bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên giáo viên mầm non Modun MN 30 và MN 33 - Pdf 62

MODULE 30. LÀM ĐỒ DÙNG DẠY HỌC ĐỒ CHƠI TỰ TẠO
1. Tên chuyên đề bồi dưỡng
Module 30 : LÀM ĐỒ DÙNG DẠY HỌC ĐỒ CHƠI TỰ TẠO
2. Lí do chọn chuyên đề:
Vui chơi là hoạt động chủ đạo là “cuộc sống” của trẻ mẫu giáo, vui chơi
đồng thời cũng là phương tiện hiệu quả nhất để phát triển các chức năng tâm lí,
sinh lí và hình thành nhân cách của trẻ, thông qua chơi giúp trẻ phát triển toàn
diện về thể chất và tinh thần
Đồ chơi là một phần quan trọng của trẻ mầm non, đồ chơi là người bạn
đồng hành thân thiết nhất của trẻ đem lại niềm vui cho trẻ và là khởi nguồn của
những xúc cảm tích cực ở trẻ.
Tôi học module này nhằm tích lũy thêm cho mình kinh nghiệm và cách
vận dụng lí thuyết vào thực tiễn để làm phong phú hơn đồ dùng dạy học, đồ chơi
trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ và chủ động hơn trong việc chuẩn bị các
đồ dùng dạy học, đồ chơi trong các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ. Phát huy
được tính tự lập, khả năng sáng tạo có ý thức tiết kiệm bảo vệ môi trường và
chia sẻ kinh nghiệm cho các đồng nghiệp khác và có thể phối hợp với phụ huynh
trong việc đóng góp các nguyên vật liệu để làm đồ dùng dạy học, đồ chơi tự tạo.
3. Nội dung chuyên đề
3.1. Một số khái niệm liên quan
Đồ dùng dạy học: Là những đồ vật dùng để minh họa nội dung bài dạy
và làm cho lời nói của giáo viên cụ thể, dễ hiểu hơn. Đồ dùng dạy học chủ yếu
được giáo viên sử dụng hay hướng dẫn người học cùng sử dụng.
Đồ chơi : Là vật dùng trong việc vui chơi giải trí trong quy chuẩn quốc
gia về đồ chơi trẻ em, đồ chơi được hiểu là các sản phẩm hoặc vật liệu bất kỳ
được thiết kế được trẻ em sử dụng khi vui chơi, đồ chơi là đồ vật để trẻ thỏa mãn
nhu cầu, sở thích của trẻ đôi khi không cần có sự giúp đỡ hay hướng dẫn của
người lớn.
Đồ chơi tự tạo: Là những đồ vật được chế tạo từ các nguyên vật liệu đơn
giản, dễ kiếm(nguyên vật liệu thiên nhiên, vật liệu đã qua sử dụng, nguyên vật
liệu rẻ tiền) và là sản phẩm đơn chiếc (được tạo ra từng cái một mặc dù có thể

học.
4. Quá trình vận dụng
4.1. Làm đồ dùng trực quan phù hợp với giờ học.
Để tăng tính hấp dẫn của giờ học tôi luôn vận dụng các nguên vật liệu có
sẵn ở địa phương như: Gỗ vụn, hộp giấp, hột hạt, bông, vải von... để tạo ra
những đồ dùng học tập đẹp phong phú hấp dẫn lạ mắt có nội dung gắn bó với
cuộc sống của trẻ phù hợp với từng chủ đề, chủ đề.
Ví dụ : Tôi dùng muỗng nhựa làm con chuồn chuồn hoặc len cuốn làm
con gà, vỏ sò làm cá.
- Tập hợp số đếm ( Tôi làm những cây tre trăm đốt làm bằng lọ sữa nhựa),
(ôn chữ số và số lượng) mỗi đội ghép một số thành 1 cây tre có toàn số ( số
lượng) giống nhau. Thêm bớt, tạo nhóm có số lượng theo yêu cầu hoặc tương
ứng với thẻ số.
- Dạy trẻ sắp theo quy tắc:1,2,3,4- 1,2,3,4 trẻ nhìn mẫu và ghép.
- Ôn dài ngắn, cao thấp( 3 độ tuổi mẫu giáo )
Như vậy sẽ làm cho trẻ hứng thú trong giờ học tạo được sự hấp dẫn lôi
cuốn trẻ vào giờ học.

2


4.2. Sử dụng đồ dùng trực quan trong giờ học một cách logíc.
Muốn tổ chức hoạt động có tính sáng tạo phong phú và logíc đồng thời
trẻ tích cực hoạt động thì bản thân tôi phải ra cách tích hợp các môn học sao cho
hợp lý.
- Cô cần biết phối hợp khéo léo các phương pháp dạy học khác nhau như:
Kể chuyện đầu giờ hỏi trẻ trong câu chuyện trẻ vừa được xem có mấy nhân vật
tích hợp trong tiềm thúc của trẻ cách đếm, chơi trò chơi hái rau của hai đội xem
đội nào hái được nhiều, bài hát để dẫn dắt trẻ vào tiết học một cách nhẹ nhàng
mà không thụ động. Bằng những đồ dùng tự sáng tạo ra.



Các đồ dùng trực quan tôi chuẩn bị cho trẻ theo mức độ phức tạp dần.
Khi trẻ sử dụng thành thạo tôi động viên khuyến khích trẻ, nếu trẻ còn lúng túng
chưa thành thạo trẻ sẽ được hướng dẫn tỉ mỉ và sẽ được sửa luôn nếu sai sót.
Đối với trực quan có nhược điểm riêng biệt, đặc biệt tôi sử dụng câu đố để đưa
trực quan ra.
VD: Khối vuông và khối cầu tôi dùng câu đố để trẻ đoán.
Khối gì xinh xắn
Sáu mặt hình vuông.
Bé hãy đoán xem.
Khối gì thế nhỉ?
Hay:
khối gì tròn lắm.
Không xếp chồng được đâu.
Không đứng yên được lâu
Động vào lăn lông lốc?
Để liên kết các nội dung trong một tiết học được liên hoàn và chuyển sang
nội dung mới một cách linh hoạt, đưa trực quan ra một cách hợp lý không có
động tác thừa hay các câu hỏi lặp đi lặp lại nhàm chắn, tôi thường sử dụng các
câu truyện sáng tạo.
VD: Có một bạn thỏ rất ngoan, hôm nay trên đường đi học bạn thỏ gặp
cô, và bạn thỏ đã nói thầm vào tai cô đấy! Chúng mình có muốn biết bạn thỏ nói
gì không nào?( Trẻ hào hứng nghe và rất muốn được biết điều mà Thỏ nói với cô
giáo) Tôi lại nói tiếp: Bạn thỏ nhờ cô hỏi các bạn lớp mình xem có biết ngày
19/5 là ngày gì không nào? Trẻ trả lời đúng.Tôi nói tiếp : Bạn thỏ cảm ơn các
bạn lớp mình đã giúp cho bạn ấy biết bí mật của ngày 19/ 5 nên đã tặng lớp
mình một món quà (món quà đó là một trò chơi ôn luyện đồ chuẩn bị trước)
Khi đưa trực quan là nội dung tích hợp của các môn học khác, vào hoạt động
làm quen với biểu tượng toán bằng câu hỏi nhẹ nhàng, hợp lý điều đó đã phát

- Trong hoạt động làm quen với biểu tượng toán tôi thường sử dụng trò
chơi học tập,và lựa chọn trong nhiều trò chơi học tập để áp dụng với từng bài
cho phù hợp
Ví dụ: Trò chơi “Về đúng nhà”
Tôi thường sử dụng trong phần ôn luyện cho tập hợp số lượng, phép
đếm.Ví dụ: Hình dáng chữ số tôi thường sử dụng cho tiết học ôn luyện và nhận
biết chữ số.
Qua việc sử dụng trò chơi trong các giờ làm quen với biểu tượng toán ,tiết
học trở lên sôi nổi, trẻ được tham gia hoạt một cách toàn diện, tinh thần thoải
mái nên có thể không bị mệt mỏi và căng thẳng. Điều này đã tạo cho trẻ hứng
thú hăng say trong quá trình tham gia hoạt động học tập.
4.3. Xây dựng môi trường học tập trong và ngoài lớp.
- Môi trường cũng là một yếu tố trực quan trực tiếp, tác động hàng ngày
đến trẻ, chính vì vậy việc xây dựng cảnh quan môi trường xung quanh được tôi
đặc biệt quan tâm.
- Trang trí, sắp xếp lớp học phòng học hài hoà hợp lý sẽ tạo được sự chú
ý, sẽ hấp dẫn lôi cuốn trẻ vào giờ học theo giai đoạn, theo chủ đề, theo nội dung
từng bài.
- Tuỳ vào nội dung của từng bài để bố trí trực quan xung quanh lớp giá đồ
chơi, tranh treo tường cho hợp lý để trẻ luyện tập cũng như liên hệ thực tế.
Ví dụ: Chủ điểm gia đình
5


+ Treo tranh về gia đình đông con, ít con để trẻ đếm số lượng người và
giáo dục trẻ.
+ Đồ dùng gia đình xếp ở giá đồ chơi để trẻ có thể luyện đếm.
- Ứng dụng công nghệ thông tin vào bài giảng
+ Trong các tiết học làm quen với toán tôi cũng có thể sử dụng một số
thao tác ứng dụng công nghệ thông tin cho việc giảng bài của mình

Mục đích trò chơi:
- Trẻ đếm số lượng trong phạm vi 10.
- Trẻ được vận động cơ thể.
6


- Luyện tai nghe cho trẻ.
Cách tiến hành:
- Tùy theo chủ đề tôi lựa chọn các hoạt động và âm thanh hợp lý, cho trẻ
đếm sau đó cho trẻ làm lại động tác số lượng âm thanh do cô tạo ra hoặc trẻ giơ
số tương ứng.
Ví dụ:
- Chủ đề nghành nghề tôi chọn tiếng và động tác đóng đinh của bác thợ
mộc.
- Chủ đề thế giới động vật cô giả làm tiếng của một số con vật cho trẻ
đếm sau đó bắt chiếc lại.
- Chủ đề giao thông cho trẻ đếm tiếng còi xe...
5. Kết quả đạt được, ưu điểm, hạn chế
Làm đồ dùng dạy học, đồ chơi tự tạo tôi đã biết cách làm, cách chọn
nguyên vật liệu phù hợp để làm ra đồ vật cho trẻ mẫu giáo
Đồ dùng dạy học, đồ chơi tự tạo có hình dạng, kích thước phù hợp với trẻ
mầm non.
Đồ dùng dạy học đồ chơi tự tạo có màu sắc đa dạng, phong phú, bắt mắt
gây được hứng thú đối với trẻ.
Đồ dùng đồ chơi đã đảm bảo được an toàn cho trẻ không độc hại, không
sắc nhọn.
Giáo viên chưa có nhiều thời gian để làm đồ dùng dạy học đồ chơi tự tạo
nên đồ dùng tự tạo còn ít và chưa phong phú.
Không thể làm đồ dùng tự tạo đầy đủ và thay đổi thường xuyên cho các
hoạt động của trẻ.

đồ dùng dạy học đồ chơi tự tạo đẹp, bền, ứng dụng vào giảng dạy và vui chơi
cho trẻ.
Thường xuyên tổ chức các hoạt động là đồ dùng đồ chơi trên lớp để trẻ
cũng được tham gia cùng cô trẻ sẽ yêu quý và giữ gìn đồ dùng tốt hơn.
Đối với giáo viên mầm non cần tích cực và chăm chỉ hơn trong làm đồ
dùng đồ chơi tự tạo để đồ dùng ngày càng phong phú và đa dạng, nên tổ chức
làm đồ dùng theo nhóm sẽ đạt hiệu quả cao hơn.
6. Những kiến nghị, đề xuất:
5.1. Đối với nhà trường
- Bổ sung đầy đủ đồ dùng đồ chơi phục vụ cho việc giảng dạy.
- Tạo điều kện cho giáo viên được tham quan, học tập kinh nghiệm của
đồng nghiệp trường bạn.
- Tổ chức các hội thi làm đồ dùng đồ chơi tự tạo.
5.2. Đối với giáo viên
- Cần dành nhiều thời gian để tìm tòi, học hỏi làm thêm nhiều đồ dùng đồ
chơi phục vụ cho các hoạt động giáo dục.
- Giáo viên cần có tinh thần cao trong việc làm đồ dùng đồ chơi.

MODULE 33: ĐÁNH GIÁ TRONG GIÁO DỤC MẦM NON
1.1. Tên chuyên đề bồi dưỡng:
Đánh giá trong giáo dục mầm non
2.1. Lý do chọn chuyên đề:
Cùng với xu thế đổi mới trong giáo dục mầm non (GDMN) , đánh giá
trong GDMN là một bộ phận không thể tách rời của quá trình quản lí chất lượng
8


chăm sóc, giáo dục trẻ. Đây là công việc thực hiện thường xuyên và có hệ thống.
Đánh giá trong GDMN sẽ giúp cho nhà quản lí, giáo viên mầm non (GVMN) có
những thông tin hữu ích làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch phục vụ tốt công

STT
NỘI DUNG
THỜI GIAN
1 Khái niệm, Vị trí vai trò, chức năng, yêu cầu của đánh 1/12 -> 5/12
giá trẻ trong GDMN
9


2
3
4
5

Đánh giá chất lượng cơ sở GDMN
6/12 -> 10/12
Đánh giá nghề nghiệp GVMN
11/12 ->15/12
Đánh giá sự phát triển của trẻ
15/12 ->20/12
Viết bài thu hoạch
20/12 ->25/12
6.1. Những kết quả bồi dưỡng về lý thuyết (kiến thức, kỹ năng, nhận
thức....) đạt được sau bồi dưỡng.
6.1.1. Tìm hiểu về một số vấn đề cơ bản về đánh giá trong GDMN
Module 33: Đánh giá trong GDMN giúp giáo viên hiểu rõ việc đánh giá
trẻ, đánh giá giáo viên và cơ sở GDMN.
6.1.2. Một số vấn đề cơ bản về đánh giá trong giáo dục mầm non.
Đánh giá trong giáo dục mầm non bao gồm việc đánh giá tổng hợp các
thành tố cơ bản: Sản phẩm đầu ra của giáo dục mầm non- trẻ em mức độ phù
hợp với mục tiêu và đáp ứng nhu cầu, các yếu tố đầu vào cơ sở vật chất, chương

dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ,
hình thành những yếu tố đầu tiên của hân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một.
* Một số nội dung đánh giá trong giáo dục mầm non:
- Đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục mầm non.
- Đánh giá nghề nghiệp giáo viên mầm non
- Đánh giá sự phát triển của trẻ.
* Một số phương pháp đánh giá trong giáo dục mầm non:
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp phỏng vấn, trò chuyện
- Phương pháp sử dụng bài tập/ trắc nghiệm
- Phương pháp sử dụng tình huống
- Phương pháp phân tích sản phẩm
- Phương pháp trao đổi với phụ huynh.
6.1.4. Đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục mầm non.
* Một số vấn đề liên quan đến đánh giá cơ sở giáo dục mầm non.
- Cơ sở giáo dục mầm non là nơi diễn ra các hoạt động nuôi dưỡng, chăm
sóc, giáo dục trẻ mầm non một cách có tổ chức, hướng tới phát triển toàn diện
cho trẻ, đáp ứng mục tiêu của giáo dục mầm non.
- Cơ sở giáo dục mầm non gồm:
+ Nhà trẻ, nhóm trẻ: Nhận từ 3 tháng đến 36 tháng tuổi
+ Trường, lớp mẫu giáo: Nhận từ 3 tuổi đến 6 tuổi
+ Trường mầm non: Là cơ sở giáo dục kết hợp với nhà trẻ và mẫu giáo, nhận
trẻ từ 3 tháng đến 6 tuổi.
- Chất lượng giáo dục mầm non là sự đáp ứng của nhà trường đối với các
yêu cầu về mục tiêu giáo dục mầm non được quy định tại Luật giáo dục.
* Đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục mầm non nhằm giúp nhà trường xác
định mức độ đáp ứng mục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn, để xây dựng kế
hoạch cải tiến, nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục.
- Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường mầm non: Gồm 5 tiêu
chuẩn, 31 tiêu chí và 93 chỉ số.

6.1.5. Đánh giá nghề nghiệp giáo viên mầm non.
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non là hệ thống các yêu cầu cơ bản về
phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, kiến thức, kĩ năng sư phạm mà GVMN
càn phải đạt được nhằm đáp ứng mục tiêu GDMN.
Mục đích ban hành Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non: Là cơ sở để
xây dựng, đổi mới mục tiêu, nội dung đào tạo, bồi dưỡng giáo viên mầm non ở
các cơ sở đào tạo giáo viên mầm non. Giúp GVMN tự đánh giá năng lực nghề
nghiệp, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch học tập, rèn luyện, phấn đấu nâng cao
phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ. Làm cơ sở để
đánh giá GVMN, để đề xuất chế độ, chính sách đối với GVMN.
Chuẩn nghề nghiệp GVMN gồm có 3 lĩnh vực: Phẩm chất chính trị, đạo
đức, lối sống kiến thức, và kĩ năng sư phạm. Mỗi lĩnh vực gồm có 5 yêu cầu.
Yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp GVMN là nội dung cơ bản, đặc trưng đòi hỏi
giáo viên phải đạt được để đáp ứng mục tiêu của GDMN ở từng giai đoạn. Mỗi
12


yêu cầu gồm có 4 tiêu chí. Tiêu chí của chuẩn là nội dung cụ thể thuộc mỗi yêu
cầu của chuẩn, thể hiện một khía cạnh về năng lực nghề nghiệp GVMN.
Các yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non:
Các yêu cầu thuộc lĩnh vực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống
+ Nhận thức tư tưởng chính tri, thực hiện trách nhiệm của một cong dân,
một nhà giáo đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
+ Chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước.
+ Chấp hành các quy định của ngành, quy định của trường, kỉ luật lao
động.
+ Có đạo đức, nhân cách và lối sống lành mạnh, trong sáng của nhà giáo,
có ý thức phấn đấu vươn lên trong nghề nghiệp.
+ Trung thực trong công tác, đoàn kết trong quan hệ với đồng nghiệp, tận
tình phục vụ nhân dân và trẻ.

+ Mục đích đánh giá trẻ hàng ngày: Là quá trình theo dõi những diễn biến
trạng thái tâm- sinh lý hàng ngày của trẻ thông qua các hoạt động ăn, ngủ, vui,
chơi, học tập,... nhằm phát hiện những biểu hiện tích cực hoặc tiêu cực của trẻ.
+ Nội dung đánh giá cụ thể: Những biểu hiện về tình trạng sực khỏe của
trẻ, trạng thái cảm xúc, thái độ, hành vi của trẻ. Kiến thức và kĩ năng của trẻ thể
hiện trong các hoạt động cụ thể.
+ Cách thức đánh giá: Phương pháp sử dụng có hiệu quả, dễ thực hiện là
phương pháp quan sát trẻ qua các hoạt động diễn ra trong ngày và trao đổi với
phụ huynh.
- Đánh giá sự phát triển của trẻ sau chủ đề giáo dục.
+ Mục đích đánh giá sự phát triển của trẻ sau chủ đề: Nhận định kết quả
mà trẻ đạt được so với mục tiêu chủ đề/ mục tiêu tháng đã đặt ra. Làm căn cứ
xây dựng hoặc điều chỉnh kế hoạch chủ đề giáo dục tiếp theo.
+ Nội dung đánh giá đánh giá cụ thể: Đánh giá kết quả đạt được của trẻ so
với mục tiêu của chủ đề theo các lĩnh vực phát triển thể chất, nhận thức, ngôn
ngữ, TC-KNXH và thẩm mỹ. Đánh giá sự phù hợp của những nội dung, các hoạt
động giáo dục của chủ đề với năng lực của trẻ.
+ Cách thức đánh giá: Đối với hình thức đánh giá sự phát triển của trẻ sau
chủ đề giáo dục, có thể sử dụng phối hợp các phương pháp tùy vào thông tin
cần thu thập mà mục đích đánh giá đặt ra để phân tích, đánh giá. Đánh giá khả
năng phối hợp nhóm, thái độ ứng xử với bạn bè, tính tự tin, tự lực. Đánh giá khả
năng sử dụng câu từ, ngữ,... của trẻ có thể sử dụng phương pháp trò chuyện trực
tiếp với trẻ quan sát trong quá trình giao tiếp với bạn bè. Đánh giá sự phát triển
của trẻ sau chủ đề được tổng hợp theo “Phiếu đánh giá trẻ cuối chủ đề”.
Cách xác định nguyên nhân:
+ Xem lại kế hoạch chủ đề.
+ Xem lại tương tác giáo viên với trẻ
Đánh giá sự phát triển của trẻ cuối độ tuổi
+ Mục đích đánh giá sự phát triển của trẻ cuối độ tuổi
+ Nội dung đánh giá cụ thể

cho trẻ có tính thụ động n, ỷ lại mà phải tạo cho trẻ tính tích cực , trẻ luôn là
trung tâm . Cụ thể như khi đánh giá trẻ qua các giai đoạn , cô nắm được trẻ còn
yếu ở mục tiêu nào , tại sao ? Từ đó tìm biện pháp dạy trẻ các bài học mà trẻ
chưa thực hiện được
VD : Trong LVPTTC bài Tung và bắt bóng một số trẻ trong lớp tôi chưa biết
cách bắt bóng để khi bắt không làm rơi bóng vì vậy trẻ sẽ không đạt trong mục
tiêu của bài học đó . Để trẻ có thể bắt được bóng tôi và các cô giáo trong lớp rèn
cho trẻ bài học đó thông qua trò chơi mọi lúc, mọi nơi để trẻ có kĩ năng bắt được
bóng và đạt được mục tiêu khi đánh giá trẻ .
- Ngoài ra khi học module này bản thân tôi cũng hiểu rõ được cách đánh giá
chuẩn GVMN , là một giáo viên cần phải chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức,
lối sống, có kiến thức kĩ năng sư phạm để đáp ứng mục tiêu GDMN.
2.2. Kết quả vận dụng:
15


Qua học tập BDTX module 33 bản thân tôi đã vận dụng được vào giảng
dạy như sau:
* Đánh giá trẻ
- Đánh giá trẻ theo giai đoạn cụ thể trong năm học
Ví dụ: Dựa vào kết quả đánh giá trẻ hằng ngày và đánh giá trẻ sau chủ đề
để tổng hợp, nhận định, đánh giá sự phát triển cúa trẻ cuổi độ tuổi (chỉ sổ nào trẻ
đã đạt qua theo dõi hằng ngày và sau chủ đề thì không phải xác định lại vào thời
gian cuổi năm học).
- Đánh giá trẻ qua các chủ đề trong năm học.
Ví dụ: Tôi căn cứ vào kết quả quan sát trẻ hằng ngày, qua trò chuyện,
phân tích sản phẩm của trẻ, sử dụng bài tập, trao đổi với phụ huynh để ghi kết
quả vào phiếu đánh giá trẻ. Đánh giá sự phát triển của trẻ sau mỗi chủ đề được
tổng hợp theo phiếu đánh giá số 1 và phiếu số 2 giúp tôi nắm được trẻ còn yếu ở
mục tiêu nào , tại sao ? Từ đó theo dõi, tìm biện pháp dạy trẻ các chủ đề sau, các

trong từng năm học .
- Linh động chọn các bài học phù hợp với trẻ lớp mình , phù hợp với điều
kiện của lớp học .. để từ đó đánh giá trẻ được phù hợp hơn.
- Trường lớp rộng đủ ánh sáng, sân chơi rộng và đồ chơi tương đối đầy
đủ, tạo cho trẻ hứng thú khi đến lớp.
* Hạn chế:
- Bản thân tôi còn có một số hạn chế khi lập các biểu bảng để đánh giá trẻ
trong năm học.
- Do số trẻ trên lớp còn là lớp ghép 4 độ tuổi (2 tuổi, 3 tuổi, 4 tuổi, 5 tuổi)
nên việc đánh giá trẻ cũng gặp 1 số khó khăn nhất là với những trẻ có biểu hiện
tự kỉ, tăng động .

Người viết thu hoạch

17




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status