BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÁI BÌNH
VŨ THỊ QUYÊN
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE
SINH SẢN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA HỌC SINH
TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐÔNG THỤY ANH,
TỈNH THÁI BÌNHNĂM2018
LUẬN VĂNTHẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
THÁI BÌNH - NĂM 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÁI BÌNH
VŨ THỊ QUYÊN
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE
SINH SẢN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA HỌC SINH
TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐÔNG THỤY ANH,
TỈNH THÁI BÌNHNĂM2018
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Vũ Thị Quyên
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Vũ Thị Quyên, học viên khóa đào tạo trình độ Thạc sỹ năm
2017-2019, chuyên ngành Y tế Công cộng của Trường Đại học Y Dược Thái
Bình, xin cam đoan:
1.Đây là bản luận văn do bản thân tôi trực tiếp tham gia thực hiện đề
tài“Kiến thức, thái độ, thực hành về chăm sóc sức khỏe sinh sản và một số
yếu tố liên quan của học sinh Trường Trung học phổ thông Đông Thụy Anh”
thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Đức Thanh, GS.TS. Trần
Quốc Kham.
2. Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác được
công bố tại Việt Nam. Các số liệu và thông tin công bố trong nghiên cứu là
hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp
thuận của nơi nghiên cứu.
NGƢỜI CAM ĐOAN
Vũ Thị Quyên
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BPTT
Biện pháp tránh thai
Vị thành niên
WHO
World Health Organization
(Tổ chức Y tế Thế Giới)
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................................. 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN ............................................................................... 3
1.1. Tuổi vị thành niên và sức khỏe sinh sản ................................................ 3
1.1.1. Một số khái niệm ............................................................................. 3
1.1.2. Những đặc trưng cơ bản của tuổi vị thành niên .............................. 5
1.1.3. Các nội dung chăm sóc sức khỏe sinh sản ...................................... 7
1.2. Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan của vị thành niên về
chăm sóc sức khỏe sinh sản. ......................................................................... 9
1.2.1. Trên Thế giới ................................................................................... 9
1.2.2. Tại Việt Nam ................................................................................. 15
Chƣơng 2:ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .............. 22
2.1. Địa bàn, đối tượng và thời gian nghiên cứu ......................................... 22
2.1.1. Địa bàn nghiên cứu ....................................................................... 22
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu ................................................................... 23
2.1.3. Thời gian nghiên cứu .................................................................... 23
2.2. Phương pháp nghiên cứu...................................................................... 24
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu ....................................................................... 24
2.2.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu .............................................. 24
2.2.3. Phương pháp thu thập số liệu ........................................................ 27
2.2.4. Biến số, chỉ số nghiên cứu ............................................................ 28
2.2.5. Các biện pháp khống chế sai số .................................................... 30
Bảng 3.2.
Đặc điểm hoàn cảnh sống của đối tượng nghiên cứu …………32
Bảng 3.3.
Tỷ lệ học sinh biết về thời điểm dễ có thai nhất trong ............... 33
Bảng 3.4.
Tỷ lệ học sinh biết các dấu hiệu của phụ nữ được cho là có thai .... 34
Bảng 3.5.
Tỷ lệ học sinh biết về hậu quả khi làm mẹ quá trẻ ..................... 35
Bảng 3.6.
Tỷ lệ học sinh biết các cơ sở nạo phá thai an toàn ..................... 37
Bảng 3.7.
Tỷ lệ học sinh biết về các biện pháp tránh thai .......................... 38
Bảng 3.8.
Quan điểm của học sinh về các biện pháp tránh thai phù hợp nhất
với vị thành niên ......................................................................... 39
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ đối tượng tham gia nghiên cứu theo khối học .................. 31
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ học sinh biết về độ tuổi vị thành niên ............................... 32
Biểu đồ 3.3. Tỷ lệ học sinh biết về hậu quả của nạo phá thai ......................... 36
Biểu đồ 3.4. Mức độ hiểu biết về chăm sóc sức khỏe VTN của học sinh ...... 44
Biểu đồ 3.5. Tỷ lệ học sinh được truyền thông về SKSS qua môn học .......... 46
Biểu đồ 3.6. Tỷ lệ học sinh được tư vấn truyền thông chăm sóc SKSS ......... 47
Biểu đồ 3.7. Địa điểm học sinh đi khám bệnh liên quan đến SKSS .............. 49
Biểu đồ 3.8. Người đi cùng học sinh khi khám bệnh về SKSS ..................... 52
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Vị thành niên là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em thành người trưởng
thành. Vị thành niên có đặc điểm tâm sinh lý đặc thù như thích thử nghiệm,
thích khám phá năng lực bản thân, năng động, sáng tạo. Với những đặc điểm
này, tuổi vị thành niên liên tục đối mặt với những thách thức cũng như nguy
cơ. Trong bối cảnh trên, vị thành niên cần được cung cấp thông tin chính xác
và đúng đắn giúp các em hiểu quá trình phát triển bản thân, nguy cơ cho sức
khỏe, điều kiện cần thiết để khỏe mạnh. Vị thành niên cần dịch vụ y tế dự
phòng, điều trị và nâng cao sức khỏe mang tính toàn diện bao gồm các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục [12].
Chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS) tuổi vị thành niên là một vấn đề
thời sự đang rất được quan tâm ở nước ta. Bộ Y tế cũng đã đưa ra “Hướng
dẫn quốc gia về các dịch vụ CSSKSS” năm 2016 cho lứa tuổi vị thành niên.
Vị thành niên là người trong độ tuổi 10 - 19, được phân làm 3 giai đoạn: Vị
thành niên sớm: từ 10-13 tuổi. Vị thành niên trung bình: từ 14-16 tuổi. Vị
thành niên muộn: từ 17-19 tuổi [6].
Nhu cầu của các em học sinh về thông tin, giáo dục giới tính và sức khỏe sinh
sản vị thành niên như thế nào? Có những yếu tố nào liên quan đến kiến thức,
thái độ, thực hành về sức khỏe sinh sản vị thành niên. Vì những lý do trên
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với mục tiêu sau:
1. Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị
thành niên của học sinh Trường Trung học phổ thông Đông Thụy Anh, huyện
Thái Thụy, tỉnh Thái Bình năm 2018.
2. Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về
chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên của các đối tượng tại địa bàn
nghiên cứu.
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN
1.1. Tuổi vị thành niên và sức khỏe sinh sản
1.1.1. Một số khái niệm
Tuổi vị thành niên: Vị thành niên (VTN) là giai đoạn trong quá trình
phát triển của con người với đặc điểm lớn nhất là sự tăng trưởng nhanh chóng
để đạt đến sự trưởng thành về cơ thể , sự tić h lũy kiế n thức , kinh nghiê ̣m xã
hô ̣i và đinh
̣ hin
̀ h nhân cách để có thể lãnh trách nhiệm đầy đủ trong cuộc sống
sau này. Giai đoa ̣n này đươ ̣c hiể u mô ̣t cách đơn giản là giai đoa ̣n : "sau trẻ con
và trước người lớn”.
Theo định nghĩa của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) và Tổ chức
Y tế thế giới (WHO) thì VTN là những người trong độ tuổi từ 10 đến 19 tuổi.
Đây là giai đoạn phát triển về thể chất, trí tuệ và những thay đổi hành vi, tâm
lý được nhận biết qua việc nâng cao mức độ tự chủ bản thân, nhận thức về cái
khám thai, sử dụng biểu đồ chuyển dạ và tư vấn sau sinh của các cán bộ y tế,
trong đó có các cán bộ TYT xã còn thấp hơn so với yêu cầu của Hướng dẫn
Quốc gia. Đây cũng là một trong những lý do dẫn tới việc tiếp cận và sử dụng
dịch vụ CSSKSS của người dân còn hạn chế [21], [31], [41], [44].
Các nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tử vong mẹ là các tai biến sản khoa
trong quá trình thai nghén (thời kỳ mang thai, chuyển dạ và sau sinh), do can
thiệp sản khoa, chẩn đoán sai, điều trị không đúng. Cụ thể như băng huyết,
nhiễm trùng, tiền sản giật/sản giật, đẻ khó, nạo hút thai không an toàn, chửa
ngoài tử cung, tắc mạch ối và các trường hợp tử vong có liên quan đến gây
mê do mổ lấy thai… trong đó nguyên nhân gây tử vong mẹ nhiều nhất là băng
huyết. Đây là nguyên nhân chính gây ra tử vong mẹ ở các nước đang phát
triển, chiếm hơn 25% tổng số ca tử vong. Nhiễm khuẩn sau đẻ là nguyên nhân
quan trọng xếp thứ 2 của chết mẹ ở các nước đang phát triển, chiếm đến 20%
tổng số ca chết mẹ [19], [20], [42], [43].
5
Người ta nhận thấy, tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới ở phụ
nữ có liên quan đến các yếu tố như: thu nhập, trình độ học vấn, tiền sử mắc
nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới... Theo Trịnh Hữu Vách (2013), tỷ lệ mắc
bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới ở nhóm phụ nữ có thu nhập thấp,
trình độ học vấn thấp, thiếu hiểu biết về bệnh, có tiền sử mắc bệnh nhiễm
khuẩn đường sinh dục, hành vi tình dục không an toàn, cao hơn so với nhóm
khác [45].
Vai trò của truyền thông trực tiếp trong cung cấp thông tin về chăm sóc
SKSS cho nhóm phụ nữ nói chung, vị thành niên nói riêng, đã được chứng
minh có hiệu quả trong một số tài liệu và nghiên cứu khác. Bên cạnh đó, phải
kể đến vai trò của truyền thông lồng ghép vào các hoạt động chăm sóc sức
khỏe khác cũng đã mang lại hiệu quả rất đáng khích lệ [38].
xương dài ở tay, chân. Ở các em nữ bắt đầu có sự tích tụ mỡ ở ngực, chậu
hông và đằng sau vai, ở các em nam có sự phát triển và tích tụ mỡ ở các khối
cơ. Đến cuối tuổi dậy thì, các em đã trở thành những chàng trai, cô gái với
vóc dáng, khả năng thể chất và sức mạnh khác nhau.
Những biến đổi về tâm lý:
Tuổi dậy thì là thời kỳ chuyển tiếp từ giai đoạn trẻ thơ sang tuổi trưởng
thành, là giai đoạn không còn là trẻ con nhưng vẫn chưa là người lớn. Ở giai
đoạn này, tâm lý có những biểu hiện thay đổi so với thời niên thiếu như: buồn
vui bất chợt, hay tư lự, mộng mơ, có cảm giác xấu hổ khi đứng gần hoặc giao
tiếp với bạn khác giới cùng lứa tuổi. Các em ý thức được mình không còn là
trẻ con nữa, lúc nào cũng muốn thử sức mình và muốn khám phá những điều
mới lạ. Các em thường quan tâm đến những thay đổi của cơ thể, nhất là các
em gái dễ băn khoăn, lo lắng, buồn rầu về những nhược điểm ở cơ thể khi so
sánh với các bạn cùng lứa. Các em cũng bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến bạn
bè, xã hội và muốn thoát khỏi sự bảo hộ của gia đình. Cũng trong lứa tuổi
này, các em thường có muốn tìm hiểu về khả năng hoạt động tình dục của
mình [6].
7
Sự phát triển tâm lý, tình cảm của tuổi vị thành niên có sự khác nhau
giữa các cá nhân và phụ thuộc không ít vào môi trường sống của vị thành niên
trong gia đình, nhà trường và xã hội. Có thể nói cách sống và ứng xử của các
bậc phụ huynh, thầy cô giáo và đặc biệt là bạn bè cùng lứa có ảnh hưởng
không nhỏ đến sự hình thành và phát triển tâm lý, tình cảm của các em trong
lứa tuổi này.
1.1.3. Các nội dung chăm sóc sức khỏe sinh sản
1.1.3.1. Nội dung chính của chăm sóc sức khỏe sinh sản ở Việt Nam
Tại Việt Nam, chăm sóc sức khỏe sinh sản chia thành 10 nội dung [6]
- Vị thành niên và thanh niên với vấn đề bạo hành.
- Kỹ năng sống liên quan đến sức khỏe sinh sản/sức khỏe tình dục của
vị thành niên.
- Dịch vụ sức khỏe thân thiện với vị thành niên và thanh niên.
- Thăm khám sức khỏe sinh sản cho vị thành niên và thanh niên.
- Sử dụng chất gây nghiện ở vị thành niên và thanh niên.
- Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho nhóm vị thành niên/thanh niên yếu thế.
- Tư vấn sức khỏe sinh sản vị thành niên và thanh niên [6].
1.1.3.4. Dịch vụ sức khỏe thân thiện với vị thành niên.
Lứa tuổi vị thành niên là lứa tuổi phải đối mặt với nhiều rủi ro và thách
thức, thậm chí có những rủi ro vượt ngoài phạm vi kiểm soát của gia đình. Do
đó, sự quan tâm của xã hội là một đòi hỏi cần thiết trong quá trình chăm sóc
sức khỏe vị thanh niên. Các dịch vụ và hỗ trợ và chăm sóc y tế vị thanh niên
đã ra đời nhằm đáp ứng những yêu cầu trên.Trong đó, dịch vụ sức khỏe thân
thiện với vị thành niên là một trong những dịch vụ tiêu biểu trong việc hỗ trợ
và chăm sóc sức khỏe vị thành niên một cách hiệu quả.
Dịch vụ sức khỏe thân thiện với vị thành niên đáp ứng nhu cầu của
những thanh thiếu niên trong lứa tuổi này một cách tế nhị và có hiệu quả.Dịch
vụ này sử dụng tối đa các nguồn lực y tế nhằm đảm bảo quyền lợi và chăm
sóc sức khỏe vị thành niên một cách hiệu quả nhất.
9
Dịch vụ sức khỏe thân thiện với vị thành niên phải là các dịch vụ có thể
tiếp cận được và phù hợp với vị thành niên. Dịch vụ sức khỏe thân thiện với
vị thành niên cần đảm bảo các tiêu chuẩn như địa điểm, giá cả phù hợp, an
toàn, phục vụ theo những cách thức mà vị thành niên chấp nhận được nhằm
đáp ứng nhu cầu của vị thành niên và khuyến khích các em trở lại cơ sở y tế
khi cần, cũng như giới thiệu dịch vụ với bạn bè [6].
con mỗi năm [51], [58], [66]. Tỷ suất sinh ở lứa tuổi vị thành niên dao động
khá lớn giữa các khu vực: 115/1000 phụ nữ ở Tây Phi; 64/1000 phụ nữ ở khu
vực Mỹ Latin, khu vực Đông Nam Á là 45/1000 phụ nữ và Đông Á chỉ là
7/1000 phụ nữ. Sự khác biệt này cho thấy, dù tỷ suất sinh toàn cầu của lứa
tuổi vị thành niên đã giảm (từ 65/1000 phụ nữ năm 1990 xuống còn 47/1000
phụ nữ năm 2015)nhưng đây vẫn là một vấn đề rất đáng quan tâm [47], [48].
Mang thai và sinh con sớm ở lứa tuổi này không chỉ dẫn đến nguy cơ
cho những đứa trẻ mà nó còn ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe của các nữ vị
thành niên. Các bà mẹ ở lứa tuổi từ 10 đến 19 phải đối diện với nguy cơ tiền
sản giật, viêm nội mạc tử cung, nhiễm khuẩn huyết cao hơn so với các phụ nữ
ở lứa tuổi từ 20 đến 24. Hơn nữa, nhu cầu về tình cảm, tâm lý và xã hội đối
với các nữ vị thành niên mang thai cũng cao hơn so với phụ nữ ở các lứa tuổi
khác [54], [69].
Bên cạnh vấn đề mang thai sớm, mỗi năm, có khoảng 3,9 triệu nữ giới
trong độ tuổi 15 đến 19 nạo phá thai không an toàn [51]. Nên biết rằng, 8%
nguyên nhân tử vong thai kỳ ở phụ nữ là do nạo phá thai. Đối với vị thành
niên, nguy cơ này càng nguy hiểm hơn vì các em có xu hướng tìm đến các cơ
sơ nạo phá thai không an toàn và khi có các triệu chứng về sức khỏe sau khi
nạo phá thai, các em cũng sợ sệt, trì hoãn việc đến các cơ sở y tế vì lo lắng.
Điều này càng làm tăng nguy cơ tử vong, ảnh hưởng tới sức khỏe sinh sản của
các em sau này [59], [69].
11
Một vấn đề sức khỏe quan trọng khác ở lứa tuổi vị thành niên đó là
HIV/AIDS. Theo thống kê của WHO, năm 2017 có khoảng 1,8 triệu trẻ vị
thành niên mắc HIV trên toàn cầu, chiếm 5% tổng số người nhiễm HIV. Tuy
nhiên, vị thành niên mới nhiễm HIV lại chiếm tới 16% số người trẻ mới mắc
HIV [64], [69].
nữ giới tại đều có các kiến thức đúng nhất định về sức khỏe sinh sản. Cụ thể,
tỷ lệ nam giới biết cách phòng tránh thai bằng bao cao su cao hơn so với nữ
(chiếm 95,1%) và nữ giới biết về dụng cụ tử cung chiếm tỷ lệ cao hơn
(56,5%). Trên 90% vị thành niên và thanh niên (cả nam và nữ) mong muốn có
các dịch vụ tư vấn đề sức khỏe sinh sản vị thành niên [57].
Theo tác giả Yayat Suryati, khi tiến hành nghiên cứu kiến thức, thái độ,
thực hành về sức khỏe sinh sản của học sinh trung học cơ sở tại các trường tư
thục và công lập tại thành phố Cimahi, Indonesia, kết quả cho thấy: các học
sinh của cả trường công lập và tư thục đều có kiến thức, thái độ và thực hành
khá tốt về SKSS. Thông qua việc thiết kế các câu hỏi để học sinh tự trả lời sau
đó đánh giá bằng tính điểm, nghiên cứu cũng so sánh sự khác biệt của hai
nhóm học sinh tại 2 mô hình trường (công lập và tư thục) đối với các vấn đề
SKSS. Tuy nhiên, các test kiểm định đã chỉ ra, những sự khác biệt về kiến
thức, thái độ, thực hành đối với SKSS của học sinh tại trường công lập và tư
thục là không có ý nghĩa thống kê [70].
Khi tìm hiểu về kiến thức, thái độ và thực hành của nữ vị thành niên
liên quan đến SKSS tại các trường trung học cơ sở ở thành phố Riyadh, Ả
Rập Xê Út, Sharifa và cộng sự đã nhận thấy, có tới hơn 2/3 số học sinh nữ
tham gia nghiên cứu có kiến thức về SKSS chưa đúng. Cụ thể, với vấn đề
phòng tránh thai và kế hoạch hóa gia đình, đa số các học sinh có kiến thức
đúng về thuốc tránh thai (87,1%) và 72% biết rằng việc cho con bú cũng là
một biện pháp hỗ trợ cho kế hoạch hóa gia đình; trong khi các em biết rất ít về
hình thức triệt sản ở nam và nữ. Với các bệnh LTQĐTD, tỷ lệ học sinh trả lời
đúng cao nhất là đối với HIV/AIDS, các bệnh khác (lậu, Chlamydia, Herpes
sinh dục) có tỷ lệ trả lời đúng thấp hơn nhiều [60].
13
Nghiên cứu cũng chỉ ra, có tới 95,4% nữ sinh thực hành vệ sinh đúng
giới có QHTD ở lứa tuổi dưới 15 là rất thấp, sau đó tăng dần ở độ tuổi 15
(19%) và 16 (32%). Có khoảng 26% phụ nữ dưới 20 tuổi chưa có
QHTD.Trong khi đó, tỷ lệ QHTD lần đầu ở nam độ tuổi 13 - 14 là khoảng 5 10%. Tỷ lệ này cũng tăng lên ở độ tuổi 15 (22%) và 16 (35%) [53].
Tỷ lệ vị thành niên nữ sử dụng các biện pháp tránh thai cho lần quan
hệ tình dục đầu tiên khác nhau ở các lứa tuổi. Với vị thành niên nữ độ tuổi
từ 12 - 14, chỉ có khoảng 52% sử dụng các biện pháp tránh thai trong lần
QHTD đầu tiên. Trong khi đó, có 82% nữ giới 16 tuổi sử dụng trong lần
QHTD đầu tiên và con số này ở nữ giới 17 tuổi, đã QHTD là 95%.
Về vấn đề mang thai và nạo phá thai, đa phần ở nữ giới từ 13 tuổi trở
xuống, khi mang thai, họ sẽ lựa chọn giải pháp phá thai. Việc phá thai giảm
dần khi lứa tuổi tăng lên và ở nữ giới trên 17 tuổi, số ca phá thai chỉ bằng 1
nửa so với số trường hợp quyết định sinh con [53].
Một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao kiến thức về sức khỏe sinh
sản ở vị thành niên, đó chính là sự chia sẻ, hướng dẫn và hỗ trợ từ gia đình.
Để tìm hiểu về vấn đề này, Abubakar và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu
cắt ngang trên 790 người trong độ tuổi từ 10 đến 24, tại Ghana. Kết quả thu
được cho thấy: khoảng 82,3% cha mẹ có dành một số khoảng thời gian để
thảo luận với con cái về vấn đề sức khỏe sinh sản. Tỷ lệ này khá khác biệt ở
người mẹ và người bố. Trong khi có 78,8% đối tượng cho biết rằng mẹ của họ
có trò chuyện với họ về vấn đề này, thì chỉ có 53,5% đối tượng cho biết rằng,
bố của họ cũng chia sẻ với họ về chủ đề SKSS VTN. Đồng thời, các chủ đề
được người mẹ đưa ra cũng đa dạng và bao quát hơn. Đa phần các chủ đề
được nhắc tới là: hạn chế QHTD sớm (73,6%), kinh nguyệt ở nữ giới (63,3%)
và HIV/AIDS (61,5%). Trong khi đó, việc sử dụng bao cao su là 5,2% và sử
dụng các biện pháp tránh thai khác là 9,3%. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng,
phần lớn các cuộc nói chuyện này đều do cha mẹ chủ động với con cái [49].
15