Tư tưởng pháp quyền của Hàn Phi và Aristotle - Giá trị và bài học lịch sử đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay - Pdf 62

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN

Số 14 (39) - Tháng 3/2016

Tư tưởng pháp quyền của Hàn Phi và Aristotle Giá trị và bài học lịch sử đối với việc xây dựng Nhà nước
pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Han Fei and Aristotle’s rule of law thought – Values and history lessons for the
building of the socialist rule of law state of Viet Nam today
ThS. Đỗ Thị Thùy Trang
Trường Đại học Tài chính - Kế tốn
TS. Võ Văn Dũng
Trường Đại học Khánh H a
M.A. Do Thi Thuy Trang
University of Finance and Accountancy
Ph.D. Vo Van Dung
The University of Khanh Hoa
Tóm tắt
Cùng với sự vận động và biến đổi khơng ngừng của lịch sử xã hội, nhận thức của con người được nâng
cao, tư tưởng pháp quyền đã xuất hiện ngay từ thời cổ đại và ngày càng chiếm ưu thế. Dòng chảy tư
tưởng pháp quyền của nhân loại được khơi nguồn bởi các triết gia nổi tiếng như: Hàn Phi và Aristotle.
Trong bài viết này, chúng tơi tập trung phân tích tư tưởng pháp quyền của Hàn Phi và Aristotle; từ đó,
rút ra những giá trị và bài học lịch sử đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: pháp quyền, Hàn Phi, Aristotle, giá trị, bài học lịch sử, nhà nước, xã hội chủ nghĩa...
Abstract
Along with the movement and continuous change of social history, human awareness is enhanced, the
rule of law thought has appeared since ancient times and has been increasingly dominant. The currents
of human’s rule of law thought have been inspired by the famous philosophers as: Han Fei and
Aristotle. In this article, we focus on analyzing the rule of law thought of Han Fei and Aristotle; from
which, we draw the values and history lessons on building The Socialist Rule of law State of Vietnam
today.
Key words: rule of law, Han Fei, Aristotle, values, history lessons, State, Socialist…

quyền của Hàn Phi ra đời thể hiện một
bước tiến nhất định trong quá trình hoàn
thiện nhà nước, đặc biệt là góp phần
củng cố mối quan hệ giữa nhà nước với
nhân dân.
Aristotle (384 - 322 tr. CN) là triết gia
nổi tiếng và là bộ óc bách khoa của nền
khoa học và triết học Hy Lạp cổ đại. Ông
là người sáng lập ra khoa học chính trị bởi
những cống hiến vĩ đại trong lĩnh vực nhà
nước và pháp quyền. Suốt cả cuộc đời,
Aristotle đã đi đến rất nhiều nơi, trải
nghiệm được rất nhiều điều, tận mắt chứng
kiến những diễn biến chính trị tại nhiều thị
quốc. Chính sự dày công tìm tòi, bám sát
thực tiễn đầy biến động trong đời sống
chính trị kết hợp với lượng lớn tri thức
được tích lũy từ trước, cùng những suy tư
trăn trở của triết gia đã giúp ông vạch ra
được những tư tưởng mang ý nghĩa lớn lao
mà người đời sau phải kính nể.
Xã hội Hy Lạp thời kỳ chiếm hữu nô
lệ chứa đựng bên trong những mâu thuẫn

gay gắt làm nảy sinh những trường phái,
tầng lớp, lực lượng đối lập nhau do lợi ích
giai cấp. Cùng với nó là sự khủng hoảng và
suy yếu của nền dân chủ Athens – đã từng
được ca ngợi là sự thể nghiệm đầu tiên của
nhân loại về mô hình nhà nước dân chủ.

của Hàn Phi và Aristotle
Tư tưởng pháp quyền của Hàn Phi
Tư tưởng pháp quyền của Hàn Phi
được thể hiện rõ trong quan niệm về nhà
nước (với đại diện là vua), về nhân dân và
mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân.
116


gắn kết mối quan hệ giữa nhà nước với
nhân dân trở nên vững chắc hơn thì Hàn
Phi chủ trương dùng đạo. “Đạo của bậc
vua sáng là làm đúng pháp luật. Pháp luật
của ông ta hợp với l ng người. Cho nên
khi cai trị thì theo đúng pháp luật, khi rời
b thì nghĩ đến đạo” [6, tr. 2 6]. Việc giáo
hóa dân cũng như trồng cây. Nếu “trồng
cây lê, cây quýt thì lúc ăn được quả ngọt,
lúc ngửi, được mùi thơm. Trồng cây chỉ
cúc thì khi lớn lên gai đâm người. Cho nên
người quân tử cẩn trọng trong việc trồng
cây gì” [6, tr. 361]. Theo tư tưởng Hàn
Phi, việc trồng người là việc làm vô cùng
quan trọng của nhà vua, nó quyết định đến
sự thịnh suy của một nước. Do vậy, nhà
vua phải đặt ra pháp chế để dân không
phạm phải những lỗi lầm. Như vậy, nếu
trên dùng hình phạt thì bọn gian đều chấm
dứt, bọn gian không c n thì sẽ có lợi cho
dân. “Dùng pháp luật làm cho người ta

thưởng nhưng lại không cho; miệng nói
trừng phạt nhưng lại không thi hành.
Thưởng phạt đều không chắc như đã nói
cho nên dân không liều chết” [6, tr. 28].
Ông nhận thức được nhân dân có vai trò
to lớn trong quá trình xây dựng và bảo vệ
đất nước.
Hàn Phi đề cao vai tr của dân. Ông
nói, “nếu không có đất, không có dân, thì
Nghiêu Thuấn cũng không thể làm vương”
[6, tr. 161]. Sở dĩ nhà vua được yêu và tôn
quý là vì; “bậc vua chúa được thiên hạ nhất
trí ra sức cùng nâng đỡ cho nên yêu. ọi
người cùng đồng l ng lập ông ta lên cho
nên ông ta được tôn quý” [6, tr. 257]. Do
vậy, người làm vua nếu không biết yêu dân
nước mình mà đi yêu dân nước khác, thì
dân trong nước không ủng hộ ông ta. Từ
đó, ông chủ trương, “vua và tôi thân yêu
nhau, cha và con giữ gìn cho nhau” [6, tr.
13 ]. Người làm vua phải nghĩ đến dân,
phải lấy cái lợi lớn của dân đặt lên hàng
đầu, không nên ham cái lợi nh mà hại đến
cái lợi lớn. Trong nước, nếu sưu dịch nhiều
thì dân khổ, dân khổ thì k có quyền thế
nổi lên dẫn đến sưu dịch ngày một tăng. Để
làm cho dân bớt khổ thì nhà vua phải giảm
sưu dịch.
Nhà vua đối với dân thì phải giữ chữ
tín. Nếu “điều tín nh giữ được thì điều tín

nhà nước mới trị an. Việc thưởng phạt phải
“khiến cho k mạnh không lấn át người
yếu, k đông không xúc phạm số ít, người
già cả được th a l ng, người tr và cô độc
được trưởng thành, biên giới không bị xâm
phạm” [6, tr. 13 ]. Khi thưởng phải x t đến
công lao. Nếu nhà vua thưởng những người
không có công thì dân oán thán, vì của cải
hết. “Dùng thưởng mà sai lầm là b mất
dân, dùng hình phạt mà sai lầm thì dân
không sợ. Có thưởng nhưng không đủ để
khuyến khích, có phạt nhưng không đủ để
ngăn cấm thì dù nước có lớn cũng nguy”
[6, tr. 162]. Hình phạt và khen thưởng
không được x t rõ thì dân không có công
mà lại cầu được thưởng, có tội mà mong
được tha. Việc thưởng phạt của nhà vua là
tùy theo chỗ làm đúng hay sai. Nếu người
làm vua “miệng nói khen thưởng nhưng lại

không cho; miệng nói trừng phạt nhưng lại
không thi hành. Thưởng và phạt không
chắc chắn” [6, tr. 28] thì dân không tin.
uốn dân tin trước hết vua biết b điều
riêng tư, cong quẹo, mà theo ph p công thì
dân sẽ được yên mà nước sẽ được trị.
Từ sự phân tích trên cho thấy những
yếu tố pháp quyền trong tư tưởng của Hàn
Phi. Ông đã đánh giá rất cao vai tr của
dân, ông khẳng định “làm vua mà không có

những mục đích của cuộc sống; nhưng
đồng thời, chính những ước vọng cao đẹp
118


đó sẽ là điều kiện để duy trì sự tồn tại của
nhà nước đó.
Con người “tự bản chất là một động
vật chính trị” [1, p. 5], tồn tại với tư cách là
một bộ phận gắn bó, không thể tách rời của
nhà nước. Chỉ có thể sống trong một cộng
đồng nhà nước, tạo nên một liên hợp bao
gồm nhiều cá nhân với nhau, con người
mới có thể th a mãn được những nhu cầu
và được hưởng đầy đủ những quyền công
dân của mình. Quyền công dân được thể
hiện rõ trong vai tr mà nhà nước mang lại.
Trước hết, mục đích tối cao của việc hình
thành và duy trì sự tồn tại của nhà nước là
mang lại cuộc sống tốt cho con người.
Aristotle đã lấy tiêu chuẩn để xác định các
hình thức nhà nước kiểu mẫu là khả năng
phụng sự lợi ích chung. Thể chế nhà nước
nào lấy lợi ích xã hội làm cứu cánh, thì
được liệt vào hình thức kiểu mẫu; ngược
lại, thể chế nhà nước nào tuyệt đối hóa
quyền lực của cá nhân hay của một nhóm
thiểu số thì bị quy về hình thức lệch lạc.
Tiếp đến, nhà nước phải có vai tr đào tạo
công dân về mặt đức hạnh. Nhiệm vụ chính

năng nhận thức điều tốt và điều xấu, công
bằng và bất công, nên sự xuất hiện của nhà
nước được bắt nguồn trực tiếp từ nhu cầu
quản lý cộng đồng, quản lý xã hội, vì nếu
không có sự quản lý thì con người không
thể sống và sống tốt được, không có sự an
toàn cho mọi người. Sự ra đời của nhà
nước như là nhu cầu tất yếu để th a mãn
khát vọng sống và sống tốt đẹp hơn trong
trật tự và văn minh. “Bởi vì con người, khi
đã hoàn thiện, là động vật cao nhất, nhưng
khi tách rời kh i luật pháp và công lý, thì
con người là động vật tồi tệ nhất, bởi vì sự
bất công được trang bị kỹ là nguy hiểm
hơn, và con người từ khi sinh ra đã có đôi
tay nghĩa là có sự thông minh và đạo đức,
những điều này có thể được con người sử
dụng cho những mục đích tồi. Vậy nên,
nếu con người không có đức hạnh, thì con
người là động vật xấu xa và man rợ nhất,
tham lam và ham muốn nhiều. Tuy nhiên,
công lý là dây buộc của con người trong
các nhà nước, vì quản lý sự công bằng,
quyết định công bằng là gì, đó là nguyên
tắc thiết lập trật tự trong xã hội chính trị”
[1, p. 6].
Để đảm bảo pháp quyền có hiệu quả,
theo Aristotle, cần phải có một hệ thống
các cơ quan chính quyền cần thiết và một
mạng lưới pháp luật để quản lý con người

phá vỡ, xã hội sớm hay muộn sẽ rơi vào
vòng loạn lac.
ối quan hệ không tách rời giữa công
dân với nhà nước là mối quan hệ hai chiều
và có tác động biện chứng lẫn nhau; do đó,
mối quan hệ này không chỉ được thể hiện ở
những quyền lợi mà nhà nước mang lại cho
công dân mà c n thể hiện ở nghĩa vụ công
dân phải thực hiện đối với nhà nước. Con
người chỉ có thể tồn tại với tư cách là
“động vật chính trị”, là thành viên của xã
hội và tham gia tích cực vào các hoạt động
xã hội; do đó cần phải có ý thức về bản
thân và trách nhiệm đối với xã hội. Nhiệm
vụ của công dân là giữ cho sự an toàn của

chế độ. Aristotle xem đó là phẩm chất, là
đức hạnh chung của mọi công dân.
Như vậy, người công dân trong quan
điểm của Aristotle không chỉ có những
quyền nhất định mà c n phải có nghĩa vụ
đối với nhà nước. Nhà nước phải đảm bảo
lợi ích chung và mang lại cuộc sống tốt đẹp
cho những công dân của mình; và ngược
lại, công dân phải có những nhiệm vụ nhất
định đối với nhà nước (trong đó nhiệm vụ
cao nhất là tránh làm những việc ảnh
hưởng đến sự tồn vong của chế độ). Như
vậy, mối quan hệ giữa nhà nước và công
dân là sự tương quan hai chiều, quyền lợi


cầu cấp bách mà thời đại ông đặt ra. Bối
cảnh lịch sử và dấu ấn đẳng cấp được in
đậm trong tư tưởng, tư tưởng pháp quyền
của cả hai ông đều thể hiện khát vọng
hướng đến một xã hội thịnh trị, một nhà
nước tốt đẹp nhất dành cho con người.
Tư tưởng pháp quyền là đ i h i vô
cùng bách cấp trong bối cảnh xã hội rơi
vào loạn lạc. Vì thế, nó góp phần tạo ra
hiệu quả to lớn cho học thuyết chính trị của
Hàn Phi và Aristotle. Tư tưởng của cả hai
ông đều được trọng dụng và được ứng
dụng vào mô hình nhà nước cụ thể (tuy nó
còn mang tính sơ khai). Trên thực tế, tư
tưởng chính trị của Hàn Phi đã giúp cho
Tần Thủy Hoàng thống nhất được Trung
Hoa, thành lập nên nhà nước phong kiến
trung ương tập quyền, chấm dứt một thời
kỳ dài phân quyền loạn lạc; c n tư tưởng
chính trị Aristotle đã góp phần giúp cho
học trò của ông – Alexander Đại đế trở
thành vị tướng thành công nhất trong lịch
sử nhân loại, người đã chinh phục gần như
toàn bộ thế giới mà ông biết đến trước khi
qua đời. Thế mới biết được cái tài hoa và
những đóng góp to lớn của nhà tư tưởng
đối với lịch sử.
Giá trị thứ hai, tư tưởng pháp quyền
của Hàn Phi và Aristotle đề cao mối quan

Cả hai người đều là những nhà pháp trị nổi
tiếng nên đã chủ trương sử dụng pháp luật
làm công cụ để gắn kết mối liên hệ giữa
nhà nước với nhân dân. Nhà nước quản lý
các hoạt động xã hội và kiểm soát những
hành vi của dân chúng bằng hệ thống pháp
luật; đồng thời cũng thông qua pháp luật,
nhân dân được đảm bảo sự bình đẳng và
các quyền cơ bản của mình, ý thức được
nghĩa vụ và trách nhiệm của mình đối với
nhà nước.
Giá trị thứ ba, tư tưởng pháp quyền
của Hàn Phi và Aristotle hướng đến việc
củng cố bộ máy nhà nước vững mạnh
Để đảm bảo cho những giá trị của
pháp quyền được thực thi, Hàn Phi và
Aristotle đều đưa ra những biện pháp cụ
thể hết sức hữu hiệu. Nếu như Hàn Phi chủ
trương sử dụng hệ thống quan lại để giúp
vua quản lý xã hội, thực thi chính sách và
báo cáo tình hình thực tế; thì Aristotle lại
nêu lên sự cần thiết để thiết lập nên các cơ
quan chính quyền để theo dõi và giám sát
các hoạt động của nhà nước. Tư tưởng
quan lại phải hết lòng phụng sự và xây
dựng nước; đồng thời quan lại còn là phụ
121


mẫu của dân, chăm lo cho dân và đối xử

thống nhất
Tuy là một vấn đề được đặt ra từ thời
cổ đại, song tư tưởng pháp quyền, trong đó
việc đề cao tính nghiêm minh của pháp luật
không hề bị mất đi giá trị trong thời đại của
chúng ta. Trái lại, trong một xã hội văn
minh, nó càng thể hiện vai trò quyết định
đến việc tồn vong của chế độ nói riêng và
sự sống còn của quốc gia, dân tộc nói
chung. Nhìn vào hệ thống chính trị của
nước ta hôm nay, có thể thấy rõ điểm

tương đồng giữa chúng ta với cách tiếp cận
của Hàn Phi và Aristotle về vai trò của
pháp luật. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, với tất cả tính ưu việt của
mình, nhấn mạnh vai trò của pháp luật.
Chấp hành pháp luật cũng là cách thể hiện
dân chủ. Pháp luật là tối cao, việc tuân theo
pháp luật sẽ làm người dân trở nên bình
đẳng, được bảo vệ những quyền lợi chính
đáng; từ đó là cơ sở để tạo nên sự đồng
thuận xã hội. Do đó, chúng ta không coi
pháp luật như một công cụ cai trị, mà là
công cụ bảo vệ quyền lợi của người lao
động, của toàn thể nhân dân.
Trong thời đại ngày nay để giữ vững
ph p nước đ i h i nhà nước phải nhanh
chóng kiện toàn hệ thống pháp luật, phải
thống nhất pháp luật từ trung ương đến địa

truyền lại cho thời đại sau.
Bài học lịch sử thứ hai, phải đảm bảo
quyền làm chủ của nhân dân
Một trong những nội dung cơ bản của
tư tưởng pháp quyền là khẳng định quyền
của con người. Trong nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền của con
người trước hết được khẳng định qua
quyền làm chủ của nhân dân. Đây là một
trong những nguyên tắc đặc thù trong tổ
chức và hoạt động của bộ máy nhà nước xã
hội chủ nghĩa, xuất phát từ bản chất của
nhà nước xã hội chủ nghĩa. Quyền làm chủ
nhà nước của nhân dân cần phải được đảm
bảo bằng những quy định của Hiến pháp,
pháp luật; đồng thời, phải đảm bảo được
tôn trọng và thực hiện trên thực tế.
Hiến pháp là văn bản có giá trị pháp lý
cao nhất đã thừa nhận quyền làm chủ của
nhân dân, nó tiếp tục được khẳng định qua
nhiều lần sửa đổi Hiến pháp khác nhau và
trải qua những kì Đại hội Đảng, Đảng
Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định “Nhà
nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa. Cần xây dựng cơ chế vận hành của
nhà nước, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền
lực nhà nước đều thuộc về nhân dân”.
Quyền làm chủ của nhân dân được thể hiện
ở những nội dung chủ yếu sau: tham gia
bầu cử các đại biểu của mình vào Quốc hội

của nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi,
trên nhiều lĩnh vực và có nhiều nơi đã
thực hiện dân chủ nhưng chỉ mới là dân
chủ hình thức; tệ quan liêu, mệnh lệnh,
cửa quyền, tham nhũng, sách nhiễu, gây
phiền hà cho dân vẫn đang phổ biến và
nghiêm trọng mà chúng ta chưa đẩy lùi,
ngăn chặn được. Do đó, cần phải nghiêm
trị những hành vi nói trên để đảm bảo
quyền làm chủ của nhân dân.
Bài học lịch sử thứ ba, củng cố và tăng
cường mối quan hệ giữa nhà nước với
nhân dân
Tư tưởng pháp quyền của Hàn Phi và
Aristotle hàm chứa mối quan hệ giữa hai
lực lượng cơ bản của đời sống chính trị xã hội; đó là nhà nước và nhân dân. Tư
tưởng đó để lại cho chúng ta bài học lịch
sử to lớn; bởi ngày nay, Đảng – Nhà nước
cùng với nhân dân song hành trong công
cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, cùng nhau
thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa
123


đất nước; và chính nhân dân đã trở thành
những người chủ thực sự của quá trình đó.
Dân có giàu thì nước mới mạnh; bởi không
thể nói một đất nước giàu khi người dân
chưa đủ no, một đất nước dân chủ khi
người dân mất đi quyền tự chủ được. Trình

nhà nước vững mạnh. Từ những giá trị đó,
tư tưởng pháp quyền của Hàn Phi và
Aristotle để lại nhiều bài học bổ ích cho
Ngày nhận bài: 22/02/2016

quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Đó là
phải xây dựng một bộ máy nhà nước vững
mạnh với một hệ thống pháp luật chặt chẽ
và thống nhất, đảm bảo quyền làm chủ của
nhân dân, củng cố và tăng cường mối quan
hệ giữa nhà nước với nhân dân
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Aristotle (1999), The Politics, Translated in
to English by Benjamin Jowett, Batoche
Books, Kitchener.
2. Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê (2004), Đại
cương triết học Trung Quốc, Nxb. Thanh
Niên, thành phố Hồ Chí Minh.
3. Doãn Chính (chủ biên) (2003), Đại cương
lịch sử triết học Phương Đông cổ đại, Nxb.
Thanh Niên, Hà Nội.
4. Doãn Chính (2005), Triết lý phương Đông
giá trị và bài học lịch sử, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
5. Karl Jaspers (2004), Triết học nhập môn, Lê
Tôn Nghiêm dịch và giới thiệu, Nxb. Thuận
hóa, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông
Tây, Hà Nội, 2004.
6. Hàn Phi (2005), Hàn Phi Tử, Nxb. Văn học,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status