NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN QUI TRÌNH KIỂM TOÁN THUẾ GTGT TẠI CÔNG TY TNHH KPMG VIỆT NAM - Pdf 62

NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN QUI TRÌNH KIỂM
TOÁN THUẾ GTGT TẠI CÔNG TY TNHH KPMG VIỆT NAM
3.1 Nhận xét đối với qui trình kiểm toán thuế GTGT của công ty TNHH
KPMG Việt Nam
3.1.1 Nhận xét chung
Trong quá trình hội nhập toàn cầu của Việt Nam hiện nay, các công ty kiểm
toán đã thật sự phát huy vai trò của mình trong việc kiểm tra kiểm soát và góp
phần đảm bảo tính minh bạch trong hoạt dộng của thị trường. Trong suốt 13 năm
hoạt động, KPMG là một trong bốn công ty kiểm toán lớn nhất thế giới có mặt tại
Việt Nam cùng với phương pháp kiểm toán KAM được cập nhật bởi một bộ phận
kỹ thuật quốc tế, đảm bảo cho hoạt động kiểm toán KPMG có tính hệ thống và
hiệu quả.
Mặc dù vậy, từ thực tế môi trường hoạt động kiểm toán tại Việt Nam hiện
nay, ta nhận thấy công ty KPMG cũng gặp những khó khăn nhất dịnh trong quá
trình hoạt động, tạo ra sự hạn chế trong việc phát huy và hoàn thiện phương pháp
kiểm toán của mình.
▪ Từ phía Nhà nước
Sự ra đời của chuẩn mực kiểm toán Việt Nam đã góp phần cho hoạt động
kiểm toán nhưng cho tới nay chỉ có 27 chuẩn mực được ban hành. Mặt khác những
qui định, thông tư ban hành về chế độ kế toán thiếu thống nhất và luôn đổi mới,
nhiều trường hợp chưa phù hợp với thực tiễn thậm chí còn chông chéo, trái ngược
nhau. Thực tế trên khiến hoạt động kiểm toán tiến hành chưa đồng bộ và KTV gặp
nhiều khó khăn trong việc áp dụng các chuẩn mực kiểm toán, qui định của Việt
Nam và Quốc tế.
▪ Từ phía doanh nghiệp
Trong thời gian qua, khái niệm kiểm toán đã được nhắc đến thường xuyên
hơn, các doanh nghiệp đã hiểu rõ hơn vai trò của kiểm toán nhưng nhìn chung các
doanh nghiệp vẫn chưa thấy hết tầm quan trọng và sự cần thiếu của kiểm toán
BCTC đối với hoạt động kinh doanh của mình. Do đó còn nhiều doanh nghiệp
chưa thực hiện việc kiểm toán một cách tự nguyện mà thường được yêu cầu tiến
hành kiểm toán do đặc thù hoạt động kinh doanh và tính chất của doanh nghiệp ví

chuyên gia thuế và nhân viên phân tích rủi ro thông tin (IRM) để đảm bảo giải
quyết được những trường hợp phức tạp và tư vấn cho KTV những thông tin cập
nhật nhất về luật thuế hiện hành. Đặc biệt KPMG có hệ thống thông tin nội bộ để
cập nhật đầy đủ và kịp thời tất cả các văn bản thuế mới nhất để đảm bảo sự tiếp
cận của từng nhân viên đối với các luật thuế hiện hành và hỗ trợ tốt quá trình áp
dụng luật thuế vào kiểm toán thuế GTGT. Công ty đặc biệt chú trọng đến việc đào
tạo KTV qua các kì thực tập, các khóa hoc nhằm nâng cao kĩ thuật kiểm toán và
kiến thức chung (như đạo đức nghề nghiệp, công nghệ thông tin,…) và khóa học
ACCA.
Thứ hai, qui trình kiểm toán thuế GTGT kết hợp hiệu quả giữa các phần
hành: Thông thường qui trình kiểm toán được tiếp cận dựa vào các khoản mục
hoặc các chu trình. Qua thực tế kiểm toán của hai khách hàng A và B, KPMG kết
hợp cả hai cách tiếp cận này để phân chia các qui trình kiểm toán thành các phần
hành nhằm đảm bảo cho KTV tiếp cận BCTC nhanh và tốn ít chi phí. Trong quá
trình kiểm toán thuế GTGT, KPMG chú trọng tới sự phối hợp giữa các KTV thực
hiện các phần hành với nhau làm giảm bớt và tránh trùng lặp các thủ tục kiểm tra
chi tiết. KTV phụ trách phần hành này vừa đảm bảo được sự phân tách độc lập của
khoản mục thuế vừa kết hợp với các KTV khác trong nhóm trong việc phân tích
mối quan hệ chặt chẽ giữa thuế GTGT và các khoản mục liên quan như chi phí,
doanh thu, tài sản để kiểm tra được xu hướng và tính toán lại sự biến động của
thuế GTGT.
Thứ ba, qui trình kiểm toán thuế GTGT được thực hiện theo đúng kế
hoạch đã lập và áp dụng linh hoạt cho các khách thể kiểm toán. Qui trỉnh kiểm
toán được xây dựng cụ thể trong chương trình kiểm toán giúp nhóm kiểm toán
thực hiện công việc đúng trình tự, khoa học và rút ngắn thời gian đồng thời đảm
bảo dược sự bao quát của trưởng nhóm đến quá trình làm việc của các thành viên
trong nhóm. Quá trình này được thực hiện theo các giai đoạn sau:
• Giai đoạn lập kế hoạch
Các chuẩn mực kiểm toán quốc tế và chuẩn mực kiểm toán Việt Nam đã nêu
rõ vai trò quan trọng của việc lập kế hoạch được trong quá trình kiểm toán.Quá

mang tính chính xác cao. Báo cáo kiểm toán đảm bảo chất lượng về trình bày cũng
như sô liệu và được hoàn thiện đúng thời hạn kiểm toán. Mặt khác, đa số các
khách hàng lớn của KPMG là khách hàng nước ngoài, nên việc ra báo cáo kiểm
toán của KPMG thường phù hợp với 2 hình thức báo cáo là BCTC theo tiêu chuẩn
báo cáo kế toán Việt Nam và IFRS (International Financial reporting standard)
tiêu chuẩn báo cáo tài chính quốc tế, do vậy KTV tại KPMG luôn yêu cầu vững
kiến thức khi ra báo cáo dưới hai hình thức trên tùy theo yêu cầu của khách hàng.
Thứ tư, sự linh hoạt của KTV trong việc lựa chọn thủ tục kiểm toán từ
chương trình kiểm toán chọn mẫu. KPMG có sự dụng chương trình kiểm toán
chọn mẫu để hỗ trợ trong việc thực hiện kiểm tra chi tiết. Số lượng mẫu chọn sẽ
phù hợp với từng đặc điểm riêng của khoản mục thuế GTGT của công ty. KTV có
thể tự thiết kế thủ tục các thủ tục kiểm tóan bổ sung nếu nhóm kiểm toán đánh giá
thủ tục đưa ra trong chương trình kiểm toán mẫu chưa bao quát hết các sai sót tiềm
tàng có liên quan hoặc chưa đủ các hướng dẫn cần thiết để phục vụ cho việc kiểm
tra tài khoản này. Mặt khác dựa vào kinh nghiệm của KTV cũng có thể thực hiện
các thủ tục kiểm toán thay thế tùy theo đặc điểm thực tế của từng khách hàng. Ví
dụ như nếu việc tính toán lại khoản mục thuế GTGT gặp khó khăn vì không đủ tài
liệu hoặc mất nhiều thời gian thì KTV có thể tiến hành các bước kiểm tra chi tiết
khác như đối chiếu với các chứng từ liên quan.
Thứ năm, việc kiểm soát chất lượng kiểm toán đạt hiệu quả. Chất lượng
kiểm toán luôn là mục tiêu hàng đầu của KPMG. Do vậy công việc kiểm soát chất
lượng được tiến hành rất cẩn thận. Qua nghiên cứu qui trình kiểm toán kiểm toán
thuế GTGT trong kiểm toán BCTC có thể thấy việc kiểm soát chất lượng được
thực hiện từ khâu lập kế hoạch đến giai đoạn kết thúc kiểm toán. KTV cao cấp của
nhóm kiểm toán sẽ soát xét chi tiết từng GTLV. Việc kiểm soát này sẽ là cơ sở cho
những lần soát xét tiếp theo để đảm bảo tất cả các GTLV chứa đựng các thông tin
đầy đủ, rõ ràng về các thủ tục kiểm toán và các kết luận đạt được. Quá trình làm
việc của các KTV đều được cấp trên đánh giá và dựa vào đó để xêt khen thưởng
và nâng cấp bậc, vì vậy, bản thân mỗi KTV đều cố gằng thực hiện đạt chất lượng
tốt trong quá trình kiểm toán.

nghiệm hơn để thực hiện kiểm toán phần hành thuế cũng vì nguyên nhân trên.
Mặt khác, đôi khi giám đốc kiểm toán chỉ quan tâm về mặt số lượng các
hợp đồng kiểm toán, thiếu sự cân nhắc khi lựa chọn khách hàng để kiểm toán. Nên
khối lượng công việc của KTV là quá lớn, cuộc kiểm toán của khách hàng trước
chưa kết thúc đã phải đồng thời thực hiện kiểm toán của khách hàng tiếp theo để
kịp với thời hạn ra báo cáo. Đồng thời do chính sách nhân sự chưa tốt làm giảm
chất lượngvà hiệu quả kiểm toán cũng như gây áp lực cho các KTV.
Khó khăn cũng xuất phát từ phía khách hàng như năng lực của kế toán và
nhận thức về tầm quan trọng của kiểm toán đối với doanh nghiệp. Do không hiểu
được mục đích của công việc kiểm toán nên còn nhiều doanh nghiệp thiếu hợp tác
giữa kế toán và KTV. Đồng thời hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng kém
cũng làm hạn chế sự tiếp cận của kiểm toán, và thông tin từ khách hàng đó cũng
thiếu sự tin cậy trong khi kiểm toán chỉ có thể phát hiện được rủi ro và hạn chế
trong việc phát hiện ra những gian lận của khách hàng.
KPMG toàn cấu đã thiết kế phần mềm chọn mẫu MUS để áp dụng trong
việc chọn mẫu kiểm toán. Để sử dụng phần mềm này cần nhập các dữ liệu gồm
mức độ trọng yếu - SMT, rủi ro kiểm soát, qui mô tổng thể và các thông số khác
liên quan. Tất cả những dữ liệu này đều phải ở dạng file máy tính. Tuy nhiên, đối
với một số khách hàng có hệ thống kế toán thủ công, việc thực hiện chọn mẫu
bằng chương trình MUS gặp khó khăn vì không có dữ liệu đầu vào dạng file mềm,
khi đó KTV buộc phải thực hiện chọn mẫu theo nhận định chủ quan làm thiếu tính
chính xác và hiệu quả. Đôi khi KTV phải dựa vào các dữ liệu trên giấy mà khách
hàng cung cấp để tạo ra các file dữ liệu phù hợp với phương pháp kĩ thuật kiểm
toán gây tốn kém nhiều chi phí và giảm tiến độ hoàn thiện kiểm toán. Mặt khác,
kết quả chọn mẫu thường KTV chỉ trình bày số lượng mẫu chọn trên GTLV mà
chưa trình báy quá trình sử dụng phương pháp chọn mẫu, các phần tử mẫu chọn
như thế nào. Như vậy khiến việc soát xét hồ sơ kiểm toán sẽ thiếu căn cứ để xem
xét đối với việc kiểm tra mẫu chọn cũng như trong đánh giá độ tin tưởng của công
việc kiểm tra chi tiết và trình độ chuyên môn của người thực hiện.
Mặc dù KPMG có phương pháp kiểm toán KAM chỉ thiết kế với những qui

cho Nhà nước hàng trăm tỉ đồng. Xét trên góc độ kiểm toán, KTV không có trách
nhiệm phát hiện và xử lý tất cả những sai sót, gian lận của khách hàng, trong đó có
khoản mục thuế GTGT, mà chỉ tiến hành các thủ tục kiểm toán phù hợp để thu
thập bằng chứng đầy đủ và thích hợp cho ý kiến đánh giá của mình về những
thông tin được trình bày trên BCTC. Song xét trên khía cạnh vai trò của kiểm toán
trong nền kinh tế quốc dân thì kiểm toán độc lập không thể đứng ngoàii cuộc trong
vấn đề này.
Năm 1999 Luật thuế GTGT có hiệu lực thi hành trên cả nước, đây là luật
thuế tiên tiến, qui trình và vận hành khoa học nhưng nó cũng đòi hỏi một trình độ
quản lý vĩ mô và vi mô tương đối đồng bộ, cộng với trách nhiệm phải được nâng
cao của đối tượng nộp thuế. Nhà nước ta không chờ có đủ các điểu kiện mới ban
hành hệ thống thuế GTGT, mà ngược lại dựa vào nguyên tắc vận hành và đặc điểm
về tính cưỡng chế của luật thuế này để hoàn thiện, đưa các hoạt động kinh tế, các
quá trình quản lí vào nề nếp. Khi các điều kiện mới đã xuất hiện nhưng các
phương thức cũ chưa bị xoá bỏ hoàn toàn, thì các gian lận trong nền kinh tế vẫn có
chiều hướng gia tăng. Trong điều kiện đó, việc tăng cường và sử dụng đồng bộ các
công cụ như thanh tra, kiểm tra và kiểm toán càng trở nên hơn bao giờ hết.
Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra cho công ty kiểm toán nói chung và KPMG nói
riêng là giải quyết hài hòa lợi ích của khách hàng với lợi ích của Nhà nước trong
vấn đề thu thuế cũng như lợi ích của chính công ty. Lợi ích của Nhà nước được
hiểu là kết quả kiểm toán có thể trở thành cơ sở để cơ quan thế dựa vào đó xác
định thu nhập và chi phí cũng như số thuế phải nộp của doanh nghiệp. Đứng trên
góc độ quan điểm của công ty kiểm toán xét cho cùng cũng là vì lợi ích của khách
hàng. Với chi phí bỏ ra cho cuộc kiểm toán, khách hàng có thể nắm được tương
đối chính xác số thuế mà mình sẽ phải nộp trong kì chứ không bị động khi có kết
quả quyết toán thuế của cơ quan thuế.
Một số trường hợp số liệu kết luận của cơ quan thuế và kiểm toán có sai
lệch khá lớn, qua thực tế kiểm toán cho thấy sự thiếu thống nhất thường do các
nguyên nhân sau:
- Áp dụng sai văn bản pháp luật hoặc sử dụng văn bản đã hết hiệu lực

* Về chính sách nhân sự
Nhân sự vẫn luôn là vấn đề nan giải của KPMG do số lượng KTV có kịnh
nghiệm hàng năm vẫn ra khỏi công ty nhiều. Do vậy, công ty cần phải có những
chính sách nhân sự phù hợp về đãi ngộ, chế độ khen thưởng chưa mang tính dộng
viên đối với các nhân viên. Bộ phận nhân sự và bộ phận quản lý nên quan tâm đến
khối lượng công việc đối với từng KTV, tránh tình trạng quá tải như hiện nay.
Đồng thời công ty đã chuyên môn hóa các KTV về ba bộ phận kiểm toán là kiểm
toán ngân hàng, kiểm toán các công ty sản xuất và kiểm toán dự án. Tuy nhiên
KTV của các phòng vẫn chưa được chuyên môn hóa vào lĩnh vực của mình mà
thường xuyên phải đi kiểm toán cho nhiều phòng một lúc. Vì vậy, công ty nên
phân chia một cách hợp lí nhân viên từng phòng và chuyên môn hóa vào đặc thù
công việc của mỗi phòng như vậy chất lượng kiểm toán sẽ được đảm bảo hơn. Mặt
khác, các nhóm làm viêc cần xen kẽ job lớn và job nhỏ để giảm bớt sự căng thẳng
cho KTV.
*Về hợp đồng kiểm toán
KPMG cần đánh giá và lựa chọn kĩ lưỡng khách hàng trước khi đồng ý ký
hợp đồng kiểm toán để đảm bảo về hệ thống kế toán và kiểm soát của khách hàng
không chứa đựng nhiều gian lận, rủi ro tiềm tàng. Hệ thống kế toán của khách
hàng phải là hệ thống kế toán máy để phù hợp với các kĩ thuật kiểm toán tiên tiến
của KPMG. Việc đánh giá và tìm hiểu ban đầu về khách hàng đặc biệt quan trọng
và ảnh hưởng đến kết quả kiểm toán cũng như danh tiếng và chiến lược marketing
của công ty. Đồng thời việc lựa chọn khách hàng tốt sẽ giúp cân bằng số lượng
hợp đồng với nguồn nhân lực hiện có của công ty, tránh sự quá tải khi làm viêc
của nhân viên để đáp ứng số lượng lớn các hợp đồng.
* Về thủ tục kiểm toán
Đối với khoản mục thuế GTGT, KTV nên áp dụng thủ tục phân tích xu
hướng và tỉ suất để nắm được sự thay đổi trên tổng thể của thuế GTGT. Từ đó
KTV đảm nhiệm phần hành thuế tập trung vào những thay đổi lớn và bất thường
để giảm công việc kiểm tra chi tiết. Trong thủ tục phân tích, nên áp dụng sơ đồ thể
hiện xu hướng bằng các phần mềm kĩ thuật kiểm toán tiên tiến.

hệ thống và tự động liên kết với nhau.
Thực tế hiện nay, công ty KPMG đang ngày một hoàn thiện qui trình kiểm
toán BCTC nói chung và kiểm toán thuế GTGT nói riêng. nhằm nâng cao chất
lượng kiểm toán của mình. Trên đây đề tài đã trình bày một số đề suất cụ thể mang
tính định hướng cho việc nâng cao chất lượng qui trình kiểm toán thuế GTGT.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status