1. MỞ ĐẦU:
1.1. Lí do chọn đề tài.
Trong chương trình mầm non hiện nay, song song với việc đổi mới nội
dung, phương pháp giảng dạy thì việc đổi mới trang thiết bị và đồ dùng dạy học,
đồ chơi tự tạo là một việc làm không thể thiếu trong mỗi nhà trường. Điều quan
trọng đối với trẻ mầm non “Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ, trẻ học mà
chơi, chơi mà học” qua chơi trẻ lĩnh hội tri thức thông qua các hoạt động phong
phú, đa dạng trong cuộc sống hàng ngày, vui chơi là món ăn tinh thần không thể
thiếu được của trẻ nói chung trong đó có trẻ mầm non, trong vui chơi cần phải
có đồ chơi. Muốn làm được điều đó, công tác làm đồ dùng, đồ chơi tự tạo đóng
vai trò hết sức quan trọng.
Đồ chơi là phương tiện giúp trẻ thực hiện các lĩnh vực hoạt động của trẻ
đồng thời cũng chính là cách giúp trẻ tiếp thu bài học một cách sinh động, hấp dẫn
và hiệu quả hơn. Điều quan trọng trẻ còn nhỏ tư duy, sự tập trung còn rất hạn chế,
trẻ không thể tiếp thu các kiến thức một cách bài bản, có hệ thống như học sinh phổ
thông. Vì thế cần tạo cho trẻ môi trường vật chất đồ dùng, đồ chơi để trẻ được hoạt
động, trải nghiệm, vui chơi, từ đó trẻ có thể tiếp thu kiến thức một cách nhẹ nhàng,
tự nhiên hơn. Trẻ học mà chơi, chơi mà học, qua chơi việc học của trẻ trở nên nhẹ
nhàng và đạt hiệu quả cao hơn. Bởi vì nhu cầu chơi với đồ chơi của trẻ rất lớn mà
thực tế đồ chơi tự tạo chưa đầy đủ, hơn nữa đồ dùng, đồ chơi tự làm phải đảm bảo
thực hiện theo mục tiêu giáo dục, mang tính thẩm mỹ, phải giúp trẻ phát triển trí
tưởng tượng, kích thích cho trẻ tính độc lập, sáng tạo, đồng thời phải phù hợp với
từng lứa tuổi và đảm bảo được sự an toàn cho trẻ. Bên cạnh đó đồ chơi bán sẵn rất
nhiều nhưng chất liệu đảm bảo thì giá cao, chất liệu không đảm bảo nếu cho trẻ
chơi sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ của trẻ.
Căn cứ vào đặc điểm phát triển tư duy của trẻ mầm non là tư duy trực quan
nên việc tổ chức các hoạt động vui chơi giúp trẻ “Học mà chơi, chơi mà học” tại
các trường mầm non luôn được gắn với các sự vật - hiện tượng ở xung quanh trẻ.
Việc sử dụng các đồ dùng trực quan một cách hợp lý, sáng tạo sẽ tạo điều kiện cho
trẻ hoạt động, khám phá bằng nhiều giác quan, từ đó kích thích trẻ quan sát, suy
nghĩ, suy luận, nêu ý kiến, đưa câu hỏi giúp trẻ phát huy tính độc lập, hành động
hiện hứng thú của trẻ với đồ dùng học tập, đồ chơi tự tạo.
1.5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm.
Sáng kiến kinh nghiệm đã áp dụng hiệu quả các biện pháp đó là:
Việc hướng dẫn giáo viên làm đồ dùng, đồ chơi và sử dụng có hiệu quả đồ
dùng, đồ chơi tự tạo cho trẻ tại các trường mầm non.
Tuyên truyền với nhân dân và cha mẹ trẻ về tầm quan trọng của việc làm
đồ dùng, đồ chơi và sử dụng hiệu quả thông qua hội thi “ Làm đồ dùng, đồ
chơi sáng tạo cho trẻ mầm non” cấp trường, cấp huyện.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN.
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến.
Như chúng ta đã biết trong trường Mầm non, vui chơi là hoạt động chủ
đạo, là “cuộc sống” của trẻ lứa tuổi mầm non và đồ chơi là người bạn đồng hành
thân thiết của trẻ, đem lại niềm vui cho trẻ, khởi nguồn của những cảm xúc tình cảm tích cực của trẻ. Việc sử dụng các nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương
để làm đồ dùng học tập, đồ chơi cho trẻ là hết sức cần thiết với phương châm
“ Học bằng chơi, chơi mà học” vì đồ dùng học tập, đồ chơi giúp trẻ mở rộng và
hiểu biết về thế giới xung quanh. Ngoài ra đồ dùng học tập, đồ chơi còn góp
phần giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, kỹ
năng xã hội và thẩm mỹ, khả năng giao tiếp ứng xử trong cuộc sống.
` Đồ dùng, đồ chơi cùng với trò chơi là nhu cầu tự nhiên không thể thiếu
được đối với cuộc sống của trẻ. Đồ dùng, đồ chơi còn là phương tiện để trẻ hoạt
động vui chơi mà hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mầm non.
Ngoài đồ dùng học tập ra thì đồ chơi vốn là thứ trẻ yêu thích nhất, không có đồ
chơi trẻ không có phương tiện, môi trường để hoạt động và thực hiện các trò
chơi cách thức chơi với đồ chơi mà trẻ yêu thích được thay đổi theo sự phát triển
và hiểu biết của trẻ thì chính đồ chơi đó lại trở thành đồ dùng học tập của trẻ,
giúp trẻ có nhiều cơ hội trải nghiệm và lĩnh hội các kiến thức, thông qua đồ chơi
được sử dụng trong các trò chơi. Vì vậy càng có nhiều đồ chơi thì trẻ càng có cơ
hội học tập và tích lũy kiến thức theo các cách khác nhau.
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa
kinh tế phát triển, đồ chơi cho trẻ cũng rất phong phú, hiện đại. Trong số đó, có
thú hơn rất nhiều so với các đồ chơi mua sẵn. Đây cũng là một hình thức dạy
cho trẻ biết yêu quí sức lao động ngay từ khi còn bé. Xuất phát từ những ý tưởng
nêu trên, tôi nghĩ rằng việc tự làm đồ dùng, đồ chơi là việc làm hết sức cần thiết
và bổ ích cho trẻ mầm non, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của năm học. Khai thác
sử dụng hiệu quả các thiết bị dạy học đã được trang bị theo danh mục tối thiểu
kết hợp với hoạt động tự làm đồ dùng dạy học, đồ chơi mầm non để góp phần
nâng cao hiệu quả trong việc đổi mới phương pháp dạy học và chất lượng.
Từ nhận thức trên, tôi thiết nghĩ việc trang bị các kiến thức và nâng cao
kỹ năng làm đồ dùng học tập, đồ chơi cho giáo viên mầm non trong các trường
mầm non là việc làm hết sức cần thiết và bổ ích. Vì làm đồ dùng học tập, đồ
chơi tự tạo là một hoạt động mang tính sáng tạo và độc đáo. Sáng tạo và độc đáo
ở chỗ cùng một nguyên vật liệu mỗi người lại có ý tưởng riêng, cách thức riêng
để tạo ra sản phẩm theo phong cách của mình.
Là cán bộ phụ trách giáo dục mầm non, tôi nhận thấy việc làm đồ dùng,
đồ chơi cho trẻ và sử dụng hiệu quả trong các trường mầm non có vai trò hết sức
quan trọng, không những để phát huy năng lực sẵn có của mỗi người và sự tư
duy nhận thức của trẻ, giúp trẻ tiếp thu lĩnh hội kiến thức một cách hiệu quả
nhất, giúp trẻ hứng thú trong các hoạt động, mà còn mang lại cơ hội và động cơ
để nâng cao chất lượng cho các trường mầm non.
3
2.2. Thực trạng
Hoằng Hoá là huyện đồng bằng ven biển có truyền thống hiếu học, phía
đông giáp Vịnh Bắc Bộ; phía nam giáp thị xã Sầm Sơn, huyện Quảng Xương và
thành phố Thanh Hoá; phía tây giáp thành phố Thanh Hoá và huyện Thiệu Hoá;
phía bắc giáp các huyện Thiệu Hóa, Hà Trung và Hậu Lộc. Huyện nằm ven biển
phía đông của tỉnh Thanh Hoá, chiều dài bờ biển khoảng 12km. Diện tích
khoảng 224,58Km2, dân số khoảng 222.178 người. Tuyến giao thông chính của
huyện gồm quốc lộ 1A và đường sắt Bắc Nam. Tỷ lệ hộ nghèo 10,15%, tỷ lệ
100%, có tinh thần trách nhiệm cao, chịu khó tìm tòi các nguyên vật liệu, sáng tạo
trong cách làm và sử dụng hiệu quả khi hướng dẫn trẻ hoạt động, trẻ hướng thú và
tích cực trong các hoạt động. Nhiều sản phẩm đồ dùng, đồ chơi thật sự đẹp, bền, có
giá trị sử dụng cao và mang tính giáo dục phù hợp từng độ tuổi của trẻ.
Qua công tác làm đồ dùng, đồ chơi và sử dụng hiệu quả tại các trường
mầm non, chất lượng giáo dục và các hoạt động của các trường đã có nhiều
chuyển biến tích cực. Có 43/43 trường tổ chức thi làm đồ dùng, đồ chơi cấp
4
trường, cấp huyện. Phụ huynh học sinh tích cực hưởng ứng tham gia.
Khó khăn:
Do công việc chăm sóc giáo dục trẻ chiếm nhiều thời gian, giáo viên phải
đứng lớp cả ngày, thời gian dành cho việc tìm kiếm và làm đồ dùng học tập, đồ
chơi còn ít, phần lớn chỉ trong thời gian hè, ngày nghỉ và tranh thủ thời gian còn lại.
Hầu hết các trường đều thiếu người làm việc nên có hạn chế trong việc tổ chức
triển khai.
Do công tác XHHGD ở một số trường còn nhiều khó khăn, thiếu thốn đặc
biệt là các xã bãi ngang chưa thường xuyên, chưa huy động được lực lượng phụ
huynh tham gia ủng hộ các nguyên liệu, phế liệu cùng làm đồ dùng, đồ chơi tự tạo.
Nhận thức về vai trò, ý nghĩa trong việc làm đồ dùng, đồ chơi của một số
cán bộ giáo viên, nhân viên còn nhiều hạn chế. Số cán bộ giáo viên hiểu cách
làm, biết cách vận dụng và khả năng sáng tạo còn hạn chế, mới chỉ tập trung ở
các giáo viên trẻ, khéo tay và có năng khiếu.
Để khắc phục những hạn chế nêu trên, bản thân đã cùng các đồng nghiệp
áp dụng các biện pháp chỉ đạo giáo viên làm đồ dùng, đồ chơi và sử dụng có
hiệu quả cho trẻ tại các trường Mầm non, khảo sát đầu năm học 2016-2017 như
sau:
Kết quả khảo sát:
Mức độ
80
18
lượng, phong phú, hấp dẫn.
Số giáo viên có ý thức sưu tầm
3 nguyên vật liệu để làm đồ dùng học 801
708
88
93
12
tập, đồ chơi.
Số CBGV biết cách làm và vận
4
801
690
86
111
14
dụng sáng tạo.
Số CBGV sử dụng có hiệu quả đồ
5
801
745
93
56
7
dùng học tập, đồ chơi đã làm.
2.3. Biện pháp thực hiện:
Từ thực trạng trên của bậc học mầm non tỉnh Thanh Hóa nói chung và bậc
học mầm non huyện Hoằng Hóa nói riêng. Tôi nhận thấy muốn công tác làm đồ
dùng, đồ chơi và sử dụng hiệu quả tại các trường mầm non đi vào chiều sâu, đạt
mưu tranh thủ ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo phòng Giáo dục và Đào tạo thống
nhất nội dung, thời gian và hình thức thực hiện.
Mục đích của chuyên đề:
Tận dụng những nguyên, vật liệu dễ kiếm, dễ tìm để làm đồ dùng học tập,
đồ chơi sử dụng trong học tập và trong các trò chơi cho trẻ.
Phát huy óc sáng tạo, kỹ năng làm, rèn luyện tính kiên trì, khả năng khéo
léo của cán bộ, giáo viên.
Nội dung của chuyên đề: Tôi định hướng 2 vấn đề cơ bản:
Trao đổi, chia sẻ những kinh nghiệm đã làm đồ dùng học tập, đồ chơi từ các
nguyên vật liệu sẵn có của địa phương ở từng nhà trường, mỗi cá nhân giáo viên.
Giúp nhau thực hành làm các đồ dùng học tập, đồ chơi theo ý tưởng riêng và
cách làm của mỗi người.
Hình thức của chuyên đề:
Để tất cả cán bộ, giáo viên được tham gia, phát huy hết khả năng vốn có
của mình và thực hiện theo hình thức:
Bước 1: Chia thành 3 cụm và mỗi cụm là 1cụm trưởng.
Cụm 1: Kinh nghiệm làm đồ dùng, đồ chơi đồ chơi từ vải, len, sợi, tre,
trúc, rơm, rạ…tạo nhân vật con rối bằng cốt thép giấy bồi…
Tạo hình bằng thép và giấy
Tạo hình hoàn chỉnh
Cụm 2: Kinh nghiệm làm đồ dùng, đồ chơi từ các đồ vật thiên nhiên: Vỏ
cây, cành cây, hạt đậu, hạt lạc, hạt vừng, các loại hạt trái cây, từ lốp cao su, tre…
6
Đồ dùng, đồ chơi từ lốp cao su
Đồ dùng, đồ chơi từ hột hạt
Cụm 3: Kinh nghiệm làm đồ dùng học tập, đồ chơi từ các tạp phẩm hoặc
từ các đồ vật khác nhau.
Đồ dùng, đồ chơi từ hột hạt
tích cực”.
Cụm 2: Kinh nghiệm làm đồ chơi từ các đồ vật thiên nhiên: Vỏ cây, cành
cây, vỏ ngao, vỏ sò, vỏ hến, hạt đậu, hạt lạc, hạt vừng, các loại hạt trái cây, vỏ
hộp, vỏ chai, lọ vải vun, màu nước, vỏ bao diêm, bìa cát tông, vỏ lon bia, vỏ ống
nhựa, giấy đề can, que kem, tăm tre…
Ví dụ: Từ những nguyên vật liệu thiên nhiên, sưu tầm giáo viên khéo léo tạo
ra những đồ dùng, đồ chơi giúp trẻ hứng thú hoạt động như:
Từ vỏ bao diêm làm thành những chiếc xe ô tô, đoàn tàu….
Bao diêm cũ bọc giấy màu làm đồ chơi xếp hình, làm xúc xắc cho trẻ nhà
trẻ chơi.
Những ống nhựa làm thành những chiếc xe đạp, những con vật, những cái
làn…
7
Ví dụ 1: Từ màu nước đã được pha sẵn, kết hợp giữa kỹ năng: phun,
thổi, vẩy búng theo ý tưởng cá nhân để tạo thành các mảng màu đậm nhạt theo ý
muốn, hoặc dùng bàn chải đánh răng cũ thấm vào mầu nước khác nhau rồi vẩy,
bật bung trên nền bìa thành các mảng lấm chấm với màu sắc khác nhau để tạo
thành bức tranh con vật hay bức tranh cây cảnh, những câu chuyện…
Bộ đồ chơi đồ chơi từ mầu nước phun, vẩy, búng, thổi, vo vê..
Tăng cường hiệu quả của đồ chơi tự tạo bằng cách tổ chức các hoạt
động của trẻ cùng với đồ chơi
Để tăng cường được hiệu quả sử dụng của những đồ dùng, đồ chơi tự tạo
tôi đã tổ chức cho trẻ hoạt động với đồ chơi thông qua các nội dung sau:
Tổ chức cho trẻ chơi qua hoạt động góc:
Chọn nội dung chơi ở các góc, nhu cầu sử dụng đồ chơi của trẻ như thế
nào hoặc góc chơi này nó liên kết với góc chơi kia bằng cách nào thông qua việc
sử dụng đồ chơi như thế nào để phát triển nội dung chơi. Vì vậy, muốn trẻ chơi
tốt giáo viên cũng cần phải hiểu được ý nghĩa của từng trò chơi để chuẩn bị đồ
Ví dụ: Ở chủ đề “Gia đình” góc chơi khám phá khoa học, đồ chơi các con
vật …trẻ chăm sóc các con vật. Sang chủ đề “Động vật” góc chơi xây dựng đồ
chơi các con vật cũng được trẻ sử dụng cho trang trại chăn nuôi các con vật ăn.
Song sang chủ đề nghề thì đồ chơi các con vật để chơi bán hàng….
Trẻ chơi trong góc xây dựng
Tổ chức cho trẻ chơi ở các hoạt động khác
Trong hoạt động học: Khi sử dụng đồ chơi tự tạo trong các tiết học của trẻ
thì tùy vào từng tiết học mà giáo viên lựa chọn, cũng như sắp sếp và đưa các đồ
chơi tự tạo vào cho trẻ hoạt động để có được kết quả tốt nhất.
Ví dụ: Trong tiết kể chuyện: “Hoa mào gà”. Giáo viên nên sử dụng các
con vật như gà, vịt, chó, hoa mào gà được làm từ các quả bóng, xốp, rơm,
len,...và kết hợp với các hoạt cảnh khác xắp xếp thành một mô hình đẹp, nói lên
được nội dung của câu chuyện. Giáo viên gợi ý cho trẻ tưởng tượng giao lưu nói
chuyện với gà, với cây hoa…từ đó giúp trẻ hiểu được nội dung câu chuyện một
cách hứng thú và sâu sắc nhất. Giáo viên gợi ý cho trẻ vẽ lên giấy các nhân vật
trong truyện sau đó tô màu và cắt dán để tạo thành những nhân vật rối ngón tay….
Kết quả:
Về nhận thức: Tất cả cán bộ giáo viên tham gia đều phấn khởi và
khẳng định sau hội thảo họ học tập được nhiều điều bổ ích về cách làm đồ
dùng học tập, đồ chơi để dạy trẻ. Phụ huynh mỗi khi đưa trẻ đến lớp tâm
trạng phấn khởi vì con họ được chơi với nhiều loại đồ dùng, đồ chơi phong
phú đa dạng hấp dẫn hơn.
Về số lượng: Chủng loại phong phú, đa dạng, đủ cho các hoạt động học
và chơi của trẻ.
Về chất lượng sản phẩm: Chất lượng đảm bảo tính thẩm mỹ, bền, đẹp,
có giá trị sử dụng, hình thức phong phú với nhiều thể loại khác nhau
Đồ dùng, đồ chơi đa dạng, phong phú
2.3.3. Phát động phong trào làm đồ dùng học tập đồ chơi cho trẻ từ các
nguyên, vật liệu dễ kiếm - đồng thời sử dụng có hiệu quả đồ dùng học tập, đồ
Đồ dùng đồ chơi phân vai và vận động:
325 bộ
Đồ dùng đồ chơi lắp ghép, xây dựng:
515 bộ.
2.3.4. Tổ chức làm đồ dùng học tập, đồ chơi tự tạo từ nguyên vật liệu
sẵn có ở địa phương.
Thực hiện kế hoạch nhiệm vụ năm học 2016 - 2017; Phòng Giáo dục và
Đào tạo huyện Hoằng Hoá đã tổ chức cho cán giáo viên thi “Đồ dùng học tập,
đồ chơi tự tạo” tham dự hội thi đồ dùng học tập, đồ chơi cấp huyện. Hội thi đã
được sự hưởng ứng và tham gia của cán bộ, giáo viên trong nhà trường, các cô
giáo đã sưu tầm nguyên vật liệu dễ kiếm, tận dụng bằng những vật liệu phế thải
để từ những đôi bàn tay khéo léo, óc sáng tạo của các cô đã đem đến cho hội thi
đồ dùng, đồ chơi đẹp mắt, sinh động, có giá trị sử dụng trong công tác giảng dạy
và vui chơi cho các cháu, làm đồ dùng học tập, đồ chơi tự tạo để phục vụ cho
việc dạy và học trong các nhà trường. Tôi xác định đây là một giải pháp quan
trọng để thực hiện tốt nhiệm vụ năm học và đáp ứng được yêu cầu đồ dùng học
tập, đồ chơi cho trẻ. Trên cơ sở phát động làm đồ dùng học tập, đồ chơi.
Sản phẩm trưng bày của giáo viên
Mặt khác yêu cầu đồ dùng học tập, đồ chơi dự thi phải đảm bảo nguyên
tắc:
- Đảm bảo tính giáo dục.
- Đảm bảo tính thẩm mỹ
- Đảm bảo vệ sinh an toàn cho trẻ
- Phải thỏa mãn được nhu cầu và ý muốn hoạt động tích cực trong khi học
tập và vui chơi của trẻ.
- Phải kết hợp hài hòa giữa đường nét, màu sắc, hình khối.
- Phải đạt tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn, bền chắc, có giá trị sử dụng.
Đồ dùng học tập, đồ chơi trưng bầy tại lễ phát thưởng năm học 2016-2017
mời lãnh đạo huyện, các ban ngành về dự, tham quan.
Bằng hình thức này chúng tôi đón nhận được sự ủng hộ nhiệt tình, những
dùng đồ chơi cho trẻ mà còn phụ thuộc nhiều vào đồ dùng đồ chơi mua sẵn.
Điều đó chưa kích thích được sự cố gắng, sáng tạo của giáo viên cũng như chưa
giúp cho trẻ tích cực, hứng thú cao khi tham gia vào các hoạt động.
2.3.5. Khai thác tiềm năng sẵn có từ các bậc phụ huynh, các lực lượng
xã hội trong việc tìm kiếm nguyên vật liệu ủng hộ nhà trường.
Đây là giải pháp quan trọng không thể thiếu được trong việc tìm kiếm, nâng
cao chất lượng làm đồ chơi cho trẻ bởi đây là một lực lượng lớn, nếu các trường
biết tận dụng và khai thác bằng nhiều hình thức thì sẽ thu về nguồn đồ chơi vô tận
Ý thức được điều này tôi đã chỉ đạo Ban giám hiệu tập trung cho 2 vấn đề:
Tuyên truyền cho các bậc phụ huynh và các lực lượng xã hội hiểu được tầm
quan trọng đồ chơi sẵn có ở địa phương để họ biết và thu gom giúp nhà trường.
Khai thác khả năng làm đồ chơi của các bậc phụ huynh .
Tuyên truyền cho các bậc phụ huynh và các lực lượng xã hội
Đối với công tác tuyên truyền:
11
Tùy từng đối tượng và thời gian cho phép cán bộ, giáo viên đưa ra các
nội dung tuyên truyền phù hợp, dể hiểu, có tính thuyết phục như đồ dùng
học tập đồ chơi giúp trẻ củng cố chương trình học, mở rộng sự hiểu biết về
cuộc sống xung quanh, hoàn thiện và rèn luyện các giác quan, năng lực ghi
nhớ, chú ý, óc quan sát tư duy và phát triển ngôn ngữ cho trẻ, nếu không có
đồ dùng học tập, đồ chơi cho trẻ học tập, vui chơi thì những nội dung trên sẽ
không đạt hiệu quả cao. Để có nguồn nguyên vật liệu làm đồ dùng học tập,
đồ chơi cho trẻ thì các bậc phụ huynh quyên góp các nguyên liệu mà hàng
ngày chúng ta thường gặp như: rơm, hộp chè, các loại bìa, vải, len, các loại
hột hạt, hạt vừng, hạt đỗ, mà nhà nông chúng ta sản xuất được đều có thể sử
dụng làm đồ dùng học tập, đồ chơi cho trẻ được. Tổ chức tuyên truyền trong
các cuộc họp phụ huynh, Hội khuyến học, Đoàn thanh niên, Phụ nữ và qua
các hoạt động khác như các hội thi: “Bé khỏe - Bé khéo tay”, hội thi “Đồ
12
nguồn lực đầu tư xây dựng trường mầm non, đảm bảo các điều kiện tốt nhất cho
các nhà trường hoạt động.
Cơ sở vật chất khang trang xanh, sạch, đẹp.
2.3.8. Tổ chức các hội thảo chuyên đề, hội nghị sơ kết, tổng kết:
Định kỳ hàng năm Phòng GD&ĐT tổ chức các hội thảo chuyên đề, sơ kết,
tổng kết, để qua đó giao lưu học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, đồng thời đánh giá,
khen thưởng các tập thể, cá nhân có nhiều cố gắng, sáng tạo trong công tác làm
đồ dùng, đồ chơi. Hơn thế, qua các hội thảo, hội nghị sơ kết, tổng kết chúng ta
xây dựng được phong trào thi đua trong lĩnh vực này, xây dựng được văn hóa
chất lượng từ mỗi nhà trường và toàn ngành giáo dục, góp phần thực hiện thành
công nhiệm vụ của ngành.
2.3.9. Vai trò của chuyên viên phụ trách công tác làm đồ dùng, đồ
chơi:
Liên tục cập nhật và nắm vững các văn bản về làm đồ dùng đồ chơi.
Thành thạo các kỹ năng máy tính để cập nhật thông tin
Tích cực tham gia các chuyên đề do Sở Giáo dục & Đào tạo tổ chức, từ đó
học hỏi kinh nghiệm của các huyện. Thường xuyên trao đổi kinh nghiệm với
Huyện bạn để nâng cao năng lực chuyên môn, tích lũy kinh nghiệm trong công
tác chỉ đạo và triển khai đến các trường mầm non để làm tốt hơn.
Tham mưu với lãnh đạo mở rộng mạng lưới cán bộ, giáo viên có năng lực
và năng khiếu về tạo hình, bổ sung cơ sở vật chất trang thiết bị cho các trường
mầm non, tham mưu bổ sung đội ngũ nhân viên còn thiếu… từ đó nâng cao chất
lượng giáo dục mầm non.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến:
Bằng sự nỗ lực của giáo viên, những cố gắng của đội ngũ cán bộ giáo viên
và qua công tác làm đồ dùng học tập, đồ chơi của nhà trường phục vụ cho việc
lượng
%
43
43
100
0
0
43
43
100
0
0
13
lượng, phong phú, hấp dẫn.
Số CBGV có ý thức sưu tầm
3 nguyên vật liệu để làm đồ dùng
780
97
21
3
3. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
3.1. Kết luận:
Việc tận dụng làm đồ dùng, đồ chơi tự tạo từ các nguyên vật liệu sẵn có ở
địa phương có ý nghĩa vô cùng to lớn trong giáo dục phát triển toàn diện cho trẻ:
Phát triển thể chất, phát triển nhận thức, phát triển ngôn ngữ, phát triển tình cảm
xã hội và phát triển thẩm mỹ, chính vì vậy nâng cao kiến thức kỹ năng làm đồ
dùng học tập, đồ chơi để có thật nhiều và đầy đủ cho trẻ học và chơi là một
việc làm cần thiết, bổ ích, là trách nhiệm của mỗi cán bộ giáo viên vì đồ dùng
học tập, đồ chơi là người bạn thân thiết, là “sách giáo khoa” giúp trẻ học làm
người. Hơn thế nữa đồ dùng học tập và đồ chơi còn có mối quan hệ chặt chẽ và
bổ trợ cho nhau: Đồ chơi trong một hoàn cảnh nhất định nào đó lại được sử
dụng làm đồ dùng học tập cho trẻ và giáo cụ trực quan cho giáo viên khi có nhu
cầu và ngược lại một số đồ dùng học tập có thể trở thành đồ chơi cho trẻ nếu
thấy phù hợp.
Ngày nay đồ dùng học tập, đồ chơi rất đa dạng và phong phú cùng với sự
phát triển của xã hội, của khoa học kỹ thuật thì đồ dùng học tập, đồ chơi cũng hoàn
thiện dần cùng với thời đại. Trong tương lai đồ dùng học tập, đồ chơi hiện đại sẽ
giúp trẻ tiếp cận với những tri thức tiên tiến nhưng tôi tin tưởng rằng với những đồ
dùng học tập, đồ chơi tự làm bằng các nguyên vật liệu sẵn có ở đia phương, nó vẫn
mãi được phát huy tác dụng và được trẻ tiếp nhận một cách hứng thú đồng thời
được phụ huynh đồng tình ủng hộ bởi nó mang phong cách riêng, tính sáng tạo
riêng, ý tưởng riêng, tình cảm riêng, của mỗi phụ huynh, của mỗi cô giáo và của