CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do - Hạnh phúc
HỒ SƠ XÉT CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
- Tên sáng kiến: Giải pháp giảng dạy thơ Đường luật Trung đại
Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 7
- Tác giả
: Nguyễn Thị Thu Nam
- Đơn vị công tác: Trường THCS Bá Hiến
- Chức vụ
: Giáo viên
- Trình độ chuyên môn: Đại học Ngữ văn
Bá Hiến, năm 2019
0
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng sáng kiến huyện Bình Xuyên
a) Tác giả sáng kiến hoặc các đồng tác giả sáng kiến (nếu có):
Nguyễn Thị Thu Nam
- Ngày tháng năm sinh: 07/11/1979
Nam, nữ: Nữ
không khí thỏa mái ngay ở phần khởi động bài học để kích thích hứng thú học
tập của học sinh bằng nhiều hình thức khác nhau như từ tình huống thực tế, qua
đoạn phim hoạt hình, qua câu chuyện lịch sử, qua việc giới thiệu các địa danh...
Ví dụ: Khi dạy bài thơ “Phò giá về kinh” của Trần Quang Khải giáo viên có
thể cho học sinh xem đoạn phim hoạt hình “Cuộc kháng chiến chống quân
Mông Nguyên lần 2 năm 1285” với thời gian 2 phút, giới thiệu về Trần Quang
Khải và trận đánh Hàm Tử ,Chương Dương để thu hút sự chú ý, sau đó dẫn vào
bài, tạo sự hứng thú và bước đầu giúp các em có hiểu biết sơ giản về tác phẩm để
các em thích thú tìm hiểu bài học.
Giáo viên để học sinh bộc lộ và dẫn vào bài.Như vậy với tình huống hết
sức gần gũi đã gây được hứng thú với học sinh ,các em không còn thấy bài thơ
xa lạ và có tâm thế sẵng sàng khám phá tác phẩm.
Giải pháp 2: Dạy học tích hợp các với các phân môn và các môn học khác.
Để giờ dạy thơ Đường luật đạt kết quả cao, giáo viên cần chú ý tới việc
tích hợp với các phân môn khác như môn Lịch sử, môn Địa lý, môn Giáo dục
công dân ... Có hiểu biết về các lĩnh vực khác sẽ giúp các em chủ động hơn khi
khám phá tác phẩm.
Khi dạy thơ Đường luật giáo viên có thể tích hợp với các phân môn Tiếng
Việt và Tập làm văn để củng cố và nâng cao kiến thức cho học sinh. Trong mỗi
bài thơ Đường luật giáo viên có thể dễ dàng tích hợp với phân môn tiếng Việt
về: từ Hán Việt, từ đồng âm, từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa.
Ví dụ: Từ “Nam đế”: Hoàng đế nước Nam, hiểu là “vua nước Nam”. Tại
sao tác giả không dùng chữ “Nam vương” cũng có nghĩa là “vua nước Nam”?
Dùng chữ “Nam đế” tác giả bài “Sông núi nước Nam” muốn biển hiện niềm tự
hào, tự tôn dân tộc. Đằng sau câu thơ ta nghe được một tiếng nói mạnh mẽ,
kiêu hãnh: Phương Nam ta cũng có đế, bình đẳng, ngang hàng với phương Bắc
không kẻ thù nào được phép coi thường.
Thực tế khi giảng dạy giáo viên có thể tích hợp với các nội dung khác một
cách linh hoạt tùy thuộc vào bài học cụ thể. Có thể tích hợp thông qua việc
2
quan đến tác giả và tác phẩm. Bằng những kiến thức ấy giáo viên làm cho học
sinh nhập cuộc và tìm hiểu tác phẩm tốt hơn, cặn kẽ hơn, hay trí ít cũng giúp
các em vững tâm hơn khi đứng trước những bài thơ Đường luật.
Ngoài ra giáo viên có thể đưa học sinh vào thế giới quan của các nhà thơ,
bởi tác phẩm văn học là sự phản ánh hiện thực khách quan qua sự nhào nặn của
người nghệ sĩ. Tác phẩm là nơi nhà văn gửi gắm tư tưởng tình cảm nên khi dạy
3
giáo viên cần giới thiệu cho học sinh những nét tiêu biểu về thân thế và hoàn
cảnh sáng tác của tác phẩm, điều này có ảnh hưởng rất lớn tới việc xác định ý
nghĩa giá trị của tác phẩm.
Ví dụ: khi dạy bài “Qua đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan, ngoài
những thông tin mà SGK cung cấp, giáo viên có thể cung cấp thêm cho học
sinh về tác giả như: thơ Bà Huyện Thanh Quan thường viết về thiên nhiên,
phần lớn là vào lúc trời chiều, gợi lên cảm giác vắng lặng, buồn bã. Cách bà
miêu tả trong những bài thơ giống như những bước tranh thủy mặc chấm phá.
Hơn nữa, nói cho đúng thì cảnh trong thơ bà thực tế cũng không phải là cảnh
mà là tình. Tình cảm của bà thường là sự nhớ thương da diết đối với quá khứ
vàng son một đi không trở lại. Do vậy người ta gọi bà là nhà thơ hoài cổ.
* Về tác pẩm:
+ Đặt bài thơ trong hoàn cảnh ra đời.
Khi tìm hiểu tác phẩm, giáo viên cần cho học sinh tìm hiểu hoàn cảnh ra
đời, vì hoàn cảnh ra đời có ảnh hưởng rất lớn đến giá trị tư tưởng của bài thơ.
Nếu giáo viên không hướng dẫn học sinh tìm hiểu hoàn cảnh ra đời của tác
phẩm là một điều rất đáng tiếc.
Ví dụ: Khi giảng về hoàn cảnh ra đời của bài “Phò giá về kinh” của Trần
Quang Khải, ngoài thông tin trong sách giáo khoa, giáo viên có thể cung cấp
thêm: thời đại Lí - Trần là thời đại hùng mạnh của hào khí Đông A (Đông A là
chiết tự tên họ Trần gồm hai chữ: chữ Đông ghép với chữ A trong Hán tự). Hào
không hiểu nên không nắm bắt được nội dung và nghệ thuật của bài thơ vì thế
không có hứng thú và sợ học. Một lí do rất dễ hiểu là vốn từ vựng Hán Việt của
học sinh rất nghèo nàn nên giáo viên cần giúp học sinh chủ động tìm hiểu nghĩa
của các từ đồng thời bồi dưỡng vốn từ Hán Việt cho học sinh, giúp các em
bước đầu hiểu văn bản, có năng lực vận dụng từ Hán Việt trong giao tiếp và tạo
lập văn bản. Đây cũng chính là cách tích hợp với phân môn Tiếng Việt.
Học sinh có thể tham khảo trong phần chú thích ở mỗi bài trong SGK.
Như vậy sau khi đã có những hiểu biết về tác giả tác phẩm học sinh sẽ
vững vàng để tìm hiểu giá trị nghệ thuật và nội dung tư tưởng bài thơ.
Giải pháp 5: Tìm hiểu giá trị nghệ thuật và nội dung tư tưởng của bài thơ
gắn với Thi pháp thơ Đường luật.
* Tìm hiểu thể thơ.
Thể thơ có vai trò quan trọng trong việc tìm hiểu một tác phẩm thơ Đường
luật, bỏ qua công đoạn này là giáo viên đó bỏ qua nét tinh hoa độc đáo nhất của
5
thơ Đường luật và hiệu quả cảm nhận tác phẩm của học sinh sẽ giảm đi, vì vậy
giáo viên cần hướng học sinh đến việc tìm hiểu thể thơ của từng bài thơ.
Ví dụ: khi dạy bài thơ “Qua đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan và bài
“Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến giáo viên cần giúp học sinh nhận biết
thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật, từ đó nhận dạng được thể thơ của tác
phẩm. Để làm tốt hơn việc này, ngoài những điều đã được cung cấp ở SGK, giáo
viên cần giúp học sinh hiểu biết thêm và chỉ rõ cụ thể trong bài: đây là thể thơ
được định hình từ thời nhà Đường (Trung Quốc) và được coi là tiêu biểu nhất
của thơ Đường luật.
+ Về số chữ trong câu, số câu trong bài: Bài thơ có 8 câu, mỗi câu 7 chữ.
+ Về vần: Độc vận, vần chân ở cuối câu 1 và các câu chẵn và là vần bằng.
+ Về đối: Hai câu thực và hai câu luận thường đối nhau. Có khi đối ngay ở
Trên thực tế sáng tác, không phải bài thơ nào cũng có kết cấu 4 phần một
cách cứng nhắc như vậy. Do đó, khi phân tích kết cấu một bài thơ Đường luật
phải bám sát vào thực tế của văn bản, không nên áp đặt khuôn mẫu vào việc
phân tích mà cần phải linh hoạt để làm nổi bật nội dung của bài thơ.
* So sánh phiêm âm với bản dịch thơ.
Với những bài thơ Đường luật viết bằng chữ Hán gồm 3 phần: phiên âm,
dịch nghĩa và dịch thơ,không phải ngẫu nhiên mà SGK đưa vào như vậy mà đó
là dụng ý có tác dụng.Vì vậy, giáo viên cần giúp học sinh đọc thật kĩ để so sánh
và tìm ra sự khác biệt giữa bản phiên âm với bản dịch thơ.khi đó học sinh
không chỉ hiểu mà còn thấy được sự sáng tạo tài tình việc sử dụng từ ngữ điêu
luyện và hiểu được tinh thần, tư tưởng, tâm hồn của nhà thơ.
- Ví dụ: Khi dạy bài “Sông núi nước Nam” cuả Lý Thường Kiệt giáoviên
cần giúp học sinh phát hiện câu 1, 2, 4 vần với nhau ở tiếng cuối. Ba tiếng bắt
vần với nhau đều là vần bằng, thanh không. Ở bản dịch thơ, ba tiếng cuối câu 1,
2, 4 cũng vần với nhau: “ở”, “sở”, “vỡ”. Khác với bản nguyên tác là người dịch
dùng vần trắc, hai thanh hỏi, ngã nhưng vẫn đúng luật thơ, đọc lên ta vẫn thấy
xuôi tai, hài hòa, cân đối; vẫn thể hiện được tinh thần của bài thơ.
* Phân tích giá trị nghệ thuật của bài thơ qua phép đối và các biện pháp nghệ
thuật khác.
- Đối là đặt hai câu đi sóng đôi cho ý và chữ trong hai câu ấy cân xứng với
nhau. Đây là yếu tố bắt buộc trong thơ Đường luật (Đối: đối xứng, đăng đối,
đối ứng để tạo nên sự hài hoà chứ không phải đối lập). Thơ Đường luật có tới
11 loại đối như đối câu, đối từ, đối ý, đối nhip... Một cặp đối, một cặp thơ được
coi là một cặp đốì hoàn chỉnh khi nó đối nhau về: từ loại, nhịp, ý.
Để giúp học sinh hiểu và cảm được hết giá trị nội dung của bài thơ, giáo
viên cần phân tích giá trị nghệ thuật của bài thơ qua sự kết hợp phép đối với
các biện pháp nghệ thuật khác như: ẩn dụ, so sánh, điệp từ, đảo ngữ... Đây là
7
hoàn cảnh xã hội đương thời với rất nhiều sự đảo điên của các giá trị và quan
hệ, khi thực dân Pháp xâm lược và xã hội Việt Nam đang chuyển dần sang một
nước thuộc địa nửa phong kiến thì càng thấy rõ hơn giá trị của sự khẳng định
tình bạn, tình người trong bài thơ.
8
+ Khả năng áp dụng của sáng kiến:
Sau khi áp dụng sáng kiến trên vào giảng dạy thơ Đường Luật trung đại
Việt Nam trong chương trình Ngữ Văn 7 tôi đã thu được hiệu quả nhất định:
Học sinh không còn ngại và sợ mà rất hứng thú học tập,hiểu bài hơn và yêu
thích thơ Đường luật trung đại Việt Nam.
Với các phương pháp tiếp cận trên, có thể áp dụng đại trà cho tất cả các
đối tượng học sinh: giỏi, khá, trung bình ...và ở tất cả các trường THCS trong
toàn huyện.
Sáng kiến có tính khả thi cao và được áp dụng vào các tiết dạy thơ Đường
luật trong chương trình Ngữ văn 7.
- Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
giải pháp trong đơn theo ý kiến của tác giả.
+ Về lợi ích kinh tế:
Áp dung sáng kiến này, giáo viên tiết kiệm được thời gian,công sức vào
việc soạn bài,sử dụng công nghệ thông tin, phương pháp giảng dạy phù hợp
nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy tại các trường THCS trong huyện.
+ Về lợi ích xã hội:
Sau một thời gian vận dụng sáng kiến tôi bước đầu thu được kết quả khả
quan. Học sinh hứng thú trong việc tìm hiểu các văn bản thơ Đường luật. Từ đó
có hứng thú và yêu thích môn học, nâng cao kết quả học tập.
Các thông tin cần được bảo mật (nếu có): Không
d) Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
- Đối với giáo viên: cần phối hợp các phương pháp dạy học cho phù hợp