TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
TIỂU LUẬN
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA NỢ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Thảo (MSV 1513310135)
Trần Thị Thu Phương (MSV 1513310122)
Học phần: Tài chính công
Giảng viên hướng dẫn
Tiến sĩ Nguyễn Thị Lan
Hà Nội – Tháng 1 năm 2018
1
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt.............................................................................................3
Danh mục các bảng và hình..........................................................................................4
Lời mở đầu....................................................................................................................5
Chương I: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu...........7
1. Tổng quan nghiên cứu trong nước và ở nước ngoài............................................7
1.1.
Các nghiên cứu ở nước ngoài.......................................................................7
1.2.
Một số nghiên cứu trong nước......................................................................8
Ước lượng mô hình đồng liên kết...............................................................25
1.3.
Ước lượng mô hình sai số hiệu chỉnh ECM...............................................27
1.4.
Tác động nợ công của các nước khác với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
29
2.2. Thảo luận kết quả nghiên cứu...........................................................................32
Chương 3. Kết luận và kiến nghị giải pháp.................................................................32
1. Kết luận............................................................................................................. 32
1.1.
Tóm lược kết quả nghiên cứu.....................................................................33
1.2.
Những hạn chế trong nghiên cứu................................................................33
1.3.
Hướng nghiên cứu trong tương lai.............................................................34
2. Gợi ý chính sách và kiến nghị giải pháp...........................................................34
2
Hình 4. Sơ đồ chỉ các cơ chế truyền dẫn (nguồn: Nautet & Van Meensel, 2011)
Hình 5: Thống kê mô tả các biến (từ năm 2001 – 2016)
Hình 6. Hệ số tương quan giữa các biến (nhóm tác giữa xử lý từ phần mềm eview)
Hình 7. Kiểm định nghiệm đơn vị (nhóm tác giải xử lý bằng eview 8)
Hình 8. kiểm định nghiệm đơn vị bằng cách lấy phân sai cấp 1 (nhóm tác giả xử lý từ
phần mềm eview8)
Hình 9. Kết quả hồi quy
Hình 10: Kiểm định sự phù hợp của mô hình
Hình 11: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị phẩn dư mô hình (tác giả tính toán từ phần
mềm eview 8)
Hình 12. Kết quả hồi quy của mô hình ECM
Hình 13. Kiểm định sự phù hợp của mô hình ECM
Hình 14. Kết quả hồi quy mô hình ECM sau khi đã khắc phục tự tương quan
4
Lời mở đầu
Tính cấp thiết của đề tài
Về mặt lý thuyết, nợ công có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến mức tăng
sản lượng của nền kinh tế. Xét về tác động tích cực, chính phủ các quốc gia sử dụng
nợ công như một công cụ tài trợ vốn, đáp ứng nhu cầu đầu tư, khuyến khích phát triển
sản xuất và kích thích tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, nợ công cũng có thể kìm hãm
tăng trưởng.
Như vậy, nợ công là một trong những nhân tố tạo ra động lực tăng trưởng kinh
tế cho một quốc gia, tuy nhiên khi nợ công tăng cao thì nó có thể được xem như một
mối nguy tiềm ẩn với nền kinh tế quốc gia đó. Vì lẽ đó, mối quan hệ giữa nợ công với
tăng trưởng kinh tế đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên
cứu.
Cụ thể, nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, ở mức thấp, nợ công không đe
phát triển.
+ Đánh giá thực nghiệm tác động của nợ công lên tăng trưởng kinh tế của Việt
Nam
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa nợ công với tăng trưởng kinh tế của
quốc gia Việt Nam và nợ công tác động như thế nào tới tăng trưởng kinh tế
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu này được giới hạn với mẫu số liệu của Việt
Nam từ 2000-2016
Bài tiểu luận được xây dựng với bố cục gồm 3 phần chính:
Chương I: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu về
tác động của nợ công đến tăng trưởng kinh tế
Chương II: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương III: Kết luận kèm theo gợi ý chính sách và kiến nghị giải pháp
Lời cảm ơn
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Tiến sĩ Nguyễn Thị Lan đã hướng dẫn nhóm
tác giả thực hiện xong bài nghiên cứu về tác động của nợ công đối với tăng trưởng
kinh tế ở Việt Nam.
Bài nghiên cứu còn nhiều thiếu sót nên nhóm tác giả rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp, đánh giá từ Tiến Sĩ Nguyễn Thị Lan để có thể hoàn thiện hơn
nữa trong tương lai.
Xin chân thành cảm ơn!
6
Chương I: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và
phương pháp nghiên cứu
1. Tổng quan nghiên cứu trong nước và ở nước ngoài
Nợ công là một trong những vấn đề mang tầm vĩ mô được chính phủ, các nhà
kinh tế học và người dân thuộc tất cả các quốc gia quan tâm. Đặc biệt cuộc khủng
hoàng nợ công của Hy Lạp xảy ra càng khiến nợ công trở nên nóng bỏng hơn bao giờ
(2010) cũng cho rằng tăng trưởng kinh tế sẽ chậm đi nếu tỷ lệ nợ công theo GDP vượt
quá 90%.
1.2.Một số nghiên cứu trong nước
Không chỉ trên thế giới, tại Việt Nam cũng có rất nhiều công trình được thực hiện
nhằm đánh giá tác động của nợ công lên tăng trưởng kinh tế trong nước. Theo THS.
Đặng Văn Cường và Bùi Thanh Hòa trong “ Tác động của chi tiêu công đến tăng
trưởng kinh tế: Minh chứng dữ liệu chuỗi tại TP. Hồ Chí Minh” đăng trên Phát triển &
Hội Nhập số 18(28) đã chỉ ra nhiều tác động của nợ công. Cụ thể, theo hai tác giả “
thứ nhất, chi thường xuyên không có quan hệ với tăng trưởng kinh tế trong dài hạn,
nhưng tác động thuận chiều một các có ý nghĩa thống kê trong ngắn hạn. Thứ hai, chi
đầu tư phát triển có tác động dương đến tăng trưởng kinh tế cả trong ngắn hạn và dài
hạn. Song, hiệu ứng trong dài hạn (0.184) lớn hơn hiệu ứng trong ngắn hạn (0.066).
Thứ ba, tương tự như chi thường xuyên, tổng chi tiêu công cũng không tác động đến
tăng trưởng kinh tế trong dài hạn nhưng lại có tác động trong ngắn hạn. Tuy nhiên,
mối quan hệ này là nghịch chiều.”
Theo Phạm Thế Anh và Nguyễn Hồng Ngọc trong bài nghiên cứu “Hiệu ứng nợ
công với tăng trưởng kinh tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam” đăng trong “những
vấn đề kinh tế và chính trị thế giới- số 10(234) 2015” đã cho thấy tại các ngưỡng nợ
công từ 14 – 35% GDP, tác động của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế ở các quốc
gia là tích cực. Sau khi nợ công vượt nưỡng 35% GDP, tác động biên của nợ công đến
tăng trưởng chuyển từ trạng thái tích cực sang tiêu cực. Tác động tiêu cực tăng dần
theo sự gia tăng của các mức nợ công. Các tác giả cũng chỉ ra rằng sau ngưỡng 61%
GDP, tác động tiêu cực của sự gia tăng nợ công đã thực sự rõ ràng và tăng trưởng kinh
tế sẽ giảm ngày càng mạnh.
Trong bài nghiên cứu “Mối quan hệ của nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế VN”
đăng tải trên “Phát triển và Hội nhập” – số 4(14) – tháng 5-6/2012, tác giả Nguyễn
8
vòng 3 năm, nợ công của "10 nước giàu nhất” đã tăng hơn 9 nghìn tỉ USD. Trong năm
2014, nợ của "10 nước giàu nhất" lên trên mức 114% GDP. Ở những nền kinh tế lớn
9
của thế giới, nợ công cũng đang trong tình trạng báo động. Ngày 19-5-2010, IMF và
sau đó, ngày 26-5, OECD đã lần lượt cảnh báo, với mức nợ công hiện nay lên tới
190% GDP và chưa có dấu hiệu dừng lại, Nhật Bản có mức nợ công lớn nhất trong số
các nước phát triển. Cảnh báo này làm mọi người lo ngại rằng, Nhật Bản có thể sẽ “trở
thành một Hy Lạp thứ hai”. Ngày 2-6-2010, Bộ Tài chính Mỹ thông báo nợ công của
Hoa Kỳ tính đến đầu tháng sáu cùng năm đã vượt quá kỷ lục 13 ngàn tỉ USD. Khoản
công nợ này đã tăng khoảng 1.600 tỉ USD so với năm trước, tăng hơn gấp đôi trong
vòng 10 năm và chiếm tới 90% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hàng năm của Mỹ.
Hơn nữa, khi nợ công quá lớn, việc thắt chặt chi tiêu, thực hiện chính sách "thắt
lưng buộc bụng" để giảm thâm hụt ngân sách là điều kiện phải đáp ứng để được nhận
sự hỗ trợ cần thiết từ các tổ chức tín dụng quốc tế, thế nhưng, "thắt lưng buộc bụng"
lại dẫn tới những cuộc biểu tình phản đối của quần chúng, gây căng thẳng, bất ổn
chính trị, xã hội, bởi những người nghèo, những người yếu thế trong xã hội là những
người bị tác động mạnh nhất từ chính sách cắt giảm phúc lợi, cắt giảm chi tiêu của
chính phủ. Chẳng hạn, để được nhận gói cứu trợ nhằm giải quyết khủng hoảng nợ,
Chính phủ Hy Lạp đã phải quyết định tăng nhiều loại thuế, từ thuế giá trị gia tăng đến
thuế thu nhập, thuế bất động sản; và đánh thuế vào nhiều sản phẩm như rượu, thuốc
lá…, đồng thời chấp nhận áp dụng các biện pháp cắt giảm chi tiêu mạnh tay. Để phản
đối chính sách này của chính phủ, các cuộc tổng đình công đã diễn ra, hàng chục ngàn
người đã tham gia biểu tình trên khắp đất nước Hy Lạp, nhất là tại thủ đô A-ten.
Trong thời điểm hiện nay, khi nền kinh tế toàn cầu mới thoát khỏi khủng hoảng,
bắt đầu có dấu hiệu phục hồi do kết quả của các gói kích thích kinh tế mà chính phủ
các nước đã chi ra trong những năm trước đây, thì việc cắt giảm chi tiêu, tăng thuế sẽ
làm giảm đầu tư, kìm hãm sự phục hồi của nền kinh tế, làm chậm tốc độ tăng trưởng,
thậm chí có thể đẩy nền kinh tế vào "khủng hoảng kép". Nghiêm trọng hơn, việc tung
Bên cạnh đó, Nhật còn tự chủ về tỷ giá hối đoái, dự trữ ngoại tệ của Nhật cũng ở mức
rất cao (theo con số mà Bộ Tài chính Nhật Bản công bố ngày 12-5, tính đến cuối
tháng 4-2010, dự trữ quốc gia của Nhật là 1.046,873 tỉ USD). Do vậy, nền kinh tế
Nhật Bản, mặc dù ngoài nợ công cao còn đứng trước nhiều khó khăn khác nữa, nhưng
vẫn được dự báo là khó có thể trở thành mục tiêu tấn công của giới đầu cơ quốc tế.
Như vậy, việc đánh giá đúng nợ công và “thực chất” nợ công của một nền kinh
tế, một quốc gia là vô cùng quan trọng, đặc biệt trong những thời điểm nhạy cảm. Bởi
lẽ, nếu chỉ chú trọng vào con số tỷ lệ nợ công cao một cách thuần túy sẽ gây nên hiệu
ứng tâm lý hoang mang, kích động, thiếu tin tưởng, làm gia tăng căng thẳng xã hội, bị
11
giới đầu cơ lợi dụng tấn công, dễ gây rối loạn nền kinh tế, thậm chí dẫn nền kinh tế
đến bên bờ vực phá sản. Ngược lại, nếu yên tâm với tỷ lệ nợ công còn trong giới hạn
an toàn, mà không phân tích cẩn trọng, chú ý đúng mức đến khoản nợ đó được hình
thành như thế nào, bằng cách nào, thực trạng nền kinh tế ra sao và khả năng trả nợ thế
nào…, cũng sẽ dễ đẩy nền kinh tế rơi vào vòng xoáy thâm hụt ngân sách – "thắt lưng
buộc bụng" – tác động tiêu cực đến tăng trưởng
2. Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
2.1. Cở sở lý thuyết
Khái niệm nợ công
Tại hầu hết các nước trên thế giới, Luật quản lí nợ công đều xác định nợ công gồm
nợ của chính phủ và nợ được chính phủ bảo lãnh. Một số nước, nợ công còn bao gồm
nợ của chính quyền địa phương (Đài Loan, Bungari, Rumani,…), nợ của doanh
nghiệp nhà nước phi lợi nhuận (Thái Lan, Macedonia,…).
Tại Việt Nam, theo luật quản lí nợ công được ban ngày 29-6-2009 và có hiệu lực
từ ngày 01-01-2010: “Nợ công bao gồm: Nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh
và nợ chính quyền địa phương”.
Cũng theo luật này:
Ngoài ra cần chú ý thêm khái niệm “nợ nước ngoài của quốc gia”, là tổng các
khoản nợ nước ngoài của chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh, nợ của doanh
nghiệp và tổ chức khác vay theo phương thức tự vay, tự trả (Luật quản lí nợ công năm
2009). Vốn vay từ ADB hay WB đương nhiên là nợ nước ngoài nhưng một doanh
nghiệp vay từ đối tác nước ngoài vài trăm triệu đô la, chẳng hạn, dù có hay không có
bảo lãnh của chính phủ, thì khoản tiền đó vẫn phải tính vào tổng nợ nước ngoài của
quốc gia.
Nợ công xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của chính phủ, khi chi tiêu của chính phủ
lớn hơn số thuế, phí, lệ phí thu được, Nhà nước phải đi vay trong hoặc ngoài nước để
trang trải thâm hụt ngân sách. Các khoản vay này sẽ phải hoàn trả gốc và lãi khi đến
hạn, Nhà nước sẽ phải thu thuế tăng lên để bù đắp. Vì vậy, suy cho cùng nợ công chỉ
là sự lựa chọn thời gian đánh thuế: hôm nay hay ngày mai, thế hệ này hay thế hệ khác.
Vay nợ thực chất là cách đánh thuế dần dần, được hầu hết chính phủ các nước sử dụng
để tài trợ cho các hoạt động chi ngân sách. Nợ chính phủ thể hiện sự chuyển giao của
cải từ thế hệ sau (thế hệ phải trả thuế cao) cho thế hệ hiện tại (thế hệ được giảm thuế).
Theo IMF (2010), nợ công được hiểu là nghĩa vụ trả nợ của khu vực công. Đi
kèm với đó là định nghĩa cụ thể về khu vực công, bao gồm khu vực Chính phủ và khu
vực các tổ chức công.
Khu vực công
Khu vực chính phủ
Chính phủ Trung Ương
Khu vực các tổ chức công
Các tổ chức công phi tài chính tài
Các TCC tài chính
phải là nợ công. Nợ công chắc chắn sẽ lớn hơn nhiều.
Hình 2: Nợ nhà nước năm 2009
Thứ hạng
1
2
4
5
6
7
8
Quốc gia
Zimbabwe
Nhật Bản
Lebanan
Jamaica
Singapore
Italy
Hy Lạp
% GDP
304
192
156
132
118
115
113
14
45
46
47
48
49
50
51
56
57
Sudan
Bỉ
Iceland
Nicaragua
Sri Lanka
Ai Cập
Pháp
Israel
Đức
Bồ Đào Nha
Canada
Jordan
Anh
Ghân
Áo
Cote d’lvoire
Ireland
Hà Lan
Na Uy
Ấn Độ
70
69
68
67
64
64
62
60
60
59
59
56
55
54
54
53
52
50
50
49
49
49
48
48
46
46
Bảng nợ nhà nước cho thấy nợ của các nước năm 2009 (bảng 1). Bảng này cho
thấy nợ của Việt Nam cao hơn tỉ lệ đưa ra, sự khác biệt có thể là phương pháp tính,
nhưng con số Việt Nam đưa ra thì khá thấp. Năm 2007, nợ của Nhà nước là 33,8%
đáng kể, và do đó họ vẫn chỉ tập trung vào nợ Nhà nước.
Bản chất kinh tế của nợ công
Xét về bản chất kinh tế, nợ công xuất phát từ thâm hụt Ngân sách Nhà nước
(việc chi tiêu vượt quá khả năng của nguồn thu từ thuế, lệ phí, phí và các khoản thu
khác). Để làm mức thâm hụt NSNN, Chính Phủ buộc phải cắt giảm chi tiêu hoặc tăng
16
nguồn thu ngân sách. Thu nhiên việc cắt giảm chi tiêu rất khó thực hiện và kết quả là
tăng nguồn thu ngân sách là biện pháp chủ yếu mà Chính Phủ thực hiện. Chính phủ có
thể tăng nguồn thu từ hai cách; tăng thuế (hạn chế) và vay nợ (chủ yếu). Chính việc
vay nợ này khiến nợ công gia tăng. Ngoài ra sự dễ dàng của vay nợ để đầu tư cũng
làm gia tăng thêm nợ công. Như vậy có thể thấy nợ công là hậu quả trực tiếp của bội
chi ngân sách.
Một số quan điểm về nợ công
Trên thực tế, có rất nhiều quan điểm khác nhau về nợ công cũng như việc đi
vay của Chính phủ. Các nhà kinh tế học cổ điển như Adam Smith, David Ricardo, và
John Stuart Mill (Tsoulfidis, 2007) nêu bật một nguyên tắc quan trọng và nhất quán về
quản lý ngân sách là nguyên tắc ngân sách cân bằng: thu và chi bằng nhau. Họ không
đồng tình với việc chính phủ đi vay để chi tiêu.
Trong khi đó, John Maynar Keynes và những người thuộc trường phái
Keynes lại ủng hộ việc vay nợ của chính phủ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông
qua chi tiêu (Theocarakis, 2014). Theo họ, gia tăng đầu tư của chính phủ trong tình
hình suy thoái vào các dự án công sẽ giúp nền kinh tế nhanh chóng phục hồi. Chi tiêu
công nhất là những khoản chi tiêu thông qua vay nợ có thể thúc đẩy kinh tế nhờ làm
tổng cầu của nền kinh tế.
Paul Samuelson, một nhà kinh tế học ủng hộ trường phái Keynes cho rằng nợ
công là công cụ gián tiếp quan trọng trong việc điều hành kinh tế nhưng phải sử dụng
nó thận trọng đồng thời phải phối hợp với chính sách tài khóa và tiền tệ.
Còn theo Richard Rahn tăng trưởng kinh tế sẽ đạt được tối đa khi chi tiêu công
tiêu cực đáng quan ngại đến sự tăng trưởng của nên kinh tế. Chúng ta có thể giải tích
những tác động này thông qua cơ chế truyền dẫn.
Các cơ chế truyền dẫn
Trong nghiên cứu của mình năm 2011, Nautet & Van Meensel đã chỉ ra rằng nợ
công tăng có thể tác động âm lên hoạt động kinh tế trong dài hạn và ngược lại. Họ đã
đưa ra 3 cơ chế truyền dẫn:
Thứ nhất, nợ công tăng làm tiết kiệm chính phủ giảm dẫn đến tiết kiệm ròng quốc
gia giảm, lãi suất vì vậy mà tăng lên, từ đó làm giảm đầu tư và nguồn vốn, cuối cùng
làm chậm sự đổi mới và giảm năng suất lao động. Tác động lên lãi suất phụ thuộc vào
quy mô của khu vực bị tác động bởi nợ công tăng. Nếu sự gia tăng đó được giới hạn
trong một nền kinh tế mở nhỏ, tác động lên lãi suất thị trường chỉ vừa phải. Ngược lại,
nếu nợ tăng lên cùng lúc ở các quốc gia hình thành nên khu vực kinh tế chung, áp lực
lên lãi suất thị trường sẽ rất lớn.
Thứ hai, nợ công tăng làm chi phí trả lãi cao hơn. Để bù đắp cho các chi phí này
phải cắt giảm chi tiêu cho năng suất (như cắt giảm đầu tư vào cơ sở hạ tầng, tăng thuế,
tạo nên sự bóp méo của thuế)
Thứ ba, nợ công tăng đưa đến rủi ro vỡ nợ, làm tăng chi phí rủi ro từ đó làm tăng
chi phí tài trợ, đe dọa đến khả năng thanh toán của khu vực công và có thể dẫn đến
việc tăng lãi suất dành cho các nhân và doanh nghiệp.
19
Hình 4. Sơ đồ chỉ các cơ chế truyền dẫn (nguồn: Nautet & Van Meensel, 2011)
Không những vậy, nợ công tăng còn gây lên hiện tượng chèn lấn khu vực tư nhân.
Chính phủ cần vay nợ để bù đắp thâm hụt ngân sách và có thể chấp nhận vay dưới bất
kỳ mức lãi suất nào. Kết quả là lãi suất bị đẩy lên cao. Khi đó khu vực tư nhân sẽ khó
tiếp cận với nguồn vốn vay hơn do họ không thể đi vay với mức lãi suất cao như
Chính phủ.
Mối quan hệ tác động giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế mang tính hai chiều.
hóa/ GDP
Phương trình kiểm định mô hình sẽ có dạng:
GDP= α1+ α2PD+ α3K+ α4O + φ
3.2.Phương pháp thu thập số liệu
Để phục vụ cho quá trình nghiên cứu, nhóm tác giả sử dụng số liệu thứ cấp trong
chuỗi thời gian từ năm 2000 đến năm 2016 (số liệu năm 2016 là số liệu sơ bộ, chưa có
báo cáo chính thức). Những số liệu này được lấy từ các nguồn gồm Worldbankdata,
Tổng Cục Thống Kê và Hải Quan Việt Nam. Nhóm tác giả tính toán và xử lý lại số
liệu tỷ lệ độ mở nền kinh tế (O).
Chương 2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
1. Kết quả nghiên cứu
21
Hình 5: Thống kê mô tả các biến (từ năm 2001 – 2016)
Bảng thống kê mô tả của các biến cho thấy, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt
Nam trong giai đoạn năm 2001 – 2016 có giá trị lớn nhất vào khoảng 8,64% (năm
2007) và đạt giá trị nhỏ nhất là 5,3% (năm 2012). Tỷ lệ vốn đầu tư khu vực tư nhân có
giá trị lớn nhất là 16,42% (tính trên GDP, năm 2007), thấp nhất vào năm 2001 với chỉ
khoảng 8% tính trên GDP. Độ mở thương mại của Việt Nam khá cao (tuy nhóm tác
giả mới chỉ tính toán trên lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, chưa tính đến giá trị
xuất nhập khẩu khu vực dịch vụ). Độ mở thương mại có giá trị lớn nhất là 100,31%
(năm 2005) và thấp nhất là 99,82% (năm 2001). Nợ công Việt Nam tính trên GDP có
giá trị cao nhất là 60,7% (năm 2016, từ Worldbankdata), thấp nhất là 32,3% (năm
2001).
22
-1,748403
-2,099071
0,3891
0.2477
O
-3,506521
0,0231
PD
2,468638
0,9998
Hình 7. Kiểm định nghiệm đơn vị (nhóm tác giải xử lý bằng eview 8)
Từ bảng kết quả kiểm định nghiệm đơn vị ( bảng 2) ta thấy, các biến GDP, K PD
đều có p – value > α= 10% nên chúng đều là những chuỗi không dừng. Chỉ có chuỗi
dữ liệu O có p – value= 0,0231 < α= 10% nên nó là chuỗi dừng. Vì chuỗi giá trị của
các biến GDP, K, PD đều không dừng nên nhóm tác giả sẽ lấy sai phân cấp 1 và được
kết quả như ở bảng sau:
ADF - statistic
D(GDP)
D(K)
D(PD)
Prob=0,0591
Chi2=0,9530
Prob=0,9664
chuẩn
Kiểm định tự tương
quan Breusch-Godfrey LM
Kiểm định phương sai
thay
đổi
–
Hteroskedasticity
Hình 10: Kiểm định sự phù hợp của mô hình
Kết quả kiểm sự phù hợp của mô hình đã cho chúng ta thấy các giá trị p-value của
kiểm định phân phối chuẩn (p-value=0,362527), kiểm định tự tương quan BreuschGodfrey LM (p-value=0,0591), Kiểm định phương sai thay đổi – Hteroskedasticity
((p-value=0,9664) đều lớn hơn 5%. Từ kết quả này chúng ta có thể khẳng định rằng
mô hình là phù hợp, không hề xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến, phương sai số thay
đổi hay tự tương quan.
25