cũng như của toàn xã hội.
1.3. Khái quát pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động
thương mại điện tử một số nước trên thế giới.
Các phương tiện điện tử như điện thoại, fax… và đặc biệt là interner đã cung
cấp cho NTD một công cụ mạnh mẽ để tìm kiếm và mua sắm hàng hóa, dịch vụ.
Lợi ích của việc mua sắm thông qua các phương tiện điện tử đó là NTD mua được
những sản phẩm có chất lượng tốt hơn, giá thành lại rẻ hơn đồng thời có thể dễ dàng
mua hàng hóa, dịch vụ từ các tổ chức, cá nhân kinh doanh ở các nơi khác nhau trên
thế giới. Với những lợi ích của hoạt động thương mại điện tử đối với nền kinh tế và
NTD, pháp luật của nhiều nước trên thế giới đã có sự điều chỉnh kịp thời vấn đề bảo
vệ NTD trong hoạt động thương mại điện tử với thương nhân, đảm bảo các tổ chức,
cá nhân kinh doanh phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình với NTD, từ đó gây
dựng lòng tin của NTD trong các giao dịch trực tuyến đặc biệt trong các vấn đề bảo
mật thông tin, cung cấp thông tin cho NTD.Điển hình như một số nước:
13
- Pháp luật bảo vệ NTD trong thương mại điện tử ở Malaysia4
Tổ chức hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC) mà Malaysia là
thành viên đã bắt đầu một chỉ đạo chương trình nhóm thương mại điện tử (ECSG)
để tối đa hóa lợi ích của thương mại điện tử cho doanh nghiệp trong khu vực APEC,
trong đó bao gồm làm việc trên dữ liệu riêng, bảo vệ người tiêu dùng, an ninh
mạng, kinh doanh không cần giấy tờ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương
mại và vấn đề chống thư rác. Nền kinh tế của nhóm các nước thành viên cũng đã
đồng ý tăng cường hợp tác với Tổ chức kinh tế hợp tác và phát triển (OECD) và
kinh doanh Đối thoại toàn cầu về điện tử Thương mại (GBDe), hai cơ quan hàng
Canada thiết lập các tiêu chuẩn hành nghề kinh doanh tốt cho các thương nhân tiến
hành hoạt động thương mại với người tiêu dùng trực tuyến. Bộ Luật giữ nguyên
không thay đổi các quyền và biện pháp khắc phục hậu quả và nghĩa vụ khác mà các
nhà cung cấp có thể tự nguyện đăng ký để bảo vệ người tiêu dùng, bảo mật thông
tin cá nhân.
Nhóm công tác về thương mại điện tử và người tiêu dùng bao gồm đại diện
của các thành phần khác nhau của nền kinh tế được thành lập vào mùa thu năm
1999 để phát triển luật dựa trên các nguyên tắc bảo vệ người tiêu dùng trong thương
mại điện tử: Một khuôn khổ Canada đã được phê duyệt tháng 8 năm 1999. Luật này
cũng phù hợp với Hướng dẫn bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử của
các tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế. Phiên bản dự thảo của Bộ luật là đối
tượng của tham vấn rộng rãi trong thời gian 2001-2002. Trong tháng 1 năm 2003,
nhóm công tác đã thông qua Bộ luật về nguyên tắc như là một mô hình cho việc bảo
vệ hiệu quả người tiêu dùng trong thương mại điện tử. Mùa xuân năm 2003, Bộ luật
trải qua thử nghiệm thí điểm một số thành viên trong khu vực tư nhân. Bộ luật được
xem xét và hoàn thiện bởi Ủy ban quản trị và đánh giá thương mại điện tử.
Bộ luật đã được thông qua bởi Bộ trưởng liên bang, tỉnh và lãnh thổ chịu
trách nhiệm trong lĩnh vực người tiêu dùng vào ngày 16 tháng 01 năm 2004. Luật
này hiện nay là sự xác nhận mở cửa cho các tổ chức khu vực tư nhân và các tổ chức
người tiêu dùng cũng như đưa ra cho các tiêu chuẩn thực hành cho các thương nhân
hoạt động giao dịch với NTD qua phương tiện điện tử.
5
Canadian code of practice for consumer protection in Electronic commerce (http://cmcweb.ca)
15
Bộ luật sẽ được xem xét thường xuyên để đảm bảo sự liên quan của nó với
16
được quy định phù hợp với đặc thù của các hợp đồng được giao kết từ xa, dù dưới
hình thức điện thử hay hình thức khác. Tuy nhiên, trong Bộ luật tiêu dùng không có
quy định đặc thù về hợp đồng điện tử. Chỉ có Bộ luật dân sự là có một vài quy định
đặc thù về hợp đồng điện tử. Tuy nhiên, việc bảo vệ các bên giao kết hợp đồng
không dựa trên khái niệm bên yếu thế vì các quy định này cũng được áp dụng giữa
các cá nhân, tổ chức kinh doanh. Do đó, việc bảo vệ người tiêu dùng qua mạng điện
tử đòi hỏi phải kết hợp các quy định áp dụng đối với hợp đồng điện tử, hơp đồng
tiêu dùng và không loại trừ các quy định riêng về loại hợp đồng được ký kết thậm
chí cả các quy định pháp luật chung về hợp đồng.
Để bảo vệ người tiêu dùng, người tiêu dùng không chỉ được coi là một bên
giao kết hợp đồng mà còn được coi là một bên trong vụ kiện về tiêu dùng. Tuy
nhiên, cần lưu ý rằng lĩnh vực tiêu dùng thuộc thẩm quyền của tòa sơ thẩm mà thủ
tục trước tòa án này là thủ tục bằng lời và không bắt buộc phải có người đại diện
nên thủ tục này trở nên khó tiến hành hơn. Trong các vụ kiện này, người tiêu dùng
thường tham gia một mình hiếm có sự trợ giúp của luật sư, trong khi đó phải viện
dẫn các căn cứ pháp lý để bảo vệ lập luận, yêu cầu của mình. Đương nhiên, việc này
không bắt buộc nhưng không có nhiều người đưa ra các căn cứ này trước tòa án.
Hiện nay, các phương thức điện tử giải quyết tranh chấp đang phát triển trên
quy mô lớn. Các phương thức thực hiện rất đa dạng tùy thuộc chủ yếu vào việc các
phương thức này do chính các doanh nghiệp hay các thiết chế đặc thù thực hiện.
Liên quan đến các tranh chấp về tiêu dùng có thể hình dung đến cơ chế square trade
cho phép giải quyết theo thỏa thuận các tranh chấp liên quan đến việc sử dụng trang
web Ebay. Về mặt thể chế, hệ thống ECODIR Electronic Consumer Dispute
Resolution do Liên minh châu Âu tài trợ và các bên giao kết hợp đồng được truy
cập miễn phí là một phương thức giải quyết tranh chấp thay thế hấp dẫn. Tuy
nhiên, các thủ tục cần tiến hành rất khác nhau giữa các hệ thống pháp luật khác
nhau khi mà hiện nay các hệ thống này vẫn chưa có một khuôn khổ pháp lý đầy đủ
Nghị định số 69/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi
NTD là những văn bản pháp lý đầu tiên quy định những quyền, trách nhiệm và
nghĩa vụ của NTD; trách nhiệm của các ngành, các cấp chính quyền, trách nhiệm
18