LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH - Pdf 63

LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH.
Các vấn đề chính trong chương này bao gồm:
- Các khái niệm về bảo lãnh.
- Phân loại và nội dung các loại hình bảo lãnh.
- Bảo lãnh ngân hàng trong nền kinh tế thị trường.
I. CÁC KHÁI NIỆM VỀ BẢO LÃNH.
1. Khái niệm về bảo lãnh và bảo lãnh ngân hàng.
Trước khi đưa ra khái niệm bảo lãnh trong ngân hàng, chúng ta hãy tìm hiểu
về bảo lãnh nói chung và khái niệm bảo lãnh một số lĩnh vực khác.
Bảo lãnh là một thuật ngữ được sử dụng từ lâu đời. Trong xã hội phong kiến
người ta đã biết đến khái niệm lý trưởng và những người có thế lực bảo lãnh cho tù
nhân trong thời gian thi hành án, cha mẹ bảo lãnh cho con... Sau đó bảo lãnh được
phát triển sang lĩnh vực dân sự và nhiều lĩnh vực khác của đời sống kinh tế xã hội.
Bảo lãnh được phân ra hai hình thức dựa vào tính chất và đối tượcg bảo lãnh là:
Bảo lãnh đối nhân và bảo lãnh đối vật.
-Bảo lãnh đối nhân: Được áp dụng chủ yếu với các quan hệ phi tài sản hình
sự, tố tụng hình sự, chế tài hành chính và quan hệ phi tài sản trong dân sự.
-Bảo lãnh đối vật: Được áp dụng trong quan hệ hợp đồng kinh tế và dân sự có
yếu tố tài sản. Đó chính là bảo lãnh, một trong các phương thức bảo đảm việc vi
phạm hợp đồng.
Trong pháp luật dân sự nước ta khái niệm bảo lãnh được nêu trong điều 366
Bộ luật Dân sự: “ Bảo lãnh là việc người thứ ba (gọi là người bảo lãnh) cam kết
với bên có quyền ( gọi là người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên
có nghĩa vụ( gọi là người được bảo lãnh), nếu khi đến hạn mà nguời được bảo lãnh
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ ...”.
Trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế: “ Bảo lãnh tài sản là sự bảo đảm bằng tài
sản thuộc quyền sở hữu của người nhận bảo lãnh để chịu trách nhiệm tài sản thay
cho người được bảo lãnh khi người này vi phạm hợp đồng kinh tế đã ký kết...”
Từ đó ta đưa ra khái niệm chung về bảo lãnh như sau:
“ Bảo lãnh là sự cam kết của người nhận bảo lãnh sẽ thực hiện đầy đủ các
nghiã vụ và quyền lợi nếu người xin bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không

cầu mới.
- Về thương mại: Xã hội loài người đã trải qua các hình thức sản xuất tự cung
tự cấp và sản xuất hàng hoá. Sản xuất hàng hoá ra đời tạo ra bước nhảy vọt trong
đời sống, kinh tế và tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của thương mại. Thương
mại ra đời từ sự phân công lao động xã hội, chuyên môn hoá sâu và lợi thế so sánh
giữa các vùng,các doanh nghiệp và các quốc gia. Khi nền kinh tế phát triển, thương
mại phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu đặc biệt với xu hướng hoà nhập tham
gia vào phân công lao động khu vực và thế giới. Sự phát triển của thương mại làm
tăng số lượng,giá trị và tốc độ các giao dịch của doanh nghiệp làm các giao dịch
vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia.
- Về tín dụng: Tín dụng ra đời do nhu cầu chu chuyển vốn trong nền kinh tế
giữa những nơi thừa và thiếu tương đối. Thương mại phát triển kéo theo sự cạnh
tranh ngày càng gay gắt giữa các doanh nghiệp trên mọi lĩnh vực. Để đổi mới sản
phẩm, công nghệ đáp ứng thị trường vốn trở nên cực kỳ quan trọng. Tín dụng khi
đó không chỉ bao gồm quan hệ cung ứng vốn giữa các tổ chức trong một nước mà
còn giữa các nước,các khu vực trên nhiều lĩnh vực nhưng chủ yếu là thương mại
với nguyên tắc hoàn trả vốn gốc và một phần lãi nhất định. Điều kiện cơ bản trong
tín dụng là hoàn trả có nghĩa rằng người cho vay có thể thu hồi vốn và lãi sau một
thời hạn nhất định. Ngược lại, người cấp tín dụng sẽ phải đối mặt với rủi ro tín
dụng nếu người vay không hoàn trả đúng yêu cầu. Rủi ro này càng lớn khi tín dụng
được thực hiện ở phạm vi ngoài quốc gia.
Sự phát triển của thương mại và tín dụng dẫn tới:
+ Sự thiếu hụt thông tin và do đó là sự thiếu tín nhiệm bạn hàng: Giao dịch
diễn ra với đặc điểm tăng về số lượng, phức tạp hơn trong thời gian dài và trên
phạm vi toàn cầu.Quá trình kinh doanh diễn ra với tốc độ chóng mặt, do vậy trong
cùng một lúc một doanh nghiệp phải giao dịch với rất nhiều bạn hàng khác nhau.
Họ thiếu thông tin về các bạn hàng cũng như đối thủ cạnh tranh. Sự thiếu hụt
thông tin có thể dẫn tới rủi ro về đạo đức do bạn hàng không đáp ứng các hợp đồng
đã ký kết. Hoặc nếu họ có thể tìm hiểu được thông tin thì việc tranh thủ cơ hội kinh
doanh và các chi phí phải bỏ ra ngăn cản họ thực hiện điều này. Mâu thuẫn nảy

theo nguyên tắc hoàn trả vốn và một khoản lãi nhất định. Đây là hình thức tín dụng
truyền thống và chiếm tỷ trong lớn nhất trong các hoạt động sử dụng vốn của hầu
hết cá ngân hàng.
- Tín dụng chữ ký:
+ Tín dụng chấp nhận :là việc khác hàng phát hành một hối phiếu trong đó
ngân hàng đóng vai trò là người thụ lệnh. Khách hàng dùng hối phiếu này chiết
khấu ở ngân hàng khác để nhận tiền. Trước khi hối phếu này đến hạn thanh toán,
khách hàng phải thanh toán cho ngân hàng để ngân hàng chi trả cho ngân hàng
chiết khấu. Trong quan hệ này ngân hàng cho mượn uy tín của mình để khách hàng
được vay vốn.
+Tín dụng chứng từ: Ngân hàng cấp tín dụng chứng từ cho khách hàng là
người nhập khẩu, người thụ hưởng là người xuất khẩu nước ngoài. Với hình thức
này ngân hàng cam kết trả tiền khi người xuất khẩu giao hàng và xuất trình những
giấy tờ đúng theo cam kết trong thư tín dụng.
Bảo lãnh ngân hàng: Cũng được coi là một hình thức tín dụng bằng chữ ký.
Ngân hàng không phải xuất vốn ngay mà chỉ phát hành thư bảo lãnh bảo đảm chi
trả cho người thụ hưởng nếu người được ngân hàng bảo lãnh vi phạm hợp đồng ký
kết với người thụ hưởng.
* Về pháp luật: ở một số nước bảo lãnh được thực hiện bởi các công ty bảo
hiểm như ở Mỹ và Canada. Song phần lớn các quốc gia trên thế giới nghiệp vụ này
ngân hàng được phép thực hiện.
Như vậy sự ra đời và tồn tại của bảo lãnh ngân hàng là khách quan và cần
thiết.
2.2.Sự phát triển của bảo lãnh ngân hàng:
Nếu như thư tín dụng đã được các ngân hàng sử dụng rông rãi từ những năm
30 thì bảo lãnh ngân hàng mới chỉ ra đời và phát triển vào đầu thập niên 70 của thế
kỷ này. Sự phát triển nhanh chóng của các quốc gia sản xuất dầu hoả ở Trung Đông
trong thời gian này cho phép họ ký kết những hợp đồng lớn với các công ty
phương Tây cho những dự án lớn như cải tiến cơ sở hạ tầng, các tiện ích công
cộng, dự án công nông nghiệp và quốc phòng. Nguồn gốc phát sinh nhu cầu bảo

Bảo lãnh còn đưởc sử dụng rộng rãi trong trị trường nội địa do tính đa dạng
và năng động của nó. Bảo lãnh không chỉ hỗ trợ cho các hợp đồng thương mại mà
cả các giao dịch phi thương mại, tài chính, phi tài chính như: bảo lãnh thanh toán,
hoàn trả tiền ứng trước, thực hiện hợp đồng, bảo lãnh thuế quan...
Bảo lãnh không chỉ được thực hiện như một loại hình dịch vụ mà còn là một
công cụ tài trợ cho các doanh nghiệp. Cùng với tín dụng chứng từ, bảo lãnh là một
trong những loại hình giao dịch thông dụng và phổ biến nhất trong các hoạt động
ngân hàng trên thế giới.
3. Các yếu tố trong bảo lãnh:
3.1. Các bên trong bảo lãnh:
Một giao dịch bảo lãnh bao giờ cũng liên quan tới ba bên: Bên bảo lãnh, bên
được bảo lãnh(bên chỉ thị) và bên thụ hưởng.Quan hệ giữa các bên quy định bởi ba
hợp đồng độc lập trong đó thư bảo lãnh ngân hàng chỉ là hợp đồng giữa ngân hàng
và bên thụ hưởng bảo lãnh.
*Bên bảo lãnh: Dùng uy tín của mình đứng ra cam kết chịu trách nhiệm thay
trong trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện đúng hợp đồng. Trong bảo
lãnh ngân hàng,bên bảo lãnh là các ngân hàng phát hành bảo lãnh.
* Bên được bảo lãnh (bên chỉ thị bảo lãnh): Bên được ngân hàng cam kết trả
thay nếu vi phạm hợp đồng.
*Bên thụ hưởng: Được ngân hàng thanh toán khi có yêu cầu do bên được bảo
lãnh vi phạm hợp đồng.
Các hợp đồng liên quan:
- Hợp đồng cơ sở giữa bên được bảo lãnh và bên thụ hưởng.
- Hợp đồng bảo lãnh giữa bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh.
- Thư bảo lãnh của ngân hàng là hợp đồng giữa ngân hàng- bên bảo lãnh với
bên thụ hưởng.
Bảo lãnh thanh toán theo yêu cầu đầu tiên hay bảo lãnh yêu cầu được sử dụng
thông dụng và mang đầy đủ nhất các đặc điểm, chức năng bảo lãnh(sẽ được trình
bày ở dưới đây). Do vậy, chúng ta sẽ tìm hiểu trách nhiệm của ngân hàng bảo lãnh
theo Quy tắc thống nhất của Phòng Thương Mại Quốc Tế ICC, UCPsố 458 về bảo

chiến, khởi nghĩa, chiến tranh hoặc bất kỳ nguyên nhân nào ngoài sự kiểm soát của
mìnhhoặc đình công đóng cửa các hoạt động công nghiệp mang tính khách quan.
- Bên bảo lãnh chỉ có trách nhiệm đối với bên thụ hưởng theo các quy định ghi
trong bảo lãnh và các văn bản sửa đổi kèm theo quy tắc này số tiền không quá như
đã quy định trong bảo lãnh hoặc các văn bản sửa đổi kèm theo.
Trong khi trên thế giới chưa có một luật pháp quốc tế nào điều chỉnh quan hệ
bảo lãnh(Công ước Liên Hợp Quốc về các bảo lãnh độc lập và thư tín dụng dự
phòng đã soạn thảo nhưng chưa áp dụng) thì UCP 458 là một văn bản tương đối
hoàn thiện. Việc nghiên cứu và dẫn chiếu theo quy tắc này sẽ tránh được rủi ro do
không nắm được luật pháp của các bên đối tác.
3.2. Nội dung thư bảo lãnh của ngân hàng:
Phát hành thư bảo lãnh chỉ là một trong các hình thức bảo lãnh của ngân hàng
mà ta sẽ xem xét ở phần dưới.Tuy nhiên đây là hình thức thông dụng nhất. Thông
qua thư bảo lãnh chúng ta có thể hiểu rõ hơn một số khái niệm cũng như nghiệp
vụ bảo lãnh ngân hàng.
Theo Điều 3 UCP 458, các bảo lãnh đều phải quy định:
- Bên chỉ thị
- Bên thụ hưởng
- Bên bảo lãnh
- Hợp đồng cơ sở yêu cầu phát hành bảo lãnh
- Số tiền lớn nhất được thanh toán và loại tiền thanh toán
- Ngày hoặc sự kiện đáo hạn của bảo lãnh
- Các điều kiện đòi thanh toán
- Các điều khoản khấu trừ bảo lãnh nếu có
Một thư bảo lãnh thường bao gồm những nội dung sau:
*Tên, địa chỉ người nhận
*Phần mở đầu:
- Các thành viên tham gia hợp đồng, số hợp đồng, ngày ký hợp đồng.
- Tên hàng, giá trị hàng (công trình).
- Mục đích bảo lãnh: Khẳng định việc thiết lập thư bảo lãnh ngân hàng như đã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status