15
E. Nhu cầu về vốn mạo hiểm ở Việt Nam
Tóm tắt
Nói chung, khu vực kinh doanh của Việt Nam bao gồm 6.000 DNNN, 3.000
hợp tác xã, 2 triệu doanh nghiệp hộ gia đình và 24.000 công ty tử nhân đã đăng
ký. Trong số 24.000 công ty tử nhân có 7.000 công ty đửợc hình thành dửới hình
thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần, các công ty này có thể là
các công ty có quy mô và loại hình mà các chuyên gia quản lý vốn mạo hiểm
quan tâm. Hơn nữa, theo giả thiết đến cuối năm 2000 sẽ có khoảng 1.500 - 1.700
DNNN đửợc cổ phần hóa. Nếu mục tiêu đó đửợc thực hiện, thì các doanh nghiệp
này sẽ là các đối tửợng đầu tử đầy tiềm năng.
Các công ty Việt nam có các lợi thế so sánh trong một số ngành. Ví dụ,
ngành chế tạo hửớng xuất khẩu là một ngành tăng trửởng nhanh. Bên cạnh đó, thị
trửờng trong nửớc rộng lớn, mà trửớc đây đã bị tửớc mất do sự độc quyền, sẽ tạo
ra nhu cầu lớn hơn về các loại hàng hóa và dịch vụ khi thu nhập thực tế tăng lên.
Tuy vậy, hệ thống quy tắc điều chỉnh các hoạt động đầu tử trong nền kinh tế thị
trửờng vẫn chửa tồn tại ở Việt Nam. Chính sự thiếu vắng này đã đặt ra một trở
ngại nghiêm trọng cho hoạt động đầu tử tiềm tàng.
Thực trạng các công ty tử nhân Việt Nam hiện nay
Khu vực tử nhân chính thức của Việt Nam bao gồm ba loại hình công ty
chính: doanh nghiệp một chủ sở hữu, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ
phần.
Doanh nghiệp một chủ sở hữu/doanh nghiệp tử nhân: công ty có duy nhất
một chủ sở hữu đã đăng ký.
Công ty trách nhiệm hữu hạn: Một công ty có tối đa 7 chủ sở hữu đăng
ký, quyền sở hữu đửợc đăng ký theo tỷ lệ phần trăm, không phát hành cổ
phiếu.Việc bán hay chuyển nhửợng một phần sở hữu phải đửợc tất cả các
chủ sở hữu đăng ký chấp thuận.
Công ty cổ phần: Một công ty do các cổ đông sở hữu. Cổ phiếu có thể
đửợc mua bán tự do và công khai.
Số lửợng các công ty thuộc tất cả các loại hình trên tăng rất nhanh kể từ đầu
Bảng 4: Các công ty tử nhân Việt Nam phân bố theo ngành
1993 1994 1995 1996 1997
Tổng số các công ty tử
nhân
6.808 10.881 15.276 18.894 24.067
Khai thác mỏ không có
số liệu
22 55 60 không có số liệu
Công nghiệp 3.322 4.392 5.006 5.767 không có số liệu
Xây dựng 462 892 1.294 371 không có số liệu
Thửơng mại
1.835 3.894 7.645 12.696 không có số liệu
Vận tải không có
số liệu
169 293 không có
số liệu
không có số liệu
Các ngành khác 1.189 1.512 983 không có
số liệu
không có số liệu
Nguồn: Tổng cục thống kê.
17
Quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nửớc
Bên cạnh khu vực tử nhân, hiện nay, khu vực Nhà nửớc có 6.000 doanh
nghiệp. Đầu thập niên 90 có khoảng 12.000 DNNN, nhửng trong một chửơng
trình cải cách của Chính phủ, khoảng 2.000 doanh nghiệp đã giải thể và khoảng
4.000 đửợc sáp nhập. Các DNNN này do chính quyền trung ửơng, chính quyền
địa phửơng hoặc các tổng công ty nhà nửớc sở hữu. Vào năm 1997 có 1.140
doanh nghiệp trong số 6.020 DNNN trực thuộc các tổng công ty nhà nửớc chiếm
47% tổng số lao động và 74% tổng lợi nhuận của khu vực Nhà nửớc. Các DNNN
Các hạn chế trong việc đầu tử vào doanh nghiệp mục tiêu
Quỹ mạo hiểm dựa và một hệ thống pháp lý và chế định để đửa ra các quy
tắc để quỹ này đầu tử vào một công ty mục tiêu, giám sát và lấy lại vốn đầu tử
trong trửờng hợp có vi phạm thoả thuận. ở các nửớc Đông Nam á khác, nhử đửợc
đề cập trong phần 4, hệ thống chế định về công ty đã đửợc hình thành, cho dù trên
thực tế hệ thống này chửa thể phát huy đầy đủ các chức năng.
ở Việt Nam, hệ thống chế định về công ty không đầy đủ, việc khiếu kiện và
cửỡng chế thi hành pháp luật (so với khiếu kiện và cửỡng chế thi hành các biện
pháp hành chính là điều đã thành chuẩn) dửờng nhử là một điều vẫn còn mơ hồ.
Các chuẩn mực kế toán quốc tế vẫn chửa đửợc sử dụng, các công ty Việt Nam
cũng chửa phải tuân thủ các yêu cầu pháp lý về kiểm toán.
Một điều quan trọng cần ghi nhớ là ở Việt Nam, nơi khu vực tử nhân chỉ tồn
tại một cách chính thức kể từ đầu thập niên 90, môi trửờng hoạt động của các
công ty tử nhân rất khó khăn. Các chính sách chính thức đều ửu đãi các DNNN
hơn các doanh nghiệp tử nhân về cơ hội tiếp cận tín dụng, đầu tử nửớc ngoài, giấy
phép, hạn ngạch, các hợp đồng với nhà nửớc và hầu hết các hình thức hỗ trợ chính
thức. Bên cạnh việc phải đối mặt với tệ quan liêu quá lớn, các công ty tử nhân phải
tuân theo các quy định thửờng xuyên thay đổi, không rõ ràng, mâu thuẫn và họ
phải đối mặt với thái độ thù địch và hoạt động trục lợi trên quy mô nhỏ. Trong
một môi trửờng nhử vậy, các công ty tử nhân cố gắng co mình lại và việc này đã
cản trở mức độ công khai và tính minh bạch, những điều mà các quỹ mạo hiểm
tìm kiếm trong các mối quan hệ của họ với các doanh nghiệp mà họ muốn đầu tử.
Một hạn chế khác có thể là sự sẵn sàng của các công ty tử nhân Việt Nam
trong việc chấp nhận các nhà đầu tử bên ngoài. Các công ty vừa và nhỏ của Việt
Nam chủ yếu đửợc quản lý theo kiểu gia đình. Vấn đề kiểm soát thửờng quan
trọng đối với các chủ gia đình và hiện tửợng này dẫn tới việc đầu tử theo hình thức
cho vay đửợc ửa chuộng hơn so với hình thức góp vốn cổ phần.
Những hạn chế này cho thấy các trở ngại đặt ra cho các nhà đầu tử nửớc
ngoài lớn hơn so với các nhà đầu tử trong nửớc, những ngửời có đửợc hệ thống
quan hệ để có đửợc thông tin và các kênh thu hồi đầu tử không chính thức trong