BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1. Lời giới thiệu
Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân,
chịu trách nhiệm chăm sóc - giáo dục trẻ từ 0-6 tuổi. Đây là gia đoạn đặt nền
móng đầu tiên quan trọng của nhân cách con người. Nếu không lmf tốt việc
chăm sóc - giáo dục trẻ trong những năm này thì việc giáo dục lại hết sức khó
khăn, phức tạp. Trên mọi mặt của đời sống đã có sự thay đổi rõ nét. Cuộc sống
con người ngày càng văn minh hơn, hiện đại hơn. Để bắt nhịp cùng cuộc sống
hiện đại đòi hỏi con gười cần trư duy, năng động, sáng tạo và linh hoạt.
Trong trường mầm non hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ và
đồ chơi là phương tiện giúp trẻ thực hiện các hoạt động đó, đồng thời cũng
chính là cách giúp trẻ tiếp thu bài học một cách sinh động, nhiệt tình hơn. Đồ
dùng, đồ chơi góp phần giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, nhận thức, ngôn
ngữ, tình cảm, kỹ năng xã hội và thẩm mỹ, khả năng giao tiếp, ứng sử trong
cuộc sống. Bên cạnh đó đồ dùng đồ chơi giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng, kích
thích trẻ tính độc lập, sáng tạo …. Bất luận trong hoàn cảnh nào đồ chơi ra đời
sẽ phát triển trí tuệ cho trẻ, đồ chơi phong phú đa dạng bao nhiêu thì kích thích
được tính tò mò ham hiểu biết cùng khám phá của trẻ bấy nhiêu. Đặc biệt trẻ lứa
tuổi mầm non luôn có nhu cầu với đồ chơi mới.
Như chúng ta đã biết đặc điểm của trẻ mầm non là luôn có nhu cầu chơi với
những đồ dùng, đồ chơi có màu sắc đẹp, hấp dẫn và phong phú. Để thỏa mãn
được nhu cầu đó của trẻ, đòi hỏi người giáo viên mầm non phải luôn tìm tòi suy
nghĩ, sáng tạo ra nhiều đồ dùng, đồ chơi mới lạ, hấp dẫn và phù hợp với nội
dung chủ đề chủ điểm nhất là bài dạy, phù hợp với tình huống giáo dục trong các
hoạt động, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trẻ trong trường mầm non.
Đồ dùng học tập, đồ chơi là phương tiện để trẻ hoạt động vui chơi. Ngoài đồ
dùng học tập ra, đồ chơi vốn là thứ trẻ yêu thích nhất, không có đồ chơi trẻ
không có phương tiện, môi trường để hoạt động và thực hiện các trò chơi. Cách
thức chơi với đồ chơi và những thứ đồ chơi mà trẻ yêu thích được thay đổi theo
từng chủ đề, chủ điểm, sự phát triển và hiểu biết của trẻ thì chính đồ chơi đó lại
2. Tên sáng kiến
“Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên làm đồ dung đồ chơi từ nguyên vật
liệu, phế liệu thiên nhiên cho trẻ trong trường mầm non huyện Tam Dương”
3. Tác giả sáng kiến
- Họ và tên: Vũ Thị Nga
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường Mầm Non Hợp Hòa
- Số điện thoại: 0397130211. Email:
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến
Vũ Thị Nga
5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến
Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên làm đồ dung đồ chơi từ nguyên vật
liệu, phế liệu thiện nhiên cho trẻ trong trường mầm non huyện Tam Dương.
6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử
Từ tháng 2 - 2018 đến tháng 2-2019
7. Mô tả bản chất của sáng kiến
7.1. Về nội dung của sáng kiến
7.1.1. Cơ sở lý luận của vấn đề chỉ đạo giáo viên làm đồ dung đồ chơi
từ nguyên vật liệu, phế liệu thiên nhiên cho trẻ trong trường mầm non
huyện Tam Dương
“Những gì sách dạy chúng ta cũng giống như lửa. Chúng ta lấy nó từ nhà
hàng xóm, thắp nó trong nhà ta, đem nó truyền cho người khác, và nó trở thành
tài sản của tất cả mọi người” (Voltaire). Chúng ta hãy cùng nhau chia sẻ những
kinh nghiệm hay trong giáo dục để ngọn lửa tri thức, ngọn lửa nhiệt huyết đối
với giáo dục luôn cháy sáng.
Trẻ em rất yêu thích đồ chơi, ngoài việc giải trí, đồ chơi có tác dụng giáo
dục cao, nhất là trong những năm đầu đời của con người. Mỗi món đồ chơi, ít
nhất cũng cung cấp một cơ hội để trẻ tìm hiểu, khám phá. Các món đồ chơi tốt
sẽ tham gia vào quá trình nhận thức, tác động tích cực tới các giác quan của trẻ,
khuyến khích phát huy trí tưởng tượng và cho trẻ cơ hội học tập kỹ năng tương
tác với người khác và nhiều kỹ năng khác. Trẻ em bất cứ ở đâu, bất cứ dân tộc
dạy và học của cô và trẻ.
Địa phương có nguồn vật liệu thiên nhiên và phế liệu tương đối dồi dào,
dễ tìm, dễ kiếm.
Nhận thức của phụ huynh ngày càng được nâng cao, đa số phụ huynh
nhiệt tình ủng hộ cho các hoạt động và phong trào của Nhà trường cũng như ủng
hộ các nguyên vật liệu, phế liệu cho giáo viên.
* Trường mầm non Tam Dương
- 100% cán bộ giáo viên trong nhà trường được tham gia học bồi dưỡng
chuyên môn do Sở, Phòng giáo dục và đào tạo tổ chức, nhà trường luôn tạo điều
kiện cho giáo viên được học tập nâng cao kiến thức chuyên môn nghiệp vụ.
- Đầu tư bổ sung cơ sở vật chất - Trang thiết bị - Đồ dùng đồ chơi ngay từ
đầu năm học cho các nhóm lớp.
- Giáo viên được viên tham quan các trường bạn trong và ngoài huyện để
có nhiều kinh nghiệm tự tạo ra các sản phẩm đồ dung đồ chơi phục vụ công tác
dạy và học của cô và trẻ.
- Phụ huynh học sinh nhiệt tình ủng hộ các nguyên vật liệu, phế liệu cho
giáo viên.
b. Khó khăn
*Trường mầm non Hợp Hòa
3
Đa số giáo viên phải đứng lớp một mình, không có nhiều thời gian đầu tư
cho việc làm đồ dùng, đồ chơi. Thời gian dành cho việc tìm kiếm nguyên vật
liệu, phế liệu, làm đồ dùng học tập, đồ chơi còn ít, phần lớn chỉ trong thời gian
hè và ngày nghỉ.
Số cán bộ giáo viên hiểu cách làm, biết vận dụng và khả năng sáng tạo
còn hạn chế, mới chỉ tập trung ở các giáo viên trẻ, khéo tay và có năng khiếu
làm đồ dùng học tập, đồ chơi.
Tính sáng tạo và tính thẩm mỹ trong việc làm đồ dùng, đồ chơi của giáo
Thực tế qua kết quả khảo sát giáo viên tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 1
( Khảo sát lần 1 - MN Hợp Hòa)
4
TT
1
2
3
4
5
TT
Nội dung khảo sát
Mức độ
Đạt
Chưa đạt
Tổng
yêu cầu
yêu cầu
số
Số
Số
%
%
lượng
38
10
62
16
62
10
38
15
58
11
42
16
62
10
38
50
5
50
lượng, phong phú, hấp dẫn.
3 Số GV có ý thức sưu tầm nguyên
vật liệu để làm đồ dùng học tập,
14
8
57
6
43
đồ chơi.
4 Số GV biết cách làm và vận dụng
14
7
50
7
50
sáng tạo.
5 Số GV sử dụng có hiệu quả đồ
14
7
50
7
50
dùng học tập, đồ chơi đã làm.
Xuất phát từ thực tế trên, làm thế nào để khơi dậy niềm đam mê hứng thú
với đồ chơi và cách làm đồ dùng học tập, đồ chơi cho trẻ, làm thế nào để cán bộ,
giáo viên nâng cao kiến thức, kỹ năng làm đồ dùng học tập, đồ chơi từ nguyên
vật liệu thiên nhiên và phế liệu sẵn có của địa phương để giảm bớt chi phí mua
gội đầu, hộp sữa, lon bia, xốp, len vụn, vải vụn, gỗ, giấy gói kẹo,....để làm đồ
dùng, đồ chơi phục vụ công tác giảng dạy và cho trẻ chơi ở các góc chơi.
Bên cạnh đó việc tuyên truyền, phối kết hợp giữa gia đình và nhà trường là
rất cần thiết. Ngay từ đầu năm học BGH nhà trường đã chỉ đạo giáo viên làm tốt
những việc sau:
Tổ chức họp phụ huynh đầu năm học, thông báo kế hoạch chung của nhà
trường, kế hoạch của nhóm, lớp về việc thực hiện kế hoạch làm đồ dùng, đồ
chơi tự tạo để phục vụ cho các hoạt động của cô và trẻ ở trường mầm non.
Nêu lên tầm quan trọng của việc làm đồ dùng, đồ chơi từ nguyên vật liệu
thiên nhiên và phế liệu để phục vụ công tác dạy và học của cô và trẻ từ đó cùng
đưa ra, thống nhất biện pháp phối kết hợp.
Vận động phụ huynh cùng với giáo viên sưu tầm, ủng hộ nguyên vật liệu
phế liệu, đồ vật sẵn có trong cuộc sống hàng ngày để cô và trẻ làm đồ dùng, đồ
chơi phục vụ cho các hoạt động.
7.2.3. Tuyên truyền về hiệu quả làm đồ dùng đồ chơi từ nguyên vật
liệu, phế liệu đến phụ huynh
Với cuộc sống bề bộn ngày nay làm cho không ít phụ huynh có thời gian
chăm sóc con cái, không có thời gian chơi cùng với con mà thay vào đó là mua
sắm những loại đồ dùng đồ chơi hiện đại được sản xuất theo các dây truyền hiện
đại và nhất là trên thị trường hiện náy đồ chơi Trung Quốc và một số đồ dung đồ
chơi được bày bán trên thị trường koong rõ nguồn gốc sản xuất. Bên cạnh đó các
loại đồ dung đồ chơi này không mang tính giáo dục, không phát huy được trí
6
tuệ, sự thông minh của trẻ mà ngược lại có rất nhiều loại đồ chơi không an toàn,
kích thích tính hiếu chiến, bạo lực ở trẻ như: Súng, gươm…và còn nhiều loại đồ
chơi gây sợ hãi đối với trẻ gây tác hại không nhỏ đến tâm lý trẻ nhỏ.
Từ thực tế trên việc tuyên truyền đến phụ huynh về ý nghĩa và tầm quan
trọng của việc làm đồ dung đồ chơi từ các nguyên vật liệu, phế liệu thiên nhiên
phân loại, làm sạch nguyên vật liệu để đảm bảo vệ sinh, an toàn trước khi sử
dụng. Mỗi giáo viên tự kiểm kê của lớp mình và làm bổ sung thêm những đồ
dùng đồ chơi còn thiếu trên tinh thần hướng dẫn chung của cả trường.
* Đồ dùng phục vụ hoạt động, vệ sinh, lao động: Tận dụng những can
nước rửa bát, cắt làm thành những chiếc mo hót rác, làm cuốc, xẻng hoặc từ
những can dầu ăn lớn làm những thùng đựng rác hình con vật sau đó phun sơn
cho đẹp, những chiếc chổi lúa từ rơm nếp, làm bình tưới từ những hộp sữa bột
to, …
* Làm nhiều đồ dùng phục vụ hoạt động có chủ đích như:
7
+ Hoạt động khám phá - MTXQ, PT thể chất: Tận dụng xốp nền ghép vào
nhau tạo thành Lăng Bác, Chùa Một Cột, lõi vệ sinh, bóng nhựa cũ hộp sữa tạo
thành mô hình có cổng, có cột đèn 2 bên đi vào lăng, vào chùa,… những hộp
sữa tươi bằng giấy, thùng cát tông, cành cây khô, cát, sỏi hay vải vụn gói lại
thành những quả còn…cho trẻ tìm hiểu, khám phá, chơi trò chơi dân gian như
ném còn, ô ăn quan, bịt mắt bắt dê…Các ĐDĐC phục vụ Hoạt động vui chơi
cho trẻ ở các góc.
Hình ảnh Lăng Bác làm từ thùng xốp
+ Hoạt động LQV Toán, LQV chữ viết: Có thể tận dụng những cây kem,
dây điện hỏng, xốp lỉ để tạo lên những cây ăn quả, cây hoa nhiều màu sắc hoặc
những quả cam, quả táo… Giúp trẻ học số đếm như đếm số quả trên cây và đặt
thẻ số tương ứng, đếm số bông hoa màu đỏ, so sánh số bông hoa màu đỏ với
8
cho trẻ chơi.
Hình ảnh góc bác sỹ
- Bên cạnh đó tôi chỉ đạo giáo viên cần quan tâm đến môi trường trong và
ngoài lớp học, trang trí phù hợp, tạo góc mở khoa học và sáng tạo theo từng chủ
đề bằng những nguyên vật liệu thiên nhiên và phế liệu. Xây dựng môi trường
giáo dục lấy trẻ làm trung tâm. Để môi trường lớp học phong phú, sáng tạo, gần
gũi với trẻ, giúp trẻ hoạt động tốt thì đòi hỏi cô giáo phải có sự quan sát tinh tế,
nghiên cứu, học hỏi và tìm ra những chất liệu phù hợp với những hình ảnh, đồ
vật, con vật…phù hợp với chủ đề.
+ Tạo các góc mở: Như góc toán, góc LQ chữ viết, bé chơi với hình và
màu… tôi gợi ý giáo viên tận dụng những tờ lịch, tranh ảnh cũ…để trang trí và
làm đồ dùng cho trẻ hoạt động ở góc.
* Đồ dùng, đồ chơi trang trí: Những vật liệu phế thải như giỏ cắm hoa,
xốp biển, giấy bọc hoa, dây đồng, chai nước ngọt cô ca, xốp màu, keo nến…làm
nên những lọ hoa, lãng hoa rất đẹp, dùng để trang trí lớp hoặc các hoạt động
khác.
Ngoài ra, tôi còn phát huy tính sáng tạo, chịu khó của giáo viên để làm rất
nhiều các đồ dùng đồ chơi khác phục vụ cho các hoạt động của trẻ như làm các
bộ trang phục, bằng vải vụn, giấy gói hoa, giấy màu vụn, mành nhựa hỏng, để
trẻ hoạt động trong giờ giáo dục Âm nhạc hay biểu diễn thời trang và biểu diễn
văn nghệ của lớp, của trường, những giờ Văn học đóng kịch...trẻ rất hứng thú
tham gia.
Kết quả cụ thể được tính trên sản phẩm của tất cả các giáo viên:
* Đồ dùng phục vụ hoạt động, vệ sinh, lao động: 20 bộ
* Đồ dùng phục vụ hoạt động có chủ đích như:
+ Hoạt động âm nhạc: 16 bộ
+ Hoạt động LQV Toán, LQV chữ viết: 16 bộ
11
đồ dùng học tập, đồ chơi đối với sự phát triển của trẻ, đặc biệt là đồ dùng học
tập, đồ chơi này lại được làm chính ngay từ những nguyên vật liệu, phế liệu có
xung quanh mình. Tôi nghĩ đây là một hình thức tuyên truyền nhanh nhất, dễ và
hiệu quả nhất.
Qua hội thi cấp trường chúng tôi lựa chọn những giáo viên xuất sắc bồi
dưỡng để tiếp tục tham gia thi cấp huyện, tỉnh sắp tới.
7.2.6. Quản lý và sử dụng đồ dùng đồ chơi
- Đối với những đồ dùng, đồ chơi được cấp phát cũng như đồ dùng đồ
chơi tự làm của cô và trẻ hoặc của phụ huynh hỗ trợ tôi hướng dẫn giáo viên cập
nhật đầy đủ vào sổ tài sản của nhóm lớp, của nhà trường có ghi chú rõ ràng.
- Với những đồ chơi tự tạo thì nên có mô tả tóm tắt về đồ dùng, chú thích
về cách sử dụng đồ dùng, đồ chơi.
- Sử dụng đồ dùng phù hợp đề tài, đúng lúc, đúng chỗ, khai thác có hiệu quả.
8. Những thông tin cần được bảo mật
Không có
9. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến
- Nâng cao kỹ năng làm đồ dùng đồ chơi tự tạo bằng nguyên vật liệu
thiên nhiên và phế liệu cho giáo viên trường Mầm Non Hợp Hòa - Tam DươngVĩnh phúc và trường MN Tam Dương - Tam Dương- Vĩnh Phúc
- Giáo viên đứng lớp trường mầm non Hợp Hòa - Tam Dương- Vĩnh phúc
và giáo viên đứng lớp trường MN Tam Dương - Tam Dương- Vĩnh Phúc Thời gian bắt đầu nghiên cứu từ tháng 2/2018 kết thúc nghiên cứu tháng
2/2019
- Điều tra thực trạng về khả năng làm đồ dùng đồ chơi tự tạo của giáo
viên trường Mầm Non Hợp Hòa và giáo viên trường MN Tam Dương
- Xây dựng kế hoạch hướng dẫn giáo viên cách làm đồ dùng đồ chơi đủ
về số lượng và đảm bảo về chất lượng
- Lên kế hoạch thực hiện để đạt hiệu quả cao
- Tìm ra nguyên nhân tình trạng, đánh giá kết quả sau khi áp dụng và rút
ra được bài học kinh nghiệm.
10. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp
dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả và theo ý kiến của tổ chức, cá nhân
Số
%
%
lượng
lượng
Số lớp có đủ đồ dùng học tập, đồ 16
15
93.8
1
6.2
chơi ở mức độ tối thiểu
Số lớp có đủ đồ dùng học tập, đồ 16
12
75
4
25
chơi tự làm đảm bảo yêu cầu chất
lượng, phong phú, hấp dẫn.
Số GV có ý thức sưu tầm nguyên 26
24
92.3
2
7.4
vật liệu để làm đồ dùng học tập,
đồ chơi.
Số GV biết cách làm và vận dụng 26
22
84.6
4
15.
10
8
80
2
20
chơi ở mức độ tối thiểu
2
Số lớp có đủ đồ dùng học tập, đồ
chơi tự làm đảm bảo yêu cầu chất
lượng, phong phú, hấp dẫn.
10
9
90
1
10
3
Số GV có ý thức sưu tầm nguyên
vật liệu để làm đồ dùng học tập,
đồ chơi.
14
11
78.6
3
21.4
14
Qua bảng 1 và bảng 2 ta thấy mức độ đạt yêu cầu được tăng lên rõ rệt
Bảng 3 - MN Hợp Hòa
Nội dung
Cấp độ
Trước khi áp dụng
Sau khi áp dụng
khảo sát
so sánh
Số lớp có đủ đồ dùng Đạt yêu cầu= 69% Đạt yêu cầu= 93.8% Đạt yêu cầu
học tập, đồ chơi ở mức Không ĐYC=31% Không ĐYC= 6.2% tăng 24.8%
độ tối thiểu
Số lớp có đủ đồ dùng Đạt yêu cầu= 38% Đạt yêu cầu= 75%
Đạt yêu cầu
học tập, đồ chơi tự làm Không ĐYC= 62% Không ĐYC=25%
tăng 37%
đảm bảo yêu cầu chất
lượng, phong phú, hấp
dẫn.
tập, đồ chơi đã làm.
Trước khi áp dụng
Sau khi áp dụng
Cấp độ
so sánh
Đạt
yêu
cầu tăng
20%
Đạt
yêu
cầu tăng
40%
Đạt yêu cầu= 60%
Không ĐYC=40%
Đạt yêu cầu= 80%
Không ĐYC= 20%
Đạt yêu cầu= 50%
Không ĐYC= 50%
Đạt yêu cầu= 90%
Không ĐYC=10%
Đạt yêu cầu= 57%
15
Việc áp dụng các biện pháp trên không chỉ giúp các cô giáo sáng tạo hơn
trong công tác làm ĐDĐC tự tạo, mà còn giúp các cô giáo phát huy hết tác dụng
của những đồ chơi đó nhằm phát triển ở trẻ một số kỹ năng như:
- Kỹ năng giao tiếp: Khi tham gia chơi những đồ chơi đó trẻ được hoạt
động cùng với bạn, khi chơi trẻ nhập mình vào vai chơi cùng với bạn chơi.
- Kỹ năng thể hiện cảm xúc: Trẻ biết cách thể hiện cảm xúc khi chơi
những đồ chơi mà trẻ thích thú và biết giao lưu tình cảm vói bạn và với đồ chơi đó.
- Kỹ năng thẩm mỹ: Trẻ biết yêu quý cái đẹp. Biết thể hiện những sắc
thái, động tác minh họa khi chơi đồ chơi.
- Kỹ năng nhận thức: Tạo điều kiện để trẻ có thêm những hiểu biết xã
hội, những kiến thức văn hóa, hay môi trường xung quanh trẻ.
Với kết quả trên đã chứng minh rằng đề tài thực nghiệm của tôi đã thành
công, các biện pháp tôi đề ra áp dụng vào thực tiễn là phù hợp và đạt hiệu quả cao.
10.2. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp
dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân
* Bản thân tôi biết cách hướng dẫn chỉ đạo giáo viên làm nhiều loại đồ
dùng đồ chơi từ nguyên vật liệu thiên nhiên và phế liệu, và từ đó chỉ đạo tổ
chuyên môn, giáo viên một số kỹ năng làm ĐDĐC tốt hơn, các sản phẩm tạo ra
ngày càng phong phú, sáng tạo hơn.
* Giáo viên
- 100% giáo viên đã biết tận dụng thời gian như trong dịp nghỉ hè, hoặc
ngày nghỉ cuối tuần, các giờ hoạt động vui chơi trên lớp( hoạt dộng góc) kết hợp
cùng trẻ tạo ra them đồ dung đồ chơi phục vụ các góc chơi và các chủ đề chủ điểm.
- Khi làm đồ dung đồ chơi giáo viên đã chú ý độ bền, màu sắc của đồ
dung đồ chơi và tạo ra các loại đồ dung đồ chơi đẹp hấp dẫn thu hút trẻ.
- 100% giáo viên trong trường đã hưởng ứng cao với phong trào làm đồ
Các phong trào văn nghệ, ngày hội, ngày lễ trong năm và qua các hội thi
được phong phú đa dạng hơn về nội dung, hình thức biểu diễn.
10.3. Bài học kinh nghiệm
- Xây dựng kế hoạch hướng dẫn giáo viên làm đồ dùng đồ chơi ngay từ
đầu năm học một cách chi tiết, cụ thể, giao chỉ tiêu tới từng giáo viên, thường
xuyên đôn đốc, đánh giá kết quả của giáo viên. Có động viên kịp thời.
- Là một cán bộ quản lý cần chịu khó nghiên cứu, học hỏi, làm một số
ĐDĐC mẫu để chỉ đạo, phổ biến cho giáo viên.
- Xây dựng ý thức bản thân tìm kiếm, thu gom nguyên, vật liệu sẵn có từ
các lực lượng xã hội bằng nhiều hình thức làm phong phú thêm “ kho nguyên,
vật liệu ” sẵn có để làm đồ dùng học tập, đồ chơi cho trẻ vào bất cứ lúc nào khi
có thời gian và nhu cầu.
- Làm tốt công tác tuyên truyền, phát huy được sức mạnh tổng hợp của
các bậc phụ huynh, các lực lượng xã hội trong việc tìm kiếm nguyên vật liệu có
sẵn và tham gia làm đồ dùng học tập, đồ chơi tự tạo cho trẻ.
- Hướng dẫn giáo viên làm ĐDĐC từ nguyên vật liệu thiên nhiên và phế liệu.
- Tham mưu tổ chức tốt hội thi “Đồ dùng đồ chơi tự làm” nhằm phát huy
tính tích cực, khả năng sáng tạo…của giáo viên…
- Chỉ đạo giáo viên sử dụng có hiệu quả nguồn đồ dùng học tập, đồ chơi
đã làm được, đồng thời hướng dẫn trẻ chơi linh hoạt bằng nhiều cách chơi với
một đồ chơi, hay nói cách khác một đồ chơi mà có nhiều cách chơi sẽ tạo cơ hội
cho trẻ được trải nghiệm, sáng tạo, linh hoạt trong quá trình sử dụng đồ chơi phù
hợp với mỗi trò chơi, trên cơ sở đó giúp trẻ lĩnh hội được kiến thức, kỹ năng
một cách nhẹ nhàng nhất, hiệu quả nhất ngay chính trong quá trình chơi, quá
trình học tập và các hoạt động khác.
Như chúng ta đã thấy ngày nay đồ dùng học tập, đồ chơi rất đa dạng và
phong phú, cùng với sự phát triển của xã hội, khoa học kỹ thuật, đồ dùng học
tập, đồ chơi cũng hoàn thiện dần cùng với thời đại. Trong tương lai đồ dùng học
tập, đồ chơi hiện đại sẽ giúp trẻ tiếp cận với những tri thức tiên tiến nhưng tôi tin
Hợp Hòa, ngày tháng 02 năm 2019
Tác giả sáng kiến
Vũ Thị Nga
.
18